1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Giai đoạn 3 tháng cuối năm 2009 cho đến nay 1. Tình hình hoạt động tổng quan

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (293.45 KB, 31 trang )


ty chứng khoán phải tạm ngừng mở sàn vàng đề chờ văn bản hướng dẫn cụ thể. Theo đó, đối với các công ty chưa mở sàn giao dịch vàng, Ủy ban Chứng khốn
u cầu khơng được mở sàn giao dịch vàng cho đến khi có văn bản hướng dẫn. Đối với những sàn đã mở, Ủy ban Chứng khoán u cầu các cơng ty chứng khốn phải
báo cáo thời gian mở sàn giao dịch vàng; hình thức pháp lý; đối tác hợp tác mở sàn; doanh số giao dịch bình quân tháng,…Trên thực tế, hơn 2 tháng kể từ ngày
UBCKNN u cầu các cơng ty chứng khốn tạm ngưng mở sàn vàng, các sàn vàng không những hao hụt đi mà còn tiếp tục mọc lên mạnh mẽ.
Câu hỏi đặt ra là có nên hay khơng trong việc cho phép mở các sàn vàng? Có rất nhiều ý kiến trái chiều nhau về vấn đề này. Nhưng theo ý kiến khách quan
Trong một thời gian dài VN-Index rớt từ hơn 1.000 xuông hơn 200 điểm. Nhà đầu tư chịu thiệt hại rất lớn. Tiền mất dần trong chứng khốn buộc nhà đầu tư phải tìm
cơ hội đầu tư khác để giữ lại giá trị trong điều kiện kinh tế suy giảm. Việc cơng ty chứng khốn mở sàn vàng cũng là mở đường thoát cho nhà đầu tư.
Vậy giải pháp đưa ra là nên đưa ra để nâng cao tính kiểm sốt chứ khơng phải cấm đốn vì các cơng ty chứng khốn có trăm nghìn cách để lách quy định. UBND
TP.HCM đã thống nhất sẽ kiến nghị Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính giao Sở Giao dịch chứng khốn TP.HCM quản lý sàn vàng tập trung tại
TP.HCM, nhằm đảm bảo hoạt động an toàn và hạn chế rủi ro cho người kinh doanh. Hiện cả nước có hơn 20 sàn vàng. Người kinh doanh tại sàn có những quan
ngại khác nhau khi chọn sàn vàng để kinh doanh. Rủi ro về công nghệ, tính pháp lý và tính minh bạch là vấn đề người kinh doanh quan tâm khi chọn sàn, bên cạnh tính
thanh khoản cao và dịch vụ rẻ. Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải xây dựng một khung pháp lý hoàn chỉnh để sàn vàng hoạt động một cách hiệu quả nhất.
4. Giai đoạn 3 tháng cuối năm 2009 cho đến nay 4.1. Tình hình hoạt động tổng quan
Năm 2009
Thứ nhất, mạng lưới, quy mô hoạt động của CTCK được mở rộng, với 80
chi nhánh, 42 phòng giao dịch đang hoạt động tập trung ở nhiều tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, T.p Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Hải Phòng. Cùng
với sự phát triển mạng lưới hoạt động, số lượng tài khoản giao dịch tại các CTCK cũng tăng mạnh với tổng số tài khoản trên 800.000 tài khoản, tăng 1,5 lần so với
năm 2008.
Thứ hai, Cùng với sự gia tăng khối lượng giao dịch, các CTCK đã thực hiện
trên 5.000 hợp đồng tư vấn và bảo lãnh phát hành. Tính đến cuối năm 2009 đã có gần 80 CTCK hoạt động có lãi trong năm 2009. Quy mô vốn hoạt động của các
CTCK ngày càng được nâng cao. Tính đến cuối năm 2009, tổng số vốn điều lệ của các CTCK là 24.855 tỷ đồng, tăng 9,4 so với năm 2008.
Thứ ba, Số lượng người hành nghề kinh doanh chứng khoán ngày càng tăng.
Tính đến nay, UBCKNN đã cấp chứng chỉ người hành nghề chứng khoán cho 2.744 nhân viên.
Năm 2010 1. Kết quả kinh doanh
20
Quý 2-2010, nhiều doanh nghiệp thô lỗ buộc phải tạm ngừng giao dịch vì theo quy định doanh nghiệp lỗ 2 năm liên tiếp sẽ bị tạm ngừng giao dịch. Trên
HOSE, đã có những cơng ty như Bông Bạch Tuyết BBT, Full Power FPC, Tribeco TRI và gần đây có Interfood IFS .
Trong số 9 cơng ty chứng khốn cơng bố báo cáo tài chính q 3 thì đã có 6 cơng ty cơng bố lỗ, các cơng ty còn lại lợi nhuận cũng giảm mạnh.
VnEconomy cập nhật kết quả kinh doanh quý 3 và lũy kế 9 tháng năm 2010 của các công ty chứng khốn niêm yết trên HOSE và HNX.
