1. Trang chủ >
  2. Giáo án - Bài giảng >
  3. Tiếng anh >

Kết quả dạy thực nghiệm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (565.74 KB, 25 trang )


PHẦN I: Lí do chọn đề tài

I.



ĐẶT VẤN ĐỀ



Giảng dạy ngoại ngữ luôn có nhiều dao động và biến đổi theo nhịp tiến hóa chung

của nền văn minh và văn hóa thế giới - Đó là điều mà không ai có thể phủ nhận. Vì vậy

đòi hỏi người giảng dạy môn học này phải luôn có trách nhiệm và tâm huyết để truyền

đạt kiến thức thật sự hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Qua những năm áp dụng phương pháp đổi mới trong giảng dạy môn Tiếng Anh

THPT với chương trình sách giáo khoa mới, đã có nhiều thầy, cô giáo có những kinh

nghiệm, sáng kiến phục vụ tích cực cho công tác giảng dạy bộ môn Tiếng Anh. Tuy

nhiên, tôi nhận thấy vẫn còn có những vấn đề tiếp tục nảy sinh trong thực tế giảng dạy

ở trường chúng tôi mà bản thân chúng tôi, những giáo viên giáng dạy môn học này,

luôn trăn trở, suy nghĩ tìm hướng giải quyết. Một trong những vấn đề đó là : làm thế

nào để dạy hiệu quả tiết SPEAKING nhằm nâng cao khả năng giao tiếp cho học sinh,

cũng như nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Tiếng Anh ở trường chúng tôi với

những phương tiện dạy học hiện có.

II.



c¬ së lÝ luËn



Như chúng ta đã thấy, Tiếng Anh là công cụ giao tiếp quan trọng trong việc hoà nhập

với cộng đồng quốc tế và khu vực, tiếp cận với những thông tin khoa học, kỹ thuật, văn

hoá xã hội cũng như các sự kiện chính trị trên toàn thế giới. Kể từ khi Việt nam gia

nhập WTO, Tiếng Anh được sử dụng ngày càng rộng rãi hơn. Do vậy việc dạy và học

ngoại ngữ nói chung và giảng dạy môn Tiếng Anh nói riêng đã được coi trọng và th ực

hiện một cách nghiêm túc trong các trường PTTH

Nhận thức được tầm quan trọng đó, chúng tôi những giáo viên dạy Anh văn ở

các trường THPT có trách nhiệm trang bị cho các em học sinh vốn kiến thức cơ bản,

vững vàng để các em có thể học tốt môn tiếng Anh ở cấp học cao hơn hay có thể giao

tiếp những câu thông thường với người nước ngoài. Chúng tôi luôn cố gắng vươn lên

về chuyên môn nghiệp vụ, học hỏi kinh nghiệm của các bậc thầy, tham khảo chia sẻ

kinh nghiệm với các đồng nghiệp, cũng như tìm tòi sáng tạo những phương pháp giảng

5



dạy có hiệu quả, hấp dẫn học sinh, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng các giờ

dạy. Về mặt lí luận thì giáo viên phải là người dạy cho các em hiểu đúng, thực hành

đúng những kiến thức trong chương trình học thông qua các kĩ năng: Đọc, Nói, Nghe,

Viết. Từ đó các em chủ động trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ theo từng mục đích

riêng của mình như: dịch thuật, viết tài liệu, phiên dịch viên, dễ dàng làm việc ở các

công ty liên doanh………………...

III.



c¬ s¬ thùc tiÔn



Hiện nay, việc DẠY và HỌC Tiếng Anh, cũng giống như các môn học khác trong

trường phổ thông, đều đang diễn ra với sự đổi mới phương pháp giáo dục, cải cách

sách giáo khoa, ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học, giảm tải nội dung

chương trình học ……..nhằm làm cho lượng kiến thức trong tài liệu học (sách giáo

khoa) phù hợp với đối tượng học (học sinh) đồng thời làm cho học sinh tiếp cận được

với nội dung kiến thức hiện đại. Tuy nhiên, Quy trình DẠY và HỌC trên phạm vi lớp

học ở các trường THPT lại diễn ra với không ít khó khăn và cũng từ đó kết quả giáo

dục không cao như mong đợi. Một trong những khó khăn đầu tiên phải kể đến đó là đối

tượng học là những học sinh ở lứa tuổi 16- 18, kinh nghiệm sống ít, kĩ năng giao tiếp,

kĩ năng nhận thức còn nhiều hạn chế, nhiều em còn ham chơi hơn là học, lấy lí do đi

học để đi chơi….. Đặc biệt việc học ngoại ngữ đối với các em càng làm cho các em

ngại học tập, có khi giờ ngoại ngữ đối với các em lại là một chuỗi thời gian căng thẳng.

