1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

NHỮNG MẶT HẠN CHẾ VÀ RỦI RO TIỀM ẨN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (483.83 KB, 77 trang )


Hiệu quả tín dụng:
Việc cho vay bất động sản góp phần đem lại nhiều lợi nhuận cho các NHTM vì so với việc cho vay các lónh vực khác thì cho vay bất động sản
thường có lãi suất cao, dư nợ cho vay lớn và dễ dàng tiếp cận khách hàng vay. Bình quân lãi suất cho vay lónh vực bất động sản là 12năm
1,0tháng, ta có thể tính tương đối thu nhập từ lãi vay của các khoản tín dụng bất động sản qua các năm. Năm 2005 thu nhập từ lãi cho vay bất động
sản là 2.699,76 tỷ đồng, trong năm 2006 là 2.569,98 tỷ đồng, giảm 129,78 tỷ so với năm 2005. Đến năm 2007 thu nhập từ lãi cho vay bất động sản tăng
mạnh 731,70 tỷ đồng lên 3.301 tỷ đồng.
Bảng 2.7: Thu lãi từ cho vay bất động sản qua các năm
Đơn vò tính: Tỷ đồng
Năm 2005 Năm 2006
Năm 2007
Dư nợ BQ
Thu lãi vay
Dư nợ BQ Thu lãi
vay Tănggiảm
so với năm trước
Dư nợ BQ
Thu lãi vay
Tănggiảm so với năm
trước 22.498
2.699,76 21.416,50 2.569,98
-129,78 27.514,00 3.301,68
731,70