Cơng ty Cổ phần Chứng khốn Sài Gòn mã SSI-HOSE cơng bố doanh thu trong quý 32010 của công ty đạt 349,953 tỷ đồng, trong đó doanh thu hoạt động mơi
giới chứng khốn đạt 35,85 tỷ đồng, doanh thu hoạt động đầu tư chứng khốn, góp vốn đạt 103,281 tỷ đồng, doanh thu khác đạt 116,042 tỷ đồng. Lũy kế doanh thu 9
tháng năm 2010 đạt 1.181,32 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế trong quý 32010 đạt 146,164 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng năm 2010 đạt 568,456 tỷ đồng. Năm 2010, SSI
thông qua kế hoạch kinh doanh với doanh thu đạt 1.254 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 1.200 tỷ đồng, cổ tức tối đa 20mệnh giá bằng tiền hoặc cổ phiếu.
Công ty Cổ phần Chứng khốn Ngân hàng Cơng thương Việt Nam mã CTS- HNX công bố doanh thu trong quý 32010 của cơng ty đạt 32,488 tỷ đồng, trong
đó doanh thu hoạt động mơi giới chứng khốn đạt 11,295 tỷ đồng, doanh thu hoạt động đầu tư chứng khốn, góp vốn đạt 8,636 tỷ đồng, doanh thu khác đạt 9,4 tỷ
đồng. Lũy kế doanh thu 9 tháng năm 2010 đạt 126,056 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế trong quý 32010 lỗ 26,96 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng năm 2010 lỗ 15,22 tỷ đồng. Năm
2010, CTS đặt mục tiêu với doanh thu đạt 360 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 140 tỷ đồng, cổ tức dự kiến 12vốn điều lệ.
Cơng ty Cổ phần Chứng khốn Hải Phòng mã HPC-HNX công bố doanh thu trong quý 32010 của công ty đạt 8,43 tỷ đồng, trong đó doanh thu hoạt động mơi
giới chứng khốn đạt 5,88 tỷ đồng, doanh thu hoạt động đầu tư chứng khốn, góp vốn đạt 1,896 tỷ đồng, doanh thu khác đạt 592,062 tỷ đồng. Lũy kế doanh thu 9
tháng năm 2010 đạt 42,906 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế trong quý 32010 lỗ 42,954 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng năm 2010 lỗ 42,572 tỷ đồng. Năm 2010, HPC đặt mục tiêu
với tổng doanh thu đạt 129,778 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 55 tỷ đồng.
Công ty Chứng khốn An Phát mã APG-HNX cơng bố doanh thu trong quý 32010 của công ty đạt 6,623 tỷ đồng, trong đó doanh thu hoạt động mơi giới
chứng khốn đạt 1,213 tỷ đồng, doanh thu hoạt động đầu tư chứng khốn, góp vốn đạt 614,835 triệu đồng. Lũy kế doanh thu 9 tháng năm 2010 đạt 32,85 tỷ đồng. Lợi
nhuận sau thuế trong quý 32010 đạt 1,924 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng năm 2010 đạt 13,538 tỷ đồng. Năm 2010, APG đặt chỉ tiêu với tổng doanh thu đạt 85,071 tỷ
đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 37 tỷ đồng, chia cổ tức bằng tiền 17,5.
Trong báo cáo tài chính q 3, Cơng ty chứng khốn Hải Phòng HPC cho biết doanh thu đạt được là 8 tỉ đồng, trong khi chi phí hoạt động kinh doanh lên tới 47 tỉ đồng,
21
cộng với chi phí quản lý doanh nghiệp 4,6 tỉ đồng, khiến cho quí này, HPC lỗ 42,9 tỉ đồng. Và lỗ lủy kế đến hết 30-9 của HPC là 143 tỉ đồng.
Một trong những cơng ty chứng khốn lớn thua lỗ trong q 3 năm nay là Cơng ty chứng khoán VietinbankSc CTS, lý do vẫn là việc doanh thu tự doanh trong quí này
giảm từ mức 59,8 tỉ đồng vào cùng kỳ còn 8,6 tỉ đồng trong quí này. Trong khi chi phí tăng lên 59,45 tỉ đồng khiến lợi nhuận sau thuế quí 3 âm 26,96 tỉ đồng.
Trong số các công ty đã công bố báo cáo lợi nhuận q 3 thì Cơng ty chứng khốn TPHCM HCM vẫn có lợi nhuận sau thuế là 31,7 tỉ đồng, chủ yếu đến từ các hoạt
động như hợp tác đầu tư chứng khoán, lãi tiền gửi, lãi từ hợp đồng đặt mua cổ phần… trong khi doanh thu tự doanh giảm mạnh từ 80,8 tỉ đồng xuống còn 15,5 tỉ
đồng. Cơng ty chứng khốn Sài Gòn SSI có lợi nhuận sau thuế 146,2 tỉ đồng trong quí 3. Mang lại doanh thu chính cho SSI là từ hoạt động khác chiếm 33,14 tổng
doanh thu, từ hoạt động đầu tư chứng khốn, góp vốn tự doanh chiếm 29,5, hoạt động mơi giới chiếm 23,6.
Theo ơng Lê Đạt Chí, Trưởng bộ mơn đầu tư tài chính, Đại học Kinh tế TPHCM thì nhà đầu tư vẫn nên cẩn trọng với các cơng ty cơng bố lãi, vì để có kết quả lợi nhuận
tốt, nhiều công ty đã bán ra các danh mục tự doanh có lãi, và sau khi đã hạch tốn lợi nhuận thì sẽ mua lại các mã cổ phiếu đang lỗ để trung bình giá và tránh việc trích lập
nặng cho các tháng cuối năm.