Vậy chúng ta phải làm gì để giúp các em giải quyết những khó khăn đó? Ngoài ra, một

khó khăn khác nữa cũng phải kể đến, đó là việc DẠY và HỌC Tiếng Anh trong trường

phổ thông còn diễn ra trong môi trường giao tiếp của thầy và trò với nhiều hạn chế:

Dạy học trong một tập thể lớn ( thường là đơn vị lớp học có khoảng 45 học sinh hoặc

trên 45 em), trình độ nhận thức của học sinh có nhiều cấp độ khác nhau, phương tiện

hỗ trợ giảng dạy chưa đồng bộ….Những điều này làm phân tán sự tập trung của học

sinh, tác động rất lớn đến việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh và làm chậm quá trình

tiếp thu kiến thức của học sinh. Thêm một nguyên nhân nữa mà tôi nhận thấy qua công

tác dự giờ của đồng nghiệp trong trường mình và trường bạn đó là phương pháp giảng

dạy các tiết phát triển kĩ năng còn chưa có sự đầu tư, công tác chuẩn bị cho một tiết

dạy còn qua loa, thiết kế giáo án sơ sài, chưa chú trọng làm mới các phương pháp dạy

học để phù hợp với đối tượng học sinh của mình và cuốn hút các em vào bài, đặc biệt

6



đối với các bài dạy kĩ năng Nói Tiếng Anh, giáo viên còn chưa quan tâm đến đối tượng

học sinh yếu kém trong lớp vì sợ “cháy” giáo án.

Từ cơ sỏ lí luận và thực tiễn trên, cùng với kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy

của bản thân, tôi mạnh dạn đưa ra một vài phương pháp dạy kĩ năng nói hiệu quả thông

qua đề tài: “ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY KĨ NĂNG NÓI MÔN TIẾNG ANH

THPT CÓ HIỆU QUẢ ”. Vậy vấn đề đặt ra ở đây đặt ra với mỗi giáo viên là phải

thực sự đổi mới phương pháp dạy học của mình thì mới đáp ứng được nhu cầu đào tạo

hiện nay và phải nhận thức rõ giá trị giao tiếp của ngôn ngữ trong cuộc sống cũng như

nắm chắc cách thực hành loại hình bài dạy để cải thiện chính mình đem lại lợi ích cho

người học.



7



PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU



I.



ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU



- Dạy học sinh THPT hệ ngoài công lập theo chương trình sách giáo khoa chuẩn(7 năm)

- Nghiên cứu các phương pháp tối ưu để Giáo viên có thể áp dụng khi tổ chức

hoạt động dạy kĩ năng nói trên lớp hiệu quả.



II. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1. Tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng nói Tiếng Anh cho học sinh THPT

“Nói” là một trong bốn kỹ năng quan trọng trong việc dạy tiếng Anh để học sinh

có khả năng thực hành giao tiếp nhanh và đạt hiệu quả cao nhất.

Học sinh phổ thông của ta còn yếu cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc , viết. Nhất là

các em rất ngại nói tiếng Anh trong giờ học do nhiều nguyên nhân khác nhau như: tâm

lý ngượng ngùng, dè dặt, ngại các bạn cười khi mình nói sai; do lớp học đông, giáo

viên ít có thời gian rèn luyện kỹ năng cho mỗi học sinh. Tổ chức luyện nói tốt sẽ giúp

khắc phục bớt những hạn chế trên.

Kỹ năng nói giúp cho học sinh có điều kiện rèn luyện nhiều hơn trong một tiết

học.thực hiện được nguyên tắc trong mỗi giờ học ngoại ngữ: Ôn cũ - luyện mới . Mọi

kiến thức mới đều được gợi mở dần dần từ những kiến thức đã được học ở bài trước

(lesson: Reading )làm cho học sinh không sợ bài mới (lesson: Speaking).

