1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Quá trình tạo phoi khi mài.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.21 MB, 80 trang )


Trường Đại học KTCN Trang 16 Luận văn thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
Mài không chỉ được dùng trong gia công tinh, mà còn được dùng ngày càng nhiều ở các ngun cơng gia cơng phá, gia cơng thơ.
Do có nhiều ưu điểm nổi bật nên mài được sử dụng nhiều và phổ biến trong ngành cơ khí chế tạo máy.

1.2 Q trình tạo phoi khi mài.


Các hạt mài có độ cứng tế vi cao hơn nhiều so với độ cứng của vật liệu chi tiết gia công. Các hạt mài có đặc điểm là rất giòn nên trong q trình cắt, chúng
thường vỡ vụn thành nhiều mảnh có hình dáng bất kỳ và nhiều cạnh sắc. Các hạt mài được phân bố trong chất dính kết ngẫu nhiên. Do có nhiều lưỡi cắt có
hình dáng bất ký và các lưỡi cắt luôn thay đổi trong quá trình mài nên việc theo dõi hình dáng của từng lưỡi cắt phải mất rất nhiều công sức.
Để có thể hiểu được hình dáng của một lưỡi cắt, chúng ta cần xác định mặt cắt của dao bằng thống kê. Sau đó mơ tả hình dáng, kích thước của hạt
mài một cách trung bình. Trên hình 1.1 là hai mặt cắt đặc trương của hạt mài.
Hình 1.1 Các dạng có thể có của lưỡi cắt Hình 1.1a mơ tả mặt cắt trung bình của lưỡi cắt tương tự khi gia cơng
bằng dao có lưỡi cắt xác định tiện, phay…. Lưỡi cắt có hình dạng là cung tròn có bán kính

cắt với chiều dày cắt phoi
z
a
. Độ sắc của lưỡi
s
- được định nghĩa như sau:

z
a s

1.1
Trường Đại học KTCN Trang 17 Luận văn thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
Các dạng có thể có của lưỡi cắt: Dạng 1: Giống với dạng lưỡi cắt của dụng cụ có lưỡi cắt xác định với
góc trước

; góc sau

hình 1.1b. Dạng 2: Trên đỉnh lưỡi cắt có diện tích mòn
m

với chiều dài trung bình của diện tích mòn là
m
L
. Có thể coi diện tích mòn là một phần của mặt sau và ma sát của mặt này tương tự ma sát trên mặt sau của dao tiện hình
1.1c. Các nghiên cứu đều cho rằng, các lưỡi cắt chỉ bền vững khi
 
 .
Thường

có thể đặt đến giá trị
 
80
. Quá trình tạo phoi khi mài được mơ tả trên hình 1.2
Hình 1.2 Q trình tạo phoi khi mài Do mũi dao có bán kính

và do góc ăn tới của lưỡi cắt

nhỏ nên giai đoạn đầu không tạo phoi mà vật liệu gia công bị biến dạng đàn hồi, biến dạng
dẻo, bị đẩy sang hai bên của lưỡi cắt hoặc chảy qua mặt dưới của lưỡi cắt sang mặt sau của hạt mài.
Trường Đại học KTCN Trang 18 Luận văn thạc sỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
Khi lưỡi cắt tiếp tục ăn sâu vào chi tiết thì chiều dày phoi
z
a
tương ứng với chiều sâu vết cắt
t
và lúc này bắt đầu tạo phoi. Tiếp theo là quá trình tạo phoi, dồn ép kim loại gây biến dạng dẻo, biến dạng đàn hồi xảy ra đồng thời.
Do vậy chiều dày phoi thực tế
z
a
nhỏ hơn chiều sâu cắt thực tế
t
. Các nghiên cứu cho thấy rằng
z
a
,
t
phụ thuộc vào hình dáng hình học của lưỡi cắt, vào góc tác dụng

, vào vận tốc cắt
d
v
. Ngồi ra
z
a
còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: các thành phần của lực cắt, vào cơ lý tính của
vật liệu gia cơng. Khi lưỡi cắt bị mòn

lớn, góc

nhỏ thì biến dạng vật liệu tăng lên mặc dù
t
lớn nhưng
z
a
vẫn nhỏ. Khi tăng
c
v
có ma sát giữa lưỡi cắt và bề mặt mài thì
z
a
tăng.

1.3 Lực cắt khi mài.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

×