1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Y khoa - Dược >

Kü thuËt ch©m

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.05 MB, 100 trang )


Tác dụng: Tiết can hoả, lơng huyết thanh nhiệt, dập tắt phong dơng, sơ khí trệ.
ứng dụng của nó đã đợc nghi rõ theo Lê Quý Ngu tả huyệt này trong tr- ờng hợp can khí hữu d mà sinh ra các chứng: hay gắt gỏng, phát cáu, nổi
khùng. Theo kinh nghiƯm cđa Soulie’ de Morant “Hµnh gian lµ vinh hut cđa kinh can, vinh chđ vỊ m×nh nãng, huyệt này trị chứng đau đầu do can hoả gây
ra có hiệu quả rất tốt [40].
Hành gian thuộc kinh can mà kinh này liên quan Biểu đồ lý với đởm kinh, đi vùng tai do đó chữa đau đầu, ù tai,do đó mà điều trị đợc chứng huyễn
vựng. Mặt khác, tạng can khai khiếu ra mắt làm mắt đỏ, thực hoả bốc lên trên
gây ra mặt đỏ khi châm Hành gian sẽ làm giảm các triệu chứng trên nên có tác dụng điều trị chứng huyễn vựng.
Đặc biệt khi châm Rãnh hạ áp bằng hào châm chúng tôi đã khai thác triệt để tác dụng của nó. Châm loa tai ngoài cơ chế chung là điều hoà thần kinh và
nội tiết mà còn có mối quan hệ giữa các tạng phủ của cơ thể với các điểm giải phẫu trên loa tai. Theo Nogier khi cơ thể có bệnh thì các điểm tơng ứng trên loa
tai có thể thay đổ về phơng diện sinh vật. Tác động vào điểm này có khả năng gián tiếp tác động vào cơ quan bị bệnh để điều hoà chúng lập lại thế cân bằng
ban đầu. Sách Linh Khu thiên Khẩu vấn có viết tai là nơi hội tụ của các động mạch, chỉ rõ các bộ phận của tai có liên quan mật thiết với kinh mạch
toàn thân mạch [11]. Tai thông với 12 đờng kinh trong cơ thể, trực tiếp thông đạt với đởm kinh, can kinh, đại trêng kinh Nh
… vËy, cã thÓ xem tai nh một yếu
điểm đồng qui của kinh lạc. Kiều Xuân Dũng cũng dùng phơng pháp này với các huyệt: Rãnh hạ áp,
Điểm thần môn điều trị hạ cơn tăng huyết áp sau khi châm trung bình cộng của huyết áp hạ 12,7[10].

