1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Y khoa - Dược >

Thay đổi tần số mạch trớc và sau điều trị Thay đổi chỉ số huyết áp trớc và sau điều trị 1. Huyết áp tâm thu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.05 MB, 100 trang )


khi đã hiểu ngời bệnh có thể làm đợc. Qua đây càng chứng tỏ rằng Can dơng sẽ vợng lên khi tình chí bị rối loạn uất quá sẽ hoá hoả gây tổn hại đến Can âm,
phần âm bị tiêu hao đi phần dơng thăng động mà thành chứng Huyễn vựng.
Khi hỏi bệnh phần lớn những bệnh nhân tới khám bệnh trong tình trạng tâm lý có vấn đề bức xúc, xúc động quá, giận dữ ai càng giải thích điều kiện
thuận lợi kiến bệnh phát ra.

4.3.2. Thay đổi tần số mạch trớc và sau điều trị


Qua bảng 3.9 ta thấy sau điều trị qua các thời gian 15, 30, 2h, 24h tần số mạch ở cả hai nhóm đều giảm so với trớc điều trị. ở nhóm 1 tần số mạch tr-
ớc điều trị là 83,54 3,89, sau15điều trị là78,77 3,65 giảm đ
ợc 4,77
nhịpphút, sau30 điều trị là76,64 3,64 giảm đ
ợc 6.9 nhịpphút, sau 2h điều trị là 76,09 giảm đợc 7,45 nhịpphút, sau 24h điều trị là 78,70 giảm đợc 4,84
nhịpphút, so với trớc điều trị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p 0,001,
không có sự khác biệt giữa hai nhóm p 0,05. Tần số mạch giảm tơng đồng với y học cổ truyền mạch của bệnh nhân từ
huyền sác, sau thời gian điều trị chuyển sang huyền chứng tỏ can hoả đã bớt. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Minh Hiền khi dùng điện
châm điều trị 39 bệnh nhân tăng huyết áp độ I, II, trớc điều trị mạch 77,64 nhịp phút, sau điều trị là 72,9 nhịpphút, giảm 4,67 nhịpphút [18] và của Đỗ Bá
Quang nghiên cứu 100 bệnh nhân tăng huyết áp thể can dong hoả vợng sau điện châm mạch giảm đối với nam là 4,8 nhịpphút, đối với nữ 7,8 nhịpphút [44].
4.3.3. Thay đổi chỉ số huyết áp trớc và sau điều trị 4.3.3.1. Huyết áp tâm thu
Qua bảng 3.10 cho thấy: Ngay sau điều trị 15 HATT đã giảm đáng kể, 15,09 mmHg ë nhãm 1 vµ
13,39 mmHg ë nhãm 2 cho ta thấy tác dụng rất nhanh của hào châm và cũng thấy tác dụng của Nifedpine uống ở 15 đầu.
Sau 30 HATT tiếp tục giảm ở nhóm 1 giảm đợc 17,93 mmHg, ở nhóm 2 giảm đợc 18,19 mmHg, hµo ch©m vÉn tiÕp tơc ph¸t huy t¸c dụng còn
Nifedipine tác dụng cũng đang ë møc cao.
Sau 2h HATT gi¶m nhÊt, ë nhãm 1 giảm đợc 18,54 mmHg, hào châm vẫn còn phát huy tác dụng, tuy có chậm hơn so với ở khoảng 30 trớc đó ở
nhóm 2 giảm đợc 19,39 mmHg Nifedipine tác dụng cũng đang ở mức cao nhất. Sau điều trị 24h HATT so với trớc điều trị, ở nhóm 1 giảm đợc 10,09
mmHg, nhóm 2 giảm đợc 9,65 mmHg. So với các khoảng thời gian trớc đó HATT có xu hớng giảm ít hơn nhng sự chênh lệch vẫn có ý nghĩa thống kê với