“Học thầy không tày học bạn” , trong khi luyện nói học sinh có thể học hỏi lẫn

nhau, sửa lỗi cho nhau, tự do nói theo ý của mình mà không ngại thầy cô giáo.

Thông qua thực hành nói học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động, khắc

phục được sự ức chế khi trong lớp chỉ có một số học sinh giỏi tham gia phát biểu, do

8



vậy sẽ lôi cuốn được toàn thể học sinh trong lớp tham gia hoạt động kể cả các em học

trung bình hoặc yếu.

Tăng cường khả năng ứng xử của học sinh trong các tình huống khác nhau, gây

hứng thú, tự tin mạnh dạn cho học sinh khi đã thực hành giao tiếp bằng tiếng Anh. giờ

học sẽ trở lên vui vẻ, sôi nổi và đạt hiệu quả cao.

2. Những thuận lợi và khó khăn khi luyện nói cho học sinh

a/ Thuận lợi

Học sinh với bản chất hồn nhiên sẵn sàng tham gia vào các hoạt động của giờ

học khi đã bị cuốn hút vào các hoạt động.

Công nghệ thông tin đang rất phát triển ở Việt nam, các em sớm được tiếp xúc

với máy tính, với mạng Internet và thu nhận được nhiều thông tin từ đây.

Ứng dụng CNTT vào dạy học là một trong những cách dễ cuốn hút học sinh vào

tìm hiểu nội dung bài học, làm cho bài dạy kĩ năng sinh động hơn qua tranh ảnh sống

động, âm thanh rõ nét và tiết kiệm thời gian trình bày. Từ đó học sinh được luyện tập

nhiều hơn.

b/ Khó khăn

Trong lớp có nhiều đối tượng học sinh khác nhau mà đa phần là học sinh trung

bình và yếu môn ngoại ngữ.

Hoạt động luyện nói thường được thực hiện theo cặp, nhóm nên lớp học dễ ồn

ào mất trật tự, đặc biệt đối với những đơn vị lớp có biên chế 45 học sinh.

Thầy , Cô giáo không bao quát hết được tất cả học sinh nên một số em cá biệt lợi

dụng cơ hội nói chuyện bằng tiếng việt hay làm việc riêng.

Giáo viên không thể phát hiện và sửa hết lỗi của các em học sinh (vì lớp đông,

thời gian có hạn).

Do vậy đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp sư phạm tốt, chủ động sáng tạo,

luôn cải tiến phương pháp luyện tập bằng nhiều hình thức khác nhau, nhiều dạng bài

tập khác nhau phù hợp cho từng nội dung bài học để gây hứng thú và động viên tất cả

học sinh nhiệt tình luyện tập.

3 .Phương pháp tổ chức thực hiện kỹ năng nói

9



a)

Giới thiệu mục đích và cách luyện tập kỹ năng nói với học sinh.

Nói có thể luyện tập cá nhân hoặc thực hành theo cặp, nhóm. Nếu thực hành theo cặp,

nhóm thì giáo viên phải phân chia cặp, nhóm trước để học sinh biết mình phải luyện

tập với ai. Nếu thực hành theo nhóm thì giáo viên cần nắm rõ ai học sinh nào là nhóm

trưởng của mỗi nhóm đồng thời nói cụ thể nhiệm vụ thực hành của nhóm. Giáo viên

cũng phải yêu cầu kỷ luật khi luyện tập.

b)

Thực hành nói phải có tính hệ thống, liên tục, theo phương châm từ dễ đến

khó, đòi hỏi giáo viên dạy phải có sự sáng tạo, biết thiết kế lại, điều chỉnh lại bố cục

từng task (nếu cần thiết) để làm nổi bật nội dung trọng tâm và tạo cơ hội luyện nói

cho học sinh.

Ví dụ minh hoạ như sau:

Ví dụ 1:

Unit 6- Future Jobs- Speaking (p 66)

Task 1: Match a job in column A with at least two descriptions in B

Nếu giáo viên không chú ý đến việc thiết kế hoạt động dạy học sẽ để mất cơ hội luyện

nói cho học sinh vì yêu cầu của nhiệm vụ chỉ là nối mỗi nghề nghiệp ở cột A với 2

miêu tả về nghề đó ở cột B sao cho phù hợp. Theo đó giáo viên sẽ dừng lại khi cho học

sinh nối hoàn thiện như:

A doctor nối với miêu tả là take of people’s health + help save people’s lives.

