1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Tình trạng thiếu máu theo một số chỉ số huyết học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.45 MB, 73 trang )


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 3.16. Hb trung bình hồng cầu và tình trạng mang gen bệnh MCH pg
Mang gen 28
≥28 Trung bình
p
Có n n = 44
32 12
23,43  4,93 0,05
72,73 27,27
Khơng n n = 44
231 177
26,67  3,56 56,62
43,38
Tổng 263
189
Nhận xét: ở nhóm trẻ mang gen bệnh có tỷ lệ MCH≥28 và trung bình
MCH và thấp hơn nhóm trẻ khơng mang gen bệnh. Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê p0,05.

3.3.3. Tình trạng thiếu máu theo một số chỉ số huyết học


Bảng 3.17. Tỷ lệ mang gen bệnh và thiếu máu theo nồng độ Hb Thiếu máu
Mang gen khơng
Có Tổng
p
Có n
21 23
44 0,01
47,7 52,3
Khơng n
276 132
408
67,6 32,4
Tổng 297
155 452
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
Nhận xét: tỷ lệ thiếu máu theo nồng độ huyết sắc tố ở nhóm trẻ mang gen bệnh -Thal là 52,3 cao hơn hẳn nhóm khơng mang gen bệnh 32,4.
Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê p0,01
Biểu đồ 3.9. Tình trạng mang gen bệnh và mức độ thiếu máu theo Hb
Bảng 3.18. Tỷ lệ mang gen bệnh và tỷ lệ thiếu máu theo SLHC Thiếu máu
Mang gen khơng
Có Tổng
p
Có n
43 1
44 0,05
97,7 2,3
Khơng n
378 30
408
92,6 7,4
Tổng 421
31 452
47.7 67.6
52.3
32.4
10 20
30 40
50 60
70
T û

Kh«ng thiÕu máu Thiếu máu
Tình trạng thiếu máu
Mang gen Không mang gen
S hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http:www.lrc-tnu.edu.vn
Nhận xét: tỷ lệ thiếu máu theo số lượng hồng cầu ở nhóm trẻ mang gen bệnh -Thal là 2,3, ở nhóm trẻ khơng mang gen bệnh là 7,4.
Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p0,05.

Chương 4 BÀN LUẬN


4.1. Những thông tin chung


Chúng tôi đã tiến hành điều tra nghiên cứu 452 trẻ 210 trẻ dân tộc Dao và 242 trẻ dân tộc Tày, trong đó có 245 trẻ nam và 207 trẻ nữ. Như vậy, về
cơ bản mẫu nghiên cứu có tỷ lệ tương đương nhau giữa 2 nhóm dân tộc và giới tính p0,05 là hồn tồn chấp nhận được.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi bảng 3.2 cũng cho thấy tỷ lệ trẻ ở cả 3 nhóm tuổi 3 - 5, 6 - 10, 11 - 15 tuổi của 2 dân tộc Tày và Dao là tương
đương nhau. Tuy nhiên, số trẻ ở nhóm từ 3 - 5 tuổi ở cả hai dân tộc có thấp hơn so với 2 nhóm tuổi khác, thực tế là do trẻ em ở độ tuổi này hầu hết được
chăm sóc ở nhà, các gia đình sống khá phân tán hơn nữa do quan điểm tập quán người dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu về việc khám bệnh và lấy
máu ở tuổi này còn lạc hậu nên chúng tơi khó thực hiện việc lấy mẫu.