p 0,001 và giữa hai nhóm không có sự khác biệt với p 0,05. Thấy rõ qua bảng 3.10, Biểu đồ 3.10 và bảng 3.25.
Kết quả của chúng tôi phù hợp với Nguyễn Bá Quang khi điều trị 100 bệnh nhân tăng huyết áp thể Can hoả vợng bằng điện châm với kết quả sau 1 lần
điện châm HATT giảm 10,8 mmHg [44]. Kết quả này cũng tơng đơng với kết quả điều trị của Đỗ Minh Hiền khi dùng điện châm điều trị tăng huyết áp, sau 1
lần châm HATT giảm 16,36 mmHg [18]. Và cũng phù hợp với nghiên cứu của Kiều Xuân Dũng khi điều trị tăng huyết áp cho 40 bệnh nhân bằng châm loa tai
huyết áp trung bình công giảm 12,4 [10]. 4.3.3,2 Huyết áp tâm trơng
Ngay sau điều trị 15 HATTr đã giảm 5,39 mmHg ở nhóm 1 vµ 5,41 mmHg ë nhãm 2 cho ta thÊy tác dụng hạ huyết áp tâm trơng của hào châm cũng
tơng đơng với tác dụng của Nifedpine uống ở 15 đầu. Sau 30 HATTr giảm ở nhóm 1 giảm đợc 7,29 mmHg, ở nhóm 2 giảm đ-
ợc 7,67 mmHg, điều trị bằng hào châm tại các huyệt vẫn tiếp tục phát huy tác dụng còn Nifedipine tác dụng cũng ®ang ë møc cao.
Sau 2h HATTr ë nhãm 1 vÉn đợc duy trì nh ở khoảng 30giảm 7,23 mmHg so với trớc điều trị, tác dụng của hào châm đang ở mức duy trì không
giảm thêm, nhng ở nhóm 2 giảm đợc 8,74 mmHg HATTr giảm ở mức cao nhất. 73
Sau 24h HATTr có xu hớng giảm ít dần, ở nhóm 1 giảm đợc 4,33 mmHg, nhóm 2 giảm đợc 4,9 mmHg.
So với trớc điều trị, HATTr sau điều trị qua các khoảng thời gian 15 phút, 30phút, 2h, 24h đều giảm ở cả hai nhóm bệnh nhân, sự chênh lệch này có ý
nghĩa thống kê với p 0,001 và giữa hai nhóm không có sự khác biệt với p
0,05. Thấy rõ qua bảng 3.11, Biểu đồ 3.11 và bảng 3.25, so với huyết áp tâm sau điều trị HATT hạ nhiều hơn HATTr.
Kết quả của chúng tôi phù hợp với với kết quả nghiên cứu của: Trần Thuý, Kiều Đình Khoan, Đỗ Thị Minh Tâm và cộng sự với Nghiên cứu tác
dụng của bài chè hạ áp trên 60 bệnh nhân thấy rằng sau điều trị huyết áp tâm thu và tâm trơng đều hạ nhng huyết áp tâm thu giảm nhiều hơn[56]; Trần Thị
Lan Sơ bộ nhận xét điều trị tăng huyết áp nguyên phát độ I, II bằng phơng pháp khí công dỡng sinh thấy rằng sau điều trị HATT và HATTr đều giảm
nhng HATT giảm nhiêu hơn HATTr [35] và cũng phù hợp Nguyễn Bá Quang khi điều trị 100 bệnh nhân tăng huyết áp thể Can hoả vợng bằng điện châm với
kết quả sau 1 lần điện châm HATTr từ 92,12 6,8 mmHg sau điều trị là 88,4
6,3 giả
m 3,72 mmHg[44]. Kết quả này cũng tơng đơng với kết quả điều trị của Đỗ Minh Hiền khi dùng điện châm điều trị tăng huyết áp, sau 1 lần châm
HATT giảm 8,11 mmHg[18].
4.3.3.3. Huyết áp trung bình Qua bảng 3.12 cho thấy
Ngay sau điều trị 15 HATB từ 114,86 4,28 mmHg hạ xuống 106,23
5,13 mmHg đã gi¶m 8,26 2,18 mmHg so víi tr ±
± ớc điều trị ở nhóm 1 và từ
115,39 3,55 hạ xuống 107,32 giảm 8,07 1.51 ở nhãm 2 cho ta thÊy t¸c ±