Nhưng theo tôi thì chúng ta nên thiết kế hoạt động dạy học như sau:

- hướng dẫn học sinh hiểu nội dung của Task 1 qua việc hỏi một số câu hỏi gợi mở:

Now, Look at the table and tell me

1. How many jobs there are in column A? Ss: There are four

2. How many descriptions there are in column B? Ss: there are eight

So work in pairs. Match a job in column A with at least two descriptions in B

within one minute.

- Giáo viên đi quanh lớp để giúp đỡ Hs nếu cần thiết. Khi thời gian 1 phút đã hết Gv

dẫn dắt Hs đến một hoạt động mới bằng câu hỏi : Have you finished matching? (Ss:

yes). T says: Let’s practice speaking. (T explains that )when 2 ss practice asking

answering about the jobs, all of you have to listen and check their matching.

- Giáo viên có thể gợi ý phần hỏi đáp mẫu (nếu là học sinh ở các trường ngoài công

lập)

10



St1: Could you tell me what a doctor often do?

St2: A doctor is a person who takes of people’s health and helps save people’s

lives.

- Đến đây học sinh thực hành nói xong thì cũng có nghĩa là học sinh đã nối hoàn thiện

Task 1. Chú ý khi mỗi cặp thực hành xong Gv nên hỏi cả lớp hoặc 1 học sinh cụ thể

nhận xét về nội dung mà cặp vừa làm là đúng hay sai rồi giáo viên check lại đáp án và

cho lời khen phù hợp để tạo sự hứng khởi cho học sinh ở các Task sau..

Ví dụ 2: Unit 1- HOME LIFE – Lesson Speaking (p15)

- Giáo viên có thể gộp Task 2+ 3 vào làm một và điều chỉnh yêu cầu của Task gộp như

sau: Work with a different partner. Ask and answer questions about family life to

find out whether your friend’s family life is like yours. Note down the answers in

the table.

1. Who works in the family (Who works in your family?)

Both parents

2. Who does the household chores

………….

(Who does the household chores in your family?)

3. Your friend’s responsibility in the family

Cooking, cleaning

(What is your responsibility in the family ?)

the house ……..

4. The interest the family members share closely

…………….

(What interest do your family members share closely?)

5. The person your friend often share his/ her secrets with

……………..

(With Whom do you often share your secrets? )

6. The person your friend talks to before making important ………………

decisions

(Who do you talk to before making important decisions?)

- Để giúp học sinh làm tốt phần task này giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách đặt

câu hỏi sao cho đúng (đặc biệt là học sinh học yếu), có vậy các em mới có cơ hội tự tin

giao tiếp.

c)

Tuỳ theo tình huống và yêu cầu rèn luyện mà giáo viên cần chuẩn bị những

hình thức rèn luyện phù hợp với nhiều đối tượng học sinh.

d) Thực hiện phần luyện nói trong từng phần của bài học.

 Phần gây hứng thú đầu giờ (warm up): Giáo viên có thể hỏi các câu hỏi liên quan

đến chủ đề chính (main topic) trong bài qua thủ thuật: Chatting, Jumbled words,

Pictureques, Bingo…... hoặc hỏi những câu về thời tiết, ngày tháng, tình hình lớp học,

11



về việc đã làm trong ngày nghỉ..........hoặc dùng tranh ảnh để dẫn học sinh vào bài mới.

Đây là một hoạt động dạy học làm cho không khí lớp sôi nổi ngay từ phút đầu bởi các

em rất dễ bị cuốn hút bởi những hình ảnh đẹp, thực tế .Tuy nhiên, giáo viên không nên

dành nhiều thời gian vào hoạt động này mà chỉ nên dành từ 3 đến tối đa 5 phút là đủ.

Ví dụ 1: Unit 11- AN EXCURSION- Lesson SPEAKING (p -sgk10)

Để giới thiệu chủ đề bài nói này giáo viên cần chuẩn bị một bức tranh thật đẹp về

quang cảnh chùa Hương và đặt một số câu hỏi phát vấn như sau;

1. Is this a pagoda? Ss: Yes, it is

2. Can you name this pagoda? St: Huong pagoda.

3. Have you ever visited Huong pagoda? St…………..

4. Could you tell me something about your visit? St…………

Now in our today lesson, you will know about the tour of 12A to Huong pagoda and

you will know what they did during their tour.