4.2. Về tỷ lệ mang gen bệnh -Thalassemia


Kết quả nghiên cứu của chúng tôi bảng3.3 cho thấy tỷ lệ trẻ mang gen bệnh -Thal chung cho cả 2 nhóm dân tộc là 9,73 và khơng có sự khác biệt
về tỷ lệ mang gen bệnh giữa 2 nhóm dân tộc Dao: 9,66, Tày: 9,80 . Như vậy tỷ lệ mang gen bệnh ở hai dân tộc cũng tương đối cao. Kết quả của chúng
tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh [9], tỷ lệ mang gen bệnh -Thal ở dân tộc Tày là 11,0 và kết quả nghiên cứu Vũ Thị
Bích Vân nghiên cứu ở dân tộc Nùng và H’Mông tại Thái Nguyên 10,74 [29]. Tuy nhiên tỷ lệ này cao hơn nhiều so với dân tộc Kinh tại Hà Nội
1,49, Kinh đồng bằng Bắc bộ 1,17 [9]. Cũng như Kinh miền Trung 2,55 [11]. Tỷ lệ này cũng cao hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của
Dương Bá Trực và CS về tỷ lệ lưu hành gen bệnh ở người Êđê miền Trung 1,0 [24], Nguyễn Đắc Lai và CS ở dân tộc Vân Kiều miền Trung 2,56
[15]. Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét của Nguyễn Công Khanh và CS là bệnh -Thal phổ biến ở dân tộc ít người đa số ở thể dị hợp tử hơn các
loại bệnh Hb khác 10. Tuy nhiên tỷ lệ lưu hành gen bệnh trong kết quả nghiên cứu của chúng tơi còn thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyên
Công Khanh về một số dân tộc thiểu số ở phía Bắc như: Mường 25,0, Thái 16,6, Sán dìu 14,3… 10.
Chúng tôi thấy tất cả trẻ mang gen bệnh đều là thể dị hợp tử thể nhẹ, nhận xét này cũng phù hợp với với nhận
xét của Lê Quế [20] khi nghiên cứu trên cộng đồng người nhà các bệnh nhân mang tật huyết sắc tố qua điều tra hộ gia đình. Thể nặng gặp trong cộng đồng
thường rất ít, có lẽ một số tử vong sớm, số khác đang điều trị tại các bệnh viện nên chúng tôi không gặp trường hợp nào trong thời điểm điều tra.
Kết quả của chúng tôi thấy tỷ lệ lưu hành bệnh -Thal ở trẻ em hai dân tộc Tày và Dao huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên cũng nằm trong giới hạn
về lưu hành -Thal ở khu vực Đông Nam Á mà một số tác giả đã công bố dưới đây [38]:
Tác giả Địa dư
Năm nghiên
cứu Tỷ lệ lưu
hành Suthat Fucharoen
Thái Lan 1997
3 - 9
Suthat Fucharoen Lào
1997 9,0
Suthat Fucharoen
Indonesia 1997
1 - 10
Suthat Fucharoen Myanma
1997 4,3
Để tìm hiểu liệu có mối liên quan nào giữa giới tính và tỷ lệ mang gen bệnh -Thal, chúng tôi đã tiến hành phân tích bảng 3.4 và thấy rằng tỷ lệ
mang gen bệnh -Thal khơng có liên quan tới giới tính ở cả hai dân tộc
p0,05. Kết quả này cũng phù hợp với đặc điểm của bệnh là một bệnh di truyền do đột biến gen tổng hợp mạch -Globin polypeptit nằm trên cánh
ngắn của NST 11 [32], [54], không liên quan tới nhiễm sắc thể giới tính. Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nhận định của Nguyễn Công Khanh khi
nghiên cứu về các trường hợp bệnh -Thal ở miền Bắc [9]. Về phân bố tỷ lệ mang gen bệnh -Thal theo độ tuổi bảng 3.5 cho
thấy tỷ lệ mang gen -Thal cao nhất ở nhóm tuổi từ 11 - 15 tuổi là 11,29, cao hơn nhóm tuổi từ 6 - 10 tuổi 9,52 và nhóm tuổi từ 3 - 5 tuổi 3,51.
Tuy nhiên sự khác biệt này là khơng có ý nghĩa thống kê p0,05. Như vậy là khơng có sự khác biệt giữa độ tuổi và tỷ lệ mang gen bệnh -Thal. Kết quả
này cũng phù hợp với một số nghiên cứu đã công bố trước như của Đỗ Trung Phấn và CS [18] kết luận rằng “Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, tập trung chủ yếu ở
tuổi trẻ”.
4.3. Một số yếu tố liên quan đến trẻ mang gen bệnh  -Thal 4.3.1. Về một số dấu hiệu lâm sàng
Kết quả của chúng tôi cho thấy biểu hiện lâm sàng của những người mang gen -Thal là rất kín đáo, khó nhận biết, chủ yếu là da xanh 13,95,
niêm mạc nhợt 2,32 bảng 3.6, bảng 3.7. Ngồi ra chúng tơi khơng phát hiện thêm dấu hiệu lâm sàng nào khác như: gan to, lách to, bộ mặt huyết tán,
vàng da… Như vậy, tỷ lệ trẻ có dấu hiệu lâm sàng trong tổng số trẻ mang gen -Thal là thấp và khơng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ da xanh,
niêm mạc nhợt giữa nhóm trẻ mang gen bệnh và trẻ không mang gen bệnh. Kết quả nghiên cứu này khác đáng kể với kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Bích
Vân [29] nghiên cứu tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, da xanh là 69,7, và kết quả nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh không gặp trường hợp nào
[9]. Theo chúng tơi sở dĩ có sự khác biệt này là do nghiên cứu của chúng