Nguyên nhân:
Theo giải trình của các cơng ty thì thị trường khơng khởi sắc cùng với giao dịch yếu chính là nguyên nhân khiến các cơng ty chứng khốn gặp khó trong q này.
Bên cạnh đó, việc chi phí hoạt động kinh doanh của các cơng ty tăng mạnh trong q này là do các công ty phải tăng các khoản lương và hoa hồng để mơi giới mời gọi
khách hàng trong tình trạng thị trường ảm đạm, thanh khoản thấp như hiện nay. Thêm vào đó là việc lạm phát tăng, cúp điện xảy ra thường xuyên, chi phí cho hoạt
động cải tiến công nghệ, kỹ thuật của các sàn giao dịch cũng tăng cao so với năm 2009 khiến lợi nhuận các cơng ty giảm.
2. Cơng ty chứng khốn: Bế tắc tự doanh Tự doanh luôn là hoạt động tạo ra lợi nhuận chính của các CTCK. Sau năm 2009
khá thành công, bộ phận tự doanh của nhiều CTCK hiện đang “chết đứng”. Nhiều CTCK chuyên về tự doanh đã lỗ nặng,
a, Mua dưới sàn, bán trên sàn Năm 2009, các CTCK đã tích cực tìm doanh nghiệp DN chưa niêm yết để tư vấn
rồi mua CP giá rẻ, chờ khi lên sàn sẽ hiện thực hóa lợi nhuận. Nhưng từ đầu năm 2010, hầu hết CTCK lựa chọn chiến thuật này đã rơi vào tình trạng thua nhiều hơn
thắng. Mấu chốt ở đây chính là các CTCK đã khơng thể dự báo được tình hình của thị
trường trong khoảng thời gian mình mua CP cho đến khi lên sàn. Quản trị rủi ro
22
kém, dự báo yếu, thua lỗ là điều khơng thể tránh khỏi. Trong năm 2009 đã có khá nhiều CTCK huênh hoang về khả năng tư vấn niêm yết CP của mình, hễ CP nào
mình “làm” là sẽ “lên, nhưng giờ đây khơng ít CTCK đã phải lãnh quả đắng về sản phẩm của mình.
Đầu tháng 9 vừa qua, một DN lớn trong ngành vận tải biển đã chào sàn với giá 1.8. Theo đánh giá của một số chuyên viên phân tích ngành vận tải biển, mức giá này
được xem là rẻ, vì khi đó thị trường chung diễn biến không thuận lợi và ngành vận tải biển cũng đang gặp khó khăn.
Trước đó, một CTCK lớn đã ra tay gom CP này với giá bình quân 1.8 và chắc mẩm đây là “giá tốt”. Nhưng với việc giá gom mua bằng với giá chào sàn, rõ ràng CTCK
này rất khó có lời, nếu khơng muốn nói bị lỗ, vì một tổ chức lớn muốn xả hàng sẽ khơng hề đơn giản.
Có thể nói chiến thuật hữu hiệu của các CTCK cách đây một năm đã thất bại hoàn toàn.
b,Đầu tư giá trị và những rào cản Sau khi thất bại với những cách đầu tư mang tính chất ăn xổi, nhiều CTCK đang
rục rịch quay trở lại với cách đầu tư giá trị, dài hạn và căn cơ hơn. Nhưng từ kỳ vọng đến thực tế, từ dự định đến triển khai đã gặp khơng ít rào cản, cả chủ quan
lẫn khách quan.

Rào cản thị trường Đầu tư giá trị là lựa chọn những CP có nền tảng cơ bản tốt, có tiềm năng trong dài
hạn đang được thị trường định giá thấp để mua vào và nắm giữ trong dài hạn, nhưng đòi hỏi thời gian, cơng sức và trí tuệ rất nhiều. Nếu xét trên những tiêu chí
này, tìm ra các thương vụ đầu tư giá trị của các CTCK trong những năm vừa qua chẳng khác nào “mò kim đáy bể”.
Nửa đầu tháng 7 vừa rồi, CP C. thuộc ngành BĐS đã tăng giá mạnh từ 3.0 lên 4.0, đây là một CP được đánh giá tốt vì có quỹ đất khá dồi dào và các chỉ số định giá
cũng hấp dẫn. Bên cạnh đó một quỹ có thế mạnh trong đầu tư các doanh nghiệp DN trong ngành BĐS cũng sở hữu một khối lượng lớn CP C.
Sau khi tạo đỉnh 4.0, CP C. đã điều chỉnh giảm và quay trở lại vùng giá 2.8-3.0 vào giữa tháng 8. Có tin đồn một CTCK thuộc top 10 có thế mạnh trong mảng nghiên
cứu và phân tích, đã tiến hành mua vào CP C. với giá 2.9, nhưng khơng lâu sau đó CP C. lại tiếp tục rớt mạnh xuống còn 2.3 nên CTCK đó bị lỗ nặng.
Sau đó CP C. có tăng lên được vài phiên nhưng cũng chỉ đến hơn 2.7 là dừng và hiện chỉ còn hơn 2.0. Như đã nói ở trên, nhìn chung CP C. là một mã được nhiều
CTCK đánh giá cao, thậm chí còn có cả tin đồn về việc sẽ có một khoản lợi nhuận
23
“khủng” trong năm 2011. Như vậy, CTCP đó đã phần nào chọn đúng mục tiêu nhưng lại không lường được diễn biến của thị trường chung không thuận lợi trong
tháng 8 nên đã thua lỗ.