4.2.2. Kỹ thuật châm


Dùng tả pháp các huyệt: Hợp cốc, Hành gian, Rãnh hạ áp, chúng tôi đã thực hiện theo nguyên tắc điều trị của y học cổ truyền là: h thì bổ, thực thì tả.
Thể Can dơng thợng cang là thực chứng phải dùng tả pháp để bình can tiềm d-
ơng. So sánh với các phác đồ huyệt của các tác giả khác nh:
Trần Thuý, Phạm Duy Nhạc, Hoàng Bảo Châu đã sử dụng công thức huyệt: Đầu duy, Xuất cốc, Phong trì, Bách hội, ấn đờng, Thái dơng, Hành gian,
Can du, Thái Khê, Quan nguyên, Thận du, Túc Tam lý, Phong long, Khí hải, Thần môn, Tam ©m giao [18]
Lu H¸n Ng©n ch©m c¸c hut: Th¸i xung, Phong trì, Thái khê, Khúc trì, Nội quan, Tam âm giao.
Trần Thuý, Trần Quang Đạt sử dụng các huyệt trên loa tai: điểm hạ áp, giao cảm, thần môn, tâm [55].
Trần Văn Kỳ dùng các huyệt: Phong trì, Khúc trì, Túc tam lý, Thái xung [18].
Lu Thị Hiệp dùng các huyệt Thái xung, Hành gian, Phong trì, Thái dơng [20].
Nh vậy, có nhiều phác đồ huyệt đã từng đợc sử dụng để điều trị THA có hiệu quả. Các tác giả trên đều giống chúng tôi ở chỗ đạt tác dụng hạ huyết áp
nhng khác ở chỗ số lợng huyệt của chúng tôi ít hơn. Châm ít huyệt mà vẫn đạt đợc tác dụng điều trị sẽ tốt cho những bệnh nhân sợ châm nhiều kim, nhất là với
những bệnh nhân thể can dơng thợng cang.
4.3. Về tác dụng điều trị. 4.3.1. Sự biến đổi một triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân trớc, sau điều trị.
Qua bảng 3.8 cho thấy + Đau đầu, hoa mắt, chóng mặt: Cả 2 nhóm các triệu chứng này đều
giảm ngay từ sau 15đầu, nhng giảm nhiều ở 30, 2h tơng ứng với mức giảm của chỉ số huyết áp, sau 24h các triệu chứng trên có xu hớng giảm ít hơn tuy
nhiên cũng giảm hơn so với trớc điều trị, sự thay đổi cã ý nghÜa thèng kª víi p 0,001.
+ Bùc dọc khó chịu, mặt đỏ: Gặp ở tất cả các bệnh nhân nghiên cứu và cũng giảm ngay sau 15điều trị, giảm nhiều trong 30, và hết hẳn sau 2giờ
những thay đổi này có ý nghĩa thống kê với p 0,001. Sau 24h các triệu chứng
trên có xu hớng giảm ít hơn tuy nhiên cũng giảm hơn so với trớc điều trị sự thay đổi có ý nghĩa thống kê với p 0,001.
Mạch huyền sác có ở tất cả các bệnh nhân, và sau điều trị là mạch huyền. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của các tác giả: Đỗ Bá
Quang khi nghiên cứu 100 bệnh nhân tăng huyết áp thể Can hoả vợng sau điều trị số bệnh nhân đâu đầu giảm 94, mạch huyền sác sau điều trị là mạch
huyền[44]. Trần Thuý, Lê Thị Thanh Nhạn, Nguyễn Văn Thuỷ, Đỗ Thị Thanh Hiền, Nguyễn Tài Thu, Dơng Trọng Hiếu và cũng giống nh
sách cổ y học cổ
truyền đã nêu nằm trong chứng Huyễn vựng thể Can dơng thợng cang với các triệu chứng điển hình là đau đầu, hoa mắt, chóng, đặc biệt là bực tức khó chịu
đó là can dơng đang vợng, dùng hào châm với pháp bình can tiềm dơng đã có kết quả tốt sự giảm các triệu chứng chứng tỏ tác dụng của nó mặt khác hào
châm có thể làm giảm đợc các triệu chứng bệnh nguồn gốc của bệnh là do rối loạn chức năng của tạng Can thận can âm không đủ can dơng thăng động mà
gây ra bệnh. Điều trị bằng hào châm trên huyệt có tác dụng điều khí lập lại cân bằng âm dơng nên có thể điều trị bệnh, đơng đơng với hạ cơn tăng huyết áp của
YHHĐ Qua điều trị các triệu chứng cơ năng giảm rõ rệt, điều này có ý nghĩa rất
lớn trong công tác dự phòng. Đây là triệu chứng mà ngời bệnh dễ dàng cảm nhận đợc và sự nhẹ nhàng dần trở lại thay thế những bực dọc khó chịu, cảm
giác tròng trành cũng không còn và đỡ hẳn đau đầu làm bệnh nhân nh khỏi bệnh Dựa vào đây thầy thuốc chúng ta sẽ khuyên bệnh nhân giảm căng thẳng
thần kinh không đáng có biết tự kìm chế mình, tự điều chỉnh theo hớng có lợi vì
khi đã hiểu ngời bệnh có thể làm đợc. Qua đây càng chứng tỏ rằng Can dơng sẽ vợng lên khi tình chí bị rối loạn uất quá sẽ hoá hoả gây tổn hại đến Can âm,
phần âm bị tiêu hao đi phần dơng thăng động mà thành chứng Huyễn vựng.
Khi hỏi bệnh phần lớn những bệnh nhân tới khám bệnh trong tình trạng tâm lý có vấn đề bức xúc, xúc động quá, giận dữ ai càng giải thích điều kiện
thuận lợi kiến bệnh phát ra.

4.3.2. Thay đổi tần số mạch trớc và sau điều trị


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (100 trang)

×