± dơng rÊt nhanh của hào châm và cũng thấy tác dụng của Nifedpine uống ở 15
đầu. 74
Sau 30 HATB tiếp tục giảm ở nhóm 1 giảm đợc 10,83 2,61 mmHg, ở
nhóm 2 giảm đợc 11,8 1,91mmHg, hào châm vẫn tiếp tục phát huy tác dụng
còn Nifedipine tác dụng cũng đang ở mức cao. Sau 2h HATB giảm nhất, ở nhóm 1 giảm đợc11.0 2.63 mmHg, hào
châm vẫn còn phát huy tác dụng, tuy có chậm hơn so với ở khoảng 30 trớc đó ở
nhóm 2 giảm đợc 12.29 2.10 mmHg Nifedipine tác dụng cũng đang ở mức
cao nhất. Sau 24h HATB có xu hớng giảm ít dần, ở nhóm 1 giảm đợc 9,06 2,34
mmHg, nhóm 2 giảm đợc 9,73 2.13 mmHg.
Tóm lại, so với trớc điều trị, HATB sau điều trị qua các khoảng thời gian
15 phút, 30phút, 2h, 24h đều giảm ở cả hai nhóm bệnh nhân, sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê với P 0,001 và giữa hai nhóm không có sự khác biệt với P
0,05. Thấy rõ qua bảng 3.12, Biểu đồ 3.12 và bảng 3.25.
Trong 15, 30 đầu HATB cả 2 nhóm so với trớc điều trị giảm tơng nhau P 0,05, trong khoảng từ 30’- 2h HATB cđa nhãm 2 gi¶m nhiỊu. HATB gi¶m
nhiỊu nhất ở khoảng 2h nhóm 2, khi đó HATB ở nhóm 1 đang giữ ở mức duy trì, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê P 0,05.
Sau 24h, HATB cã xu híng gi¶m Ýt hơn so trớc với các khoảng thời gian trớc đó, nhng so với trớc điều trị HATB vẫn giảm đáng kĨ, sù chªnh lƯch cã ý
nghÜa thèng kª víi P 0,001. Điều này nói nên hào châm có tác dụng nhanh, mạnh trong vòng từ 15 đến 2h, còn ở nhóm 2 HATB hạ nhất ở khoảng 2h, tơng
ứng với tác dụng của thuốc. Kết quả của chúng tôi phù hợp với Nguyễn Bá Quang khi điều trị 100
bệnh nhân tăng huyết áp thể Can hoả vợng bằng điện châm với kết quả sau 1 lần điện châm HATB từ 114,5 7.1 tr
ớc điều trị 108,8 5.1 sau điều trị, giảm 5,7
mmHg[44].
Kết quả này cũng tơng đơng với kết quả điều trị của Đỗ Minh Hiền khi dùng điện châm điều trị tăng huyết áp, sau 1 lần châm HATB giảm 9,57
mmHg[18] và cũng phù hợp với nghiên cứu của Kiều Xuân Dũng khi điều trị tăng huyết ¸p cho 40 bƯnh nh©n b»ng ch©m loa tai[10] nhng cha tác giả nào đề
cập tới những thay đổi của huyết áp cụ thể sau các khoảng thời gian 15, 30,
2h 24h nh của chúng tôi. Sự theo dõi này giúp ta có thể đánh giá đợc thời gian tác dụng của 1 lần hào châm để chúng ta có kế hoạch cho các lần châm tiếp
theo hoặc sẽ có sự kết hợp giữa châm cứu với dùng thuốc. Và cũng là phù hợp với nguyên tắc điều trị của y học cổ truyền cấp trị tiêu, hoãn trị bản. H thì bổ,
thực thì tả. Khi can hoả vợng tức là là thực chứng với tả pháp bệnh sẽ lui và đạt đợc kết quả chữa bệnh.

4.3.4. Tình trạng huyết áp của đối tợng nghiên cứu trớc và sau điều trÞ


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (100 trang)

×