Rào cản DN Thương vụ kể trên cũng là điển hình cho xu hướng đầu tư giá trị “nửa mùa” của
các CTCK hiện nay. Theo đó, các CTCK chọn những DN “được được” rồi tiến hành mua CP, sau đó bắt tay với lãnh đạo DN để bàn cách công bố thông tin tốt, rồi
đánh CP tăng mạnh, dụ NĐT vô rồi xả.
Khi được hỏi “giá trị” nằm ở chỗ nào, một người trong cuộc đã trả lời “giá trị” nằm ở chỗ DN cũng “được được” chứ không phải là DN không tên tuổi, nên NĐT cũng
an tâm hơn. Tại sao các CTCK lại chỉ chọn DN “được được” mà không phải DN tốt? Lý do khá đơn giản, hiện tại các DN kinh doanh ổn định, có thương hiệu
thường khơng muốn đánh bóng mình bằng việc tạo sóng CP.
Tổng giám đốc một cơng ty trong ngành thép chia sẻ, ông thường nhắc nhở nhân viên của mình nên tạo thói quen khi CP xuống nên mua một ít, CP lên lại thì bán ra,
điều này giúp cho nhân viên có thêm chút ít thu nhập, còn CP của cơng ty cũng duy trì được sự ổn định.

Rào cản thời gian Khi xác định đầu tư trung hạn hoặc dài hạn thì thời gian mua vào và nắm giữ CP sẽ
phải hơn 1 năm. Nhưng khác với các quỹ đầu tư, CTCK là một DN nên cũng có năm tài chính của mình, và như vậy cũng phải chịu sức ép về lợi nhuận, cổ tức
không nhỏ.
Đặt trường hợp CTCK A. đang nắm giữ CP X. được đánh giá rất tốt, có nền tảng kinh doanh ổn định, nhưng do thị trường chung không thuận lợi nên CP X. giảm
giá, KQKD của CTCK A. cũng có thể bị ảnh hưởng. Lúc này lãnh đạo CTCK A. khơng thể đứng trước ĐHCĐ nói rằng “X. là CP tốt, chúng tơi chỉ “xui” vì thị
trường khơng thuận lợi”.
Như vậy dưới áp lực chốt sổ, định giá lại danh mục đầu tư vào cuối năm, chiến thuật dài hạn rất dễ bị thay đổi thành ngắn hạn.
Hiện tại, một xu hướng đang được các CTCK nhắm tới là thành lập hẳn một cơng ty quản lý quỹ để có thời hạn, chiến lược đầu tư rõ ràng hơn. Nhưng cũng cần nói
thêm hàng năm quỹ cũng tiến hành chốt NAV giá trị tài sản ròng, nên nếu có thua lỗ CTCK cũng phải chịu ảnh hưởng, mà ở đây lại là ảnh hưởng kép.
Bởi vì đã lập ra cơng ty quản lý quỹ, ngoài chuyện quản lý tiền cho CTCK, còn có thêm việc huy động và quản lý tiền cho các NĐT khác nữa. Ở đây, nếu muốn giữ
24
NAV của mình, các quỹ có thể dùng nhiều cách khác nhau để “bùa chú”, nhưng che mắt được các cổ đơng là điều khơng đơn giản.
Chính vì vậy, khi quỹ hoạt động không thành công, CTCK vừa bị mất tiền, lại vừa mất tiếng. Thực tế cho thấy mô hình CTCK lập ra cơng ty quản lý quỹ khơng phải
bây giờ mới được đề cập, nhưng cũng chỉ có rất ít CTCK thực hiện trong khi hiệu quả lại là một dấu hỏi lớn. Nói đi cũng phải nói lại, nhiều NĐT hiện thời bày tỏ
quan điểm muốn CTCK đầu tư bài bản, nhưng lại đòi hỏi lợi nhuận phải cao trong tức khắc - đó là điều khơng tưởng.
Như vậy, các CTCK đang chuyển hướng từ đầu tư “chụp giật” sang giá trị sẽ phải tái cấu trúc rồi sau đó mới có thể chỉnh đốn chiến lược của mình, như vậy sẽ mất
một khoảng thời gian khơng nhỏ. Hệ quả phải chịu là lợi nhuận thấp, CP có thể bị ghẻ lạnh, nhưng đó là điều CTCK phải chấp nhận để có thể làm mới mình.
3. Các cơng ty chứng khốn đang tìm mọi cách cố gắng duy trì hoạt động và chờ thị trường ấm lên.
Còn nhớ vào đầu năm 2009, khi thị trường khó khăn, các cơng ty chứng khốn CTCK lại phải thực hiện yêu cầu tăng vốn pháp định mới được thực hiện các
nghiệp vụ tương ứng, nên nhiều CTCK đã nộp đơn lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xin rút bớt nghiệp vụ tự doanh, bởi theo quy định, nghiệp vụ này yêu cầu vốn
pháp định của doanh nghiệp là 100 tỷ đồng, một số tiền khơng nhỏ trong tình hình huy động vốn khó khăn.