2.2.2.2 NHỮNG MẶT HẠN CHẾ VÀ RỦI RO TIỀM ẨN


Cho vay lónh vực bất động sản của các NHTM trên đòa bàn TP HCM trong thời gian qua đã đem lại cho ngân hàng nhiều lợi nhuận, tăng trưởng tín
dụng nhanh chóng và góp phần vào việc phát triển thò trường bất động sản, đem lại nhiều hiệu quảû kinh tế cho xã hội, giúp người dân có thể tiếp cận giải
quyết nhu cầu về nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được việc
cho vay bất động sản của các NHTM trong thời gian qua cũng bộc lộ nhiều điểm hạn chế.
Dư nợ cho vay bất động sản thiếu tính ổn đònh:
Dư nợ cho vay bất động sản luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của các NHTM. Tuy nhiên, dư nợ cho vay này luôn biến động và thiếu sự
tăng trưởng ổn đònh qua các năm. Việc tăng hay giảm dư nợ phụ thuộc vào sự biến động của thò trường bất động sản. Điều này làm cho các NHTM thiếu
tính chủ động trong mảng cho vay này và rất dễ phát sinh rủi ro khi thò trường biến động.
Tập trung vào các đối tượng đầu cơ, kinh doanh bất động sản:
Một thực tế dễ thấy rằng vào những thời điểm thò trường bất động sản sốt cao. Đối tượng tham gia sôi động và nhiều nhất trên thò trường là các đơn
vò kinh doanh bất động sản, các cá nhân đầu cơ từ việc chênh lệch giá. Những đối tượng này chiếm tỷ trọng cao trong các khách hàng vay vốn tín dụng. Đây
chính là tiền đề đẩy giá bất động sản lên cao tạo nên những “cơn sốt ảo” giá bất động sản và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Tỷ trọng cho vay bất động sản lớn:
Tỷ trọng cho vay bất động sản tại khu vực TP HCM bình quân năm 2007 của các NHTM trên đòa bàn là 8,5. Tuy nhiên, nếu tính tổng dư nợ cho
vay bất động sản trên toàn quốc tại một số ngân hàng, đặc biệt là khối các NHTMCP thì tỷ lệ này là khá cao. Tại đa số các NHTMCP tỷ lệ này đều trên
20, đặc biệt một số Ngân hàng tỷ lệ này từ 30-50, thậm chí có Ngân hàng cho vay bất động sản chiếm trên 50 tổng dư nợ.
Bảng 2.8: Tỷ lệ cho vay bất động sản của một số NHTMCP tính đến 31122007
STT Tên Ngân hàng
Tỷ lệ dư nợ cho vay bất động sản trên tổng dư nợ
1 Ngân hàng TMCP Thái Bình Dương
67,96
2 Ngân hàng TMCP Nam Việt
41,21
3 Ngân hàng TMCP Gia Đònh
34,25
4 Ngân hàng TMCP An Bình
32,74
5 Ngân hàng TMCP Á Châu
31,12
6 Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà TP HCM
30,25
7 Ngân hàng TMCP Phương Đông
27,25
8 Ngân hàng TMCP Việt Á
25,19
9 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương
22,85
10 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
20,55
11 Ngân hàng TMCP Nam Á
18,60
12 Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu
18,20
Nguồn: NHNN CN TP HCM
Như vậy, việc cho vay bất động sản không chỉ riêng tại các dự án bất động sản trên đòa bàn TP HCM mà các khu vực khác trong cả nước cũng khá
mạnh. Tỷ lệ dư nợ cho vay bất động sản trên tổng dư nợ khá cao sẽ mang lại nhiều rủi ro cho các NHTM về tính thanh khoản, về khả năng thu hối vốn đặc
biệt trong bối cảnh thò trường bất động sản biến động liên tục như hiện nay.
Bất hợp lý trong việc huy động và sử dụng nguồn:
Hiện nay, tại đa số các ngân hàng thương mại cổ phần của VN, có hơn 80 là huy động với kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống trong khi các khoản vay
bất động sản thường có thời gian thu hồi vốn dài và tỷ lệ cho vay lớn vì vậy sẽ tạo nên rủi ro khi các NHTM sử dụng vốn ngắn hạn cho vay dài hạn.
Bảng 2.9 : Sản phẩm cho vay mua nhà dự án của một số NHTM
STT Tên Ngân hàng
Tỷ lệ cho vaygiá trò căn
hộ Thời gian
cho vay
năm
1 Ngân hàng TMCP Kỹ Thương
80 20
2 Ngân hàng Phát triển nhà TPHCM
80 30
3 Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu
80 20
4 Ngân hàng TMCP An Bình
80 30
5 Ngân hàng TMCP Phương Nam
80 20
6 Ngân hàng TMCP Nam Việt
80 20
7 Ngân hàng TMCP Phương Đông
80 20
8 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín
70 20
9 Ngân hàng TMCP Á Châu
70 10
10 Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam
70 15
11 Ngân hàng TMCP Ngoài quốc doanh
70 10
12 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
70 20
13 Ngân hàng Đầu tư phát triển
70 15
14 Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng
sông cửu Long 70
20
15 Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải
70 25
16 Ngân hàng ANZ
70 20
17 Ngân hàng Công thương Việt Nam
50 20
Nguồn: Website các Ngân hàng
Trong năm 2007, đối với các dự án bất động sản chẳng hạn như căn hộ chung cư, đất nền dự án… đa số các Ngân hàng đều cho vay với tỷ lệ tài trợ
trên 70 giá trò của bất động sản, và thời hạn cho vay trên 20 năm. Điều này là nguyên nhân rất dễ dẫn đến việc mất thanh khoản của các NHTM do việc
sử dụng nguồn vốn huy động ngắn hạn cho vay dài hạn.
Quy trình cho vay chưa chặt chẽ
Công tác thẩm đònh sơ sài: trong vài năm trở lại đây việc thành lập hàng loạt các NHTM đã kéo theo một thực trạng nhân sự phục vụ vừa thiếu,
vừa yếu. Thực tế cho thấy, cán bộ nhân viên làm công tác tín dụng hiện nay quá chú trọng vào tài sản đảm bảo để đưa ra quyết đònh cho vay mà không có