Ví dụ 2: Unit 5- HIGHER EDUCATION- Lesson SPEAKING (p 55-sgk12)

Để vào bài giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhìn tranh về hình ảnh chứng minh thư

nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, giấy khai sinh… để trả lời câu hỏi:

12



What is this?

Học sinh (HS) nhìn tranh trả lời: It’s an identity card. (Nếu HS không biết nói từ này

bằng tiếng anh thì GV đọc và viết từ đó lên bảng rồi cho HS repeat twice)

Tiếp tục đến tranh thứ 2:

GV: what do you call this in English?

HS: a school report / a certificate/ a birth certificate

GV: Are they the admission requirements for a tertiary institutions?

HS: Yes, they are.

GV: What do we need more?

HS: …………………………..

GV: To know more about the admission requirements for a tertiary institutions in

VietNam, let’s start our today lesson.

Ví dụ 3: Warming up the class in Unit 16 “Historical places”

Game: Finding what they are

Giáo viên chuẩn bị 3 bức tranh màu sắc đẹp được dấu kín về 3 địa danh nổi tiếng ở

Việt Nam. Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi để tìm ra đó là những địa danh

nào. Học sinh trả lời đúng sẽ được nhận điểm tốt hoạc 1 món quà.

Hidden picture 1: - This is the place where Uncle Ho was buried.

- It is situated in Ba Dinh Square



Hidden picture 2: - This is the place in Hue city

- It is one of the world cultural heritages in Vietnam



13



Hidden picture 3: - It is a famous place in Ho Chi Minh City

- It is also called Independence Palace



Ví dụ 4: Unit 6- FUTURE JOBS- Lesson Speaking (p 65- sgk 12)

GV chia lớp thành 2 đội và hướng dẫn luật chơi “Bingo”. Yêu cầu HS chuẩn bị thảo

luận trong 1 phút về nhưng nghề mà họ biết bằng tiếng anh. Sau 1 phút thảo luận đại

14



diện của mỗi đội lên bảng viết đáp án trong thời gian 1 phút. Sau đó GV check đáp án

trên bảng và đếm số nghề mà mỗi đội ghi được. Đội nào viết đúng nhiều nghề hơn sẽ là

đội chiến thắng. GV chúc mừng đội chiến thắng và dẫn vào bài bằng câu hỏi: what job

do you like to work, Tam? Why?

HS 1: I would like to work as a doctor because I want to treat and help many people.

GV: (lại gọi 1 hs khác) What about you, Lan?

HS 2: I would like to work as a pilot because it is an interesting job.

GV: OK, good!

All of us have just heard that Tam wanted to be a doctor but Lan wanted to be a pilot. I

am sure that everyone here would choose for themselves a job in the future with many

different reasons. To know more about the jobs each of you choose to work in the

future, let’s start our lesson today.

 Phần giới thiệu ngữ liệu mới (presetation): Kỹ năng nói thường được thực hiện

trong phần giới thiệu ngữ cảnh ( set the scene ) và phần giới thiệu cấu trúc mới qua thủ

thuật Dialogue build , Concept checking….

Ví dụ: Unit 3- Ways of socialising- Lesson Speaking (p 33)- Task 1

GV yêu cầu học sinh đọc lời yêu cầu của Task1 và nói cách làm trước lớp.

GV đọc mẫu các đoạn thoại ngắn. Hs lắng nghe.

GV cung cấp từ mới nếu có. Sau đó GV cho học sinh thực hành đọc mẫu với GV. Cần

chú ý đến tính biểu cảm của lời khen và lời đáp lại lời khen.

GV tổ chức cho HS làm việc theo cặp thực hành đọc các đoạn hội thoại trong khoảng

thời gian 3 phút. Trong lúc HS luyện đọc, GV đi quanh lớp để giúp đỡ nếu cần thiết.

Hết thời gian GV gọi HS đọc hội thoại trước lớp. GV nhận xét.

Sau đó GV chia đôi lớp yêu cầu 1 dãy tìm câu cho lời khen, dãy còn lại tìm câu đáp lại

lời khen và lấy ý kiến phản hồi rồi ghi lên bảng như sau:



A (Giving compliments)

- You really have a beautiful blouse



B ( Responding to the compliments)

- Thank you, Phil. That is a nice

compliment

15



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

×