Hiện tại, tuy khơng có những CTCK xin “cắt bớt chân tay” như đầu năm ngoái, nhưng tình cảnh cũng chẳng khác bao nhiêu. Thị trường ảm đạm kéo dài, cổ phiếu
mất giá, nhiều mã giảm sâu so với giá trị sổ sách, khiến CTCK nào càng tự doanh nhiều thì càng lâm vào khó khăn.
Việc CTCK VincomSC cơng bố đóng cửa sàn giao dịch tại Hà Nội hay việc chuyển danh mục của Vietnam Dragon Fund VDF sang Quỹ Tín thác Dragon Capital
Vietnam Fund DCVNF mới chỉ được xem là những tín hiệu ban đầu về tình cảnh khó khăn của các CTCK hiện nay. Trên thực tế, các CTCK đều nỗ lực tìm mọi cách
để duy trì hoạt động và chờ thị trường ấm lên.
Để giảm bớt gánh nặng, nhiều CTCK đã phải cắt giảm nhân sự, đóng cửa các đại lý nhận lệnh, thu hẹp diện tích hoặc chuyển sàn ra khỏi khu vực trung tâm để giảm
bớt chi phí. Một CTCK đang thuê mặt bằng gần trung tâm Hà Nội, với giá lên đến 50 USDm2tháng, đang đơn đáo tìm mặt bằng mới.
Theo một giám đốc CTCK, các CTCK tự doanh đang khó xử lý với nguồn cổ phiếu nắm giữ, bởi thị trường quá ảm đạm, cổ phiếu mất giá, để khơng đành mà bán
cũng… khơng xong, vì thanh khoản hiện khơng tốt. Chưa kể, nhiều cơng ty dùng đòn bẩy tài chính, cho nhà đầu tư vay mua cổ phiếu, nay cổ phiếu mất giá, hết
ngưỡng thì cơng ty phải giải chấp, ôm về thêm một đống cổ phiếu nữa.
25
Ơng Hồng Xn Quyến, Tổng giám đốc CTCK Liên Việt LVS cho biết, vào thời điểm này, các CTCK có quy mơ nhỏ và vừa, ít đầu tư cổ phiếu trong thời điểm thị
trường “nóng” sẽ an tồn hơn do không bị gánh nặng tự doanh. Tuy vậy, các công ty này cũng phải xoay xở để duy trì hoạt động, ổn định bộ máy.
Lãnh đạo một CTCK nhỏ khác cho rằng, thị trường lúc này đòi hỏi các CTCK phải có nền tảng tốt, khơng chỉ trơng chờ vào những cuộc mua bán “nóng” để thu lợi
như lúc thị trường sôi động. “Nền tảng tốt không chỉ là bộ máy gọn, hiệu quả, nghiệp vụ tốt, mà còn là sức mạnh tài chính của các cổ đơng. Lúc này, các CTCK
có các ngân hàng hay doanh nghiệp đại gia đứng đằng sau “chống lưng” cho là “khỏe” nhất”, lãnh đạo một CTCK tiết lộ. Được biết, CTCK này hiện có một số
phòng chỉ có Trưởng phòng mà khơng có… nhân viên
Trong bối cảnh hiện nay, các CTCK có lẽ sẽ tiếp tục “thu mình”, nếu khơng muốn “lặng lẽ ra đi”.
4.Nhà đầu tư nhỏ bán tháo, đại gia gom vào
Trong khi thị trường vàng sơi động thì TTCK lại đìu hiu, èo uột với một sự hạn chế về dòng tiền và số lượng lớn cổ phiếu niêm yết. Càng nhảy vào càng thua
lỗ, đó là tình trạng chung của nhiều NĐT nhỏ lẻ. Chính vì thế, nhiều người đã sớm chuyển sang kênh đầu tư mới là vàng, một số khác lại chấp nhận án binh bất động,
đợi thời cơ mới, hoặc bán tháo để chấp nhận cắt lỗ.
Thế nhưng, ngược lại, những đại gia hàng đầu của sàn chứng khốn Việt lại cơng bố mua thêm một lượng lớn cổ phiếu để tăng tỷ lệ sở hữu tại tổ chức mà họ
đang làm chủ tịch hội đồng quản trị. Cụ thể: giữa tháng 11, thời điểm giá của nhiều cổ phiếu ở mức thấp nhất
trong vòng 1 năm trở lại đây, 2 đại gia của sàn chứng khốn Việt Nam cơng bố mua thêm một lượng lớn cổ phiếu của công ty họ đang làm chủ tịch. Đó là trường
hợp ơng Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Cơng ty Chứng khốn Sài Gòn SSI công bố mua thêm 1 triệu cổ phiếu SSI.