hoặc rất ít chú trọng vào các tiêu chí quan trọng khác như: tình hình tài chính, thu nhập trả nợ, mức độ khả thi của dự án vay… Đây là nguyên nhân dẫn đến
dễ dãi trong việc cấp tín dụng đối với các dự án vay nói chung và các dự án bất động sản nói riêng, đặc biệt điều này càng dễ xảy ra vào các thời điểm
thò trường bất động sản đang sôi động, giá bất động sản đang ở mức cao. Việc này sẽ là tiền đề cho việc phát sinh các khoản nợ xấu sau này do khách hàng
mất khả năng thanh toán trong khi bất động sản đảm bảo lại mất tính thanh khoản do thò trường đóng băng.
Đònh giá TSĐB cao: để đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng và tăng khả năng cạnh tranh, các NHTM đều đònh giá TSĐB gần sát với giá thò
trường và cho vay đến trên 70 giá trò TSĐB. Tuy nhiên, giá trò bất động sản vào thời điểm “sốt” thường ở mức cao do đó khi thò trường bất động sản đóng
băng, giá trò TSĐB sụt giảm mạnh, các khoản cho vay trở nên rủi ro do trò giá TSĐB không đủ để đảm bảo cho các khoản nợ vay này.
Tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng gia tăng:
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay bất động sản có xu hướng gia tăng qua các năm. Năm 2003 tỷ lệ này là 0,32, năm 2004 tăng 109 lên tỷ
lệ 0,67, năm 2005 tăng 101 lên 1,35, năm 2006 tỷ lệ này là 2,22, tăng 64 so với năm trước, và năm 2007 tỷ lệ này tăng lên một con số đáng báo
động là 4,80, tăng 116 so với năm 2006. Như vậy tỷ lệ nợ xấu trong cho vay bất động sản gia tăng mạnh qua các năm, bình quân là 100năm. Điều
này cho thấy mức độ rủi ro của các khoản cho vay bất động sản đang ngày càng tăng.
Bảng 2.10:Tỷ lệ nợ xấu qua các năm
Năm 2003
2004 2005
2006 2007
Tỷ lệ nợ xấu
0,32 0,67
1,35 2,22
4,80
Tốc độ tăng 109
101 64
116 Nguồn: NHNN TP HCM
0.32 0.67
1.35 2.22
4.80 109
101 64
116
0.00 1.00
2.00 3.00
4.00 5.00
6.00
2003 2004
2005 2006
2007 20
40 60
80 100
120 140
T ỷ
l ệ
n ợ
x ấ
u T
ố c
độ t
ă ng
Hình 2.2: Tốc độ tăng nợ xấu qua các năm
2.3 THỰC TRẠNG VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG CHO VAY BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CÁC NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM
2.3.1 NHỮNG MẶT KIỂM SOÁT ĐÃ THỰC HIỆN ĐƯC 2.3.1.1 VỀ PHÍA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Nhằm giám sát hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản của các NHTM, Ngân hàng nhà nước trong thời gian qua cũng đã có sự chỉ đạo
đối với các NHTM để đảm bảo cho hoạt động cấp tín dụng trong lónh vực này được an toàn, hiểu quả, tránh những rủi ro mang tính hệ thống.
Ngày 09032006, Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành công văn số 1676NHNN-CSTT về cho vay đối với lónh vực bất động sản, trong đó đã
yêu cầu các Ngân hàng thương mại tiến hành rà soát, đánh giá lại chất lượng tín dụng các khoản cho vay bất động sản để có biện pháp xử lý thích hợp,
đảm bảo tính hiệu quả của phương án cho vay, cũng như nêu ra các yêu cầu khi cấp tín dụng đầu tư bất động sản như thực hiện đúng các quy đònh của
pháp luật về đất đai, đầu tư và xây dựng, tín dụng ngân hàng; xem xét năng lực tài chính và tính khả thi của phương án, khả năng trả nợ, các biện pháp
phòng ngừa rủi ro do biến động của giá cả bất động sản; thẩm đònh cho vay các dự án kinh doanh bất động sản trên cơ sở chủ đầu tư đã hoàn tất các thủ
tục đầu tư, xây dựng theo quy đònh của pháp luật, có phương án vay vốn và trả nợ phù hợp với phương án tiêu thụ sản phẩm khả thi; ban hành quy đònh
về nghiệp vụ cho vay bất động sản, đảm bảo kiểm soát rủi ro hệ thống, khống chế tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay bất động sản ở mức
hợp lý so với tổng dư nợ và nguồn vốn của ngân hàng thương mại; tổ chức thống kê, theo dõi chặt chẽ các hoạt động cho vay bất động sản, diễn biến
cung - cầu và giá cả trên thò trường bất động sản. Đồng thời phải có báo cáo
gởi NHNN vào ngày 15 của tháng 01 và tháng 07 hàng năm. Đây là một sự can thiệp kòp thời để các Ngân hàng cẩn trọng hơn khi cấp tín dụng tài trợ dự
án bất động sản. Xem xét, đánh giá lại các khoản tín dụng đã cho vay cũng như cân nhắc kỹ càng hơn đối với các dự án bất động sản trong giai đoạn này.
Ngày 10062008 thực hiện theo yêu cầu của NHNN Việt Nam, NHNN CN TP HCM đã có công văn số 941NHNN-HCM.08 yêu cầu các NHTM
thực hiện việc báo cáo cho vay đầu tư kinh doanh bất động sản, cho vay tiêu dùng và cho vay chứng khoán. Đònh kỳ hàng tháng phải có báo cáo gởi CN
NHNN TP HCM. Như vậy, trong thời gian qua, NHNN luôn có những chỉ đạo, đònh
hướng cũng như giám sát hoạt động của các NHTM trong lónh vực cho vay đầu tư bất động sản. Các biện pháp này vừa mang tính cảnh báo, vừa mang
tính đònh hướng nhằm giúp các NHTM đảm bảo chất lượng tín dụng trong lónh vực cho vay bất động sản và đồng thời tránh cho hệ thống NHTM khỏi những
rủi ro mang tính dây chuyền khi cho vay lónh vực này góp phần cho sự phát triển ổn đònh của thò trường bất động sản.

2.3.1.2 VỀ PHÍA CÁC NHTM


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

×