1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Y khoa - Dược >

Phân bố đối tợng nghiên cứu theo giới tính. Phân bố đối tợng nghiên cứu theo thời gian phát hiện bệnh Phân bố đối tợng nghiên cứu theo tiền sử gia đình Phân bố đối tợng nghiên cứu theo nghề nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.05 MB, 100 trang )


Qua bảng 3.1 chúng tôi nhận thấy trên tổng số 62 bệnh nhân tăng huyết áp có độ tuổi trung bình 62,11, trong đó gặp chủ yếu ở những bệnh nhân trên 50
tuổi chiếm 88.7, 50 - 59 chiếm 40,3, ít gặp nhất ở độ tuổi 40 - 49 chiếm
11,3, không có trờng hợp nào tuổi dới 40. Tỷ lệ phân bố của các độ tuổi giữa hai nhóm không có sự khác biệt với p 0,05.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác khi nghiên cứu về tình hình dịch tễ bệnh THA ở Việt Nam.
Đỗ Trần Trinh 1992 ®iỊu tra dÞch tƠ häc bƯnh THA cho thÊy tû lệ mắc bệnh tăng dần theo lứa tuổi, ở lứa tuổi trên 70 thì tỷ lệ này lên tới 47,7 .
Trong đó
THA tại nội thành thấy tỷ lƯ bƯnh nh©n THA cã løa ti tõ 65 tuổi trở lên chiếm tới 90 [63].
Kết quả này cũng phù hợp với y văn cổ, Lý Đông Viên cho rằng tuổi từ 40 trở lên, nguyên khí đã suy, bản khí tự bệnh, béo phì, kèm lo nghĩ phiền uất
càng hại đến nguyên khí mà phát bệnh. Lứa tuổi trên 50 tuổi đợc xác định là có nguy cơ cao của bệnh THA, tỷ lệ mắc bệnh ở lứa tuổi này chiếm tới 20,2
[7]. Theo kết quả nghiên cứu của Trần Nguyệt Hồng 1993 thì tỷ lệ bƯnh
THA ë løa ti trªn 50 chiÕm 83 trong tổng số những bệnh nhân THA [22]. Phạm Gia Khải và cộng sự 1999 nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học
bệnh THA tại Hà Nội thấy có 53,1 ngời trên 65 tuổi bị THA [28]. Phạm Thị Kim Lan 2002 khi nghiên cứu các yếu tố nguy cơ của ngời
của ngời THA tại Hà Nội thấy tỷ lệ bệnh nhân THA có lứa tuổi 65 trỏ lên chiểmtên 90[36]
Nh vậy, bệnh tăng huyết áp và chứng huyễn vựng có liên quan đến độ tuổi, tuổi càng cao tì tỷ lệ măc bệnh càng lớn phù hợp với cách tính thiên quý
của YHCT

4.1.2. Phân bố đối tợng nghiên cứu theo giới tính.


Qua bảng 3.2 trong 62 bệnh nhân tăng huyết áp, số bệnh nhân nam chiếm đa số với 45 ngời, chiếm 72,6, số bệnh nhân nữ có 17 ngời, chiếm
27,4 điều này phù hợp với nghề nghiệp của bệnh nhân vì nơi chúng tôi tiến
hành nghiên cứu là viện quân đội . Tỷ lệ này giữa hai nhóm không có sự khác biệt với p 0,05.
Phạm Gia Khải và cộng sự và cộng sự 1999 khi nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học Bệnh THA tại Hà Nội thấy tỷ lệ THA ở nam là 17,99, nữ là
14,51[28].

4.1.3. Phân bố đối tợng nghiên cứu theo thời gian phát hiện bệnh


Qua bảng 3.3 cho thấy trên tổng số 62 bệnh nhân phát hiện tăng huyết áp từ 1- 5 năm chiếm 50, trên 5 năm chiếm 43,5, còn lại dới 1 năm chiếm
6,5 và tỷ lệ này giữa 2 nhóm không có sự khác biệt với p 0,05. Kết quả này phù hợp với Trần Thị Hồng Thuý khi nghiên cứu tác dụng
điều trị của địa long trên những bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát độ I,II thấy rằng 71 bệnh nhân phát hiện bệnh trong vòng 5 năm, trên 5 năm chiếm
28,9[59].

4.1.4. Phân bố đối tợng nghiên cứu theo tiền sử gia đình


Với bảng 3.4 ta thấy số bệnh nhân có trong gia đình có ngời mắc bệnh tăng huyết áp chiếm 64.5, số bệnh nhân có trong gia đình không có ngời mắc
bệnh tăng huyết áp chiếm 35,5 trên tổng số 62 bệnh nhân. Tỷ lệ này giữa hai nhóm không có sự khác biệt với p 0,05.
Kết quả này phù hợp với Vũ Đình Hải với số bệnh nhân trong gia đình có ngời mắc bệnh chiếm tỷ lệ cao [15]. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định
bệnh tăng huyết áp mang yếu tố gia đình. Điều này cũng giúp cho công tác tuyên truyền phòng bệnh, phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời bệnh tăng
huyết áp trong cộng đồng.

4.1.5. Phân bố đối tợng nghiên cứu theo nghề nghiệp


Qua bảng 3.5 cho thấy tỷ lệ nhân dân chiếm 30,6 , cán bộ chiếm 69,4 trong tổng số bệnh nhân nghiên cứu ở bảng 3.5 cho thấy lao động trí óc luôn bị
căng thẳng thần kinh hay bị Stress là điều kiện thuận lợi cho tăng huyết áp. Kết
quả này phù hợp với Đặng Vạn Phớc, Trơng Quang Nhơn, Phạm Nguyễn Vinh, Phạm Văn Phúc và cộng sự: Bệnh nhân có nghề nghiệp lao động trí óc bị tăng
huyết áp chiếm tỷ lệ 60 [43]. Tỷ lệ này càng sáng tỏ quan niệm của y học cổ truyền là khi có căng thẳng về mặt tinh thần làm rối loạn thần chí làm uất hoá
hoả gây tổn thơng đến can âm làm can dơng thăng động mà tạo thành chứng huyễn vựng. Vấn đề sẽ đợc giải quyết khi ta can thiệp kịp thời để can dơng
không vợng lên cũn có nghĩa là tuyên tryuền cho ngời bệnh và cộng đồng biết tự điều chỉnh khi quá giận dữ, uất ức, căng thẳng

4.1.6. Phân bố đối tợng nghiên cứu theo quá trình điều trÞ


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (100 trang)

×