Song song với thời điểm mua cổ phiếu của ông Hưng, ông Hà Văn Thắm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Cơng ty cổ phần Tập đồn Đại Dương OGC cũng
cơng bố mua thêm 2 triệu cổ phiếu OGC. Trước đó, ông Thắm sở hữu gần 80 triệu OGC và dự kiến nằm trong danh sách 10 người giàu nhất sàn chứng khốn Việt
năm 2010. Ngồi ra, còn có thể điểm danh những nhân vật ơng lớn trên sàn chứng khốn mua vào như ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch Hội đồng quản trị
Sacombank cũng cơng bố hồn thành việc mua thêm 2 triệu cổ phiếu của ngân hàng này, nâng tỷ lệ sở hữu từ 26 triệu lên 28 triệu cổ phiếu. Hay như Chủ tịch Hội
đồng quản trị Công ty Chứng khốn Âu Việt AVS - ơng Đồn Đức Vịnh, đã công bố mua thêm 6,75 triệu AVS, nâng số cổ phiếu sở hữu lên 7,66 triệu…
4.2 Bất cập 1. Thao túng giá
Với tư cách là Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, khi trực tiếp đi khảo sát thực tế tại một số CTCK phục vụ cho quá trình thẩm tra Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Chứng khoán, TS. Trần Du Lịch, Phó trưởng đồn Đại biểu Quốc
26
hội TP. HCM nhìn nhận, tình trạng thao túng giá chứng khốn gây lũng đoạn thị trường đang là căn bệnh nguy hiểm nhất của TTCK hiện nay.
Để cạnh tranh trong tình hình hiện nay, các sàn giao dịch chứng khoán đã bất chấp tất cả và người chịu thiệt hại đầu tiên là những nhà đầu tư chân chính. Vụ ơng
Lê Văn Dũng - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Cty cổ phần dược phẩm Viễn Đông - vừa bị bắt về hành vi thao túng giá chứng khốn chỉ như hồi chng cảnh
báo cho các đối tượng đã, đang có những hành vi này.
- Bất chấp sự nguy hiểm cho chính mình
Trong tình hình thị trường chứng khốn CK đang ảm đạm như hiện nay, thì sự cạnh tranh trong việc chia thị phần môi giới ngày càng thêm phần quyết liệt.
Điều đó khiến các Cty CK khơng ngần ngại áp dụng mọi biện pháp, kể cả những biện pháp không được luật cho phép như: Nhà đầu tư được sử dụng đòn bẩy
tài chính với mức ký quỹ 10 nhưng được hỗ trợ tới 90; cho phép nhà đầu tư bán khống chứng khốn bán cổ phiếu nhưng khơng có hàng; khơng có tiền ký quỹ
nhưng vẫn được phép mua hàng nguyên tắc là phải có tiền trong tài khoản mới được phép đặt lệnh mua. Thậm chí, để che mắt các cơ quan chức năng, Cty chứng
khốn còn tạo tiền khống trên tài khoản, sau đó có thể từ 1- 60 ngày nhà đầu tư mới nộp tiền cho Cty chứng khốn...
Chính những việc làm này đã ảnh hưởng rất xấu tới thị trường chứng khoán non trẻ của Việt Nam và làm méo mó cả thị trường vốn rất cần minh bạch.
Việc một số Cty chứng khoán sử dụng đòn bẩy tài chính cho nhà đầu tư với tỉ lệ tối đa lên tới 90 tiềm ẩn rất nhiều rủi ro về thanh khoản cho thị trường chứng
khoán cũng như thị trường tiền tệ.
Thực tế đã có nhiều Cty chứng khoán mất thanh khoản khi thị trường đi xuống quá nhanh. Nhưng các Cty chứng khoán này vẫn bất chấp, vẫn sử dụng đòn
bẩy tài chính này như một biện pháp quan trọng để thu hút nhà đầu tư.
Mặt khác, các nguồn tiền này lại không minh bạch khi được chính các ngân hàng trực tiếp hoặc gián tiếp thơng qua các Cty tài chính đẩy vào thị trường chứng
khốn. Ngồi các nguồn tiền chính thức của mình, các Cty chứng khốn còn lợi dụng nguồn tiền cân quỹ của khách hàng gửi tại Cty chứng khốn thường có tổng
số dư chưa sử dụng từ nhân làm một số Cty chứng khoán mất khả năng thanh khoản khi các khách hàng đồng thời sử dụng hết các nguồn tiền gửi trong tài
khoản.
2.Bán khống cổ phiếu
Án phạt tiền 70 triệu đồng được Ủy ban chứng khoán SSC đưa ra với Cơng ty chứng khốn Nhấp và Gọi sau khi phát hiện tổ chức này cho phép khách hàng
bán khống cổ phiếu vào đầu năm 2010. Mức phạt nói trên từng được SSC áp dụng
27
với Cơng ty chứng khốn An Thành vào cuối tháng 52010 với vi phạm tương tự. 70 triệu đồng cũng là mức phạt cao nhất theo quy định hiện hành Nghị định
362007NĐCP đối với vi phạm của Cơng ty chứng khốn khi cho phép khách hàng thực hiện lệnh khi khơng có đủ tiền hoặc chứng khốn.
3.Tính minh bạch
- Tình trạng tùy tiện trong cơng bố thơng tin, cơng bố thơng tin chậm, thiếu
chính xác, không trung thực đang gây bức xúc cho cộng đồng đầu tư và ngày càng đặt ra nhiều thách thức đối với cơ quan quản lý.
- Chuyện DN làm đẹp bản cáo bạch, thơng tin tài chính trước khi cơng bố ra công chúng là một thực tế nhức nhối trên TTCK hiện nay.
Trường hợp Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vừa đình chỉ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng của CTCP Dược phẩm Viễn Đông DVD do DN này đưa vào
Bản cáo bạch chào bán cổ phiếu một số thơng tin sai lệch và bỏ sót các thông tin quan trọng, gây hiểu lầm và ảnh hưởng đến quyết định của NĐT… là một ví dụ.
- Thơng tin về tài khoản của nhà đầu tư kể cả các CTCK có chức năng tự doanh, trong có có thông tin về danh mục đầu tư, là những thông tin mật, chỉ được
phép tiết lộ khi có yêu cầu của các cơ quan thực thi pháp luật. Thế nhưng, một bảng thống kê tập hợp danh mục đầu tư và các khoản tự doanh hàng ngày của 40 CTCK
trong tháng 2, 3 và đầu tháng 4 lại được chễm chệ nằm trên diễn đàn của một câu lạc bộ đầu tư đều đặn hàng ngày vào lúc 3 giờ chiều, dưới dạng tập tin excel. Tại
sàn giao dịch của một CTCK, sau giờ giao dịch hoặc đầu giờ mỗi buổi chiều, một bảng thống kê giao dịch từ các tài khoản tự doanh của các CTCK cũng được phân
phối hàng ngày cho các nhà đầu tư.
= Thực tế này là một dấu hỏi lớn của dư luận đặt ra cho các cơ quan quản lý có liên quan về tính minh bạch của thị trường, quy trình bảo mật các thông tin
nhạy cảm của các cơ quan quản lý Muốn thị trường phát triển minh bạch thì UBCKNN chỉ nên kiểm sốt chặt các cơng ty
chứng khốn, kiểm tra những dấu hiệu bất thường xảy ra với thị trường và đặc biệt hạn chế các công ty tham gia vào việc làm giá cùng các DN.
Đây là ý kiến của TS. Đinh Thế Hiển, chuyên gia tài chính với DNSGCT trước việc thị trường chứng khoán TTCK thời gian qua liên tục xuất hiện những nghi vấn về làm giá
chứng khoán, với đủ các chiêu thức từ đơn giản tới tinh vi.
III-Giải pháp cho các công ty chứng khốn: Nhà nước cần có các biện pháp hỗ trợ cơng ty chứng khốn nói riêng và thị
trường chứng khốn nói chung như: •
Hồn chỉnh hệ thống quy phạm pháp luật, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của các CTCK. Nghiên cứu xem xét xây dựng văn bản hướng dẫn
đối với nghiệp vụ Repo, Margin theo tình hình phát triển của thị trường và khả năng quản lý rủi ro của CTCK.
28
• Nâng cao vai trò của ủy ban chứng khoán nhà nước. Đặc biệt bộ phận giám
sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phải được tăng cường để hoạt động chặt chẽ hơn.
• Nghiên cứu điều chỉnh các chính sách đối với các CTCK và thị trường
chứng khốn như:  Đầu tư cơ sở hạ tầng cơng nghệ thơng tin. Khuyến khích các CTCK
đầu tư vào cơng nghệ và chất lượng nguồn nhân lực để nâng cao công tác quản trị điều hành và nâng cao chất lượng dịch vụ khách
hàng của các CTCK.
 Mở rông các kênh thông tin cho các nhà đầu tư. Tăng việc tổ chức thông tin minh bạch, tăng thêm nhiều cơ quan ngơn luận chun
ngành để mổ xẻ, phân tích thị trường một cách sát sườn.  Có chính sách và hành lang pháp luật hợp lý tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà đầu tư, tổ chức nước ngoài. Tăng cường quản lý, giám sát và kiểm soát chặt chẽ hoạt động của CTCK trên cơ sở phân loại
các tiêu chí rủi ro để có phương án xử lý phù hợp; tăng cường hoạt động giám sát thực thi và xử lý vi phạm đối với các CTCK.Yêu cầu
các CTCK đảm bảo chỉ tiêu an tồn tài chính theo quy định và tăng cường công tác kiểm tra việc thực thi này.
 Có biện pháp nhằm tránh hiện tượng đầu cơ thao túng thị trường. cơ quan quản lý cần đưa ra những công vụ soi giá xuống, giá lên một
cách nhanh nhất để hạn chế việc bán khống của các nhà đầu tư, khi đó vi phạm sẽ giảm dần.
 Có chính sách thuế thu nhập chứng khốn một cách hợp lý và có lộ trình phù hợp.
Về phía CTCK
• Về nguồn vốnchủ yếu đối với các cơng ty vừa và nhỏ
 Nâng cao vốn chủ sở hữu  Thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của công ty chứng khoán.
 Đảm bảo khả năng kinh doanh và sinh lời
• Biện pháp thực hiện
 Hợp nhất  Sáp nhập
 Kêu gọi các nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư nước ngoài.
= Trước hết cần phải đảm bảo được nguồn vốn của mình, có thế mới có thể đảm bảo cho được khả năng kinh doanh và sinh lợi . Để đạt được mục đích này
có thể đề ra nhiều giải pháp như: Hợp nhất, Sáp nhập các cơng ty chứng khốn để tăng vốn chủ sở hữu.
Trên thực tế, các nhà chuyên môn cho rằng một làn sóng hợp nhất, sáp nhập các cơng ty chứng khốn đang dần dần hình thành khi nhiều cơng ty đang đứng trên
bờ vực giải thể như hiện nay.
Các công ty chứng khốn cũng có thể kêu gọi các nhà đầu tư để tăng lượng vốn của công ty. Nhiều công ty chứng khốn đã bắt đầu chào bán cổ
phần mình cho các nhà đầu tư cả trong nước và ngoài nước. Điển hình là cơng ty chứng khốn Gia Anh đã rao bán đến 80 cổ phần của mình ra thị trường
nước ngoài. Tuy nhiên, khi thực hiện biện pháp này cần phải chú ý đến các
29
chính sách kinh tế vĩ mô, tránh hiện tượng các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt nhảy vào, lũng đoạn thị trường Việt Nam.
• Về nhân lực và cơng nghệ
 Nâng cao khả năng chuyên môn từng bộ phận  Xem xét lại cơ cấu tổ chức, lãnh đạo, điều hành công ty
 Nâng cấp công nghệ
= Bên cạnh vấn đề vốn, nhân lực và công nghệ cũng là vấn đề then chốt. Khơng chỉ phải tự mình nâng cao khả năng chun mơn trong từng nghiệp vụ,
các cơng ty chứng khốn cũng cần phải xem xét lại vấn đề tổ chức nhân sự và bộ máy điều hành để phù hợp nhất để phát triển, tiết kiệm được chi phí điều
hành và hoạt động của công ty. Một số công ty chứng khoán lớn như SSI cũng đã bắt đầu thực hiện những thay đổi trong bộ máy lãnh đạo cấp cao.
Ngoài ra, các công ty cũng cần nâng cấp hạ tầng cơ sở của chính mình để có thể cung cấp đến nhà đầu tư những dịch vụ tốt nhất. Gần đây, cơng ty chứng
khốn FPT đã đưa ra thử nghiệm dịch vụ giao dịch trức tuyến và được nhiều nhà đầu tư ủng hộ.
• Về nghiệp vụ tự doanh:
 Nâng cao khả năng kinh doanh của CTCK  Xem xét lại các khoản mục đầu tư
 Tận dụng lợi thế thông tin để nâng cao chất lượng hoạt động đầu tư
= Xem xét đến các nghiệp vụ của các công ty chứng khốn, có thể thấy rằng chúng ta cần nhanh chóng chấn chỉnh hoạt động tự doanh. Bằng các biện pháp
khác nhau như xem xét cắt giảm các khoản mục đầu tư không sinh lợi, tận dụng lợi thế của mình trong việc tiếp cận thơng tin, các cơng ty chứng khốn cần tự
mình nâng cao khả năng kinh doanh, khơng để trường hợp thua lỗ kéo dài
• Về nghiệp vụ mơi giới chứng khốn
 Cung cấp thơng tin đầy đủ và kịp thời  Có chính sách thích đáng về chi phí mơi gới
 Mở thêm các dịch vụ giá trị gia tăng.
= Về nghiệp vụ trung gian mơi giới chứng khốn, các cơng ty chứng khốn cần đặt lợi ích của khách hàng lên trên hết, vì lợi ích của khách hàng cũng
chính là lợi ích của công ty. Để làm được việc này trước hết cần cung cấp cho khách hàng những thông tin đầy đủ và kịp thời nhất. Tiếp đó, Chính sách về chi
phí giao dịch cũng cần được quan tâm. Nhiều cơng ty gần đây đã đưa ra những chính sách rất hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư và cũng đã mang lại hiệu quả
bước đầu. Ngoài ra, sự phong phú của các dịch vụ cũng là một yếu tố được nhà đầu tư trông chờ ở các công ty chứng khoán. Sự linh hoạt trong việc đưa ra các
gói dịch vụ sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư, từ đó tăng doanh thu cho cơng ty.
• Về nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
 Xây dựng đội ngũ nhân viên tư vấn chất lượng cao  Cung cấp thơng tin đầy đủ, chính xác, kịp thời.
= Đối với nghiệp vụ tư vấn chứng khoán, vấn đề con người và công nghệ thông tin lại được đặt ra. Các cơng ty cần xây dựng được cho mình đội ngũ
nhân viên tư vấn có chất lượng cao, cung cấp cho nhà đầu tư những thơng tin chính xác, đầy đủ, kịp thời nhất. Để làm được việc này, một chính sách thu hút
nhân tài hấp dẫn và một cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại là khơng thể
30
thiếu. Khơng những thế. Cơng ty chứng khốn cần có được cái nhìn tổng quan nhất về thị trường và các cơng ty có niêm yết trên thị trường chứng khốn để có
thể tư vấn cho các nhà đầu tư một cách có hiệu quả nhất.
• Về nghiệp vụ tư vấn bảo lãnh phát hành
 Xem xét cẩn trọng các cơng ty có nhu cầu phát hành chứng khốn, tránh những rủi ro có thể phát sinh.
 Đảm bảo đủ nguồn vốn để thực hiện hoạt động bảo lãnh. = Cuối cùng là nghiệp vụ tu vấn bảo lãnh phát hành chứng khốn. Để có thể
làm tốt nghiệp vụ này, cần phải có sự tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng các cơng ty có nhu cầu niêm yết, đồng thời xem xét tình hình thị trường để có thể đưa ra
lời khuyên tốt nhất cho các doanh nghiệp, đồng thời cũng là tránh được rủi ro cho bản thân cơng ty chứng khốn. Bên cạnh đó, các cơng ty cũng cần đảm bảo
đủ nguồn vốn để thực hiện nghiệp vụ này.
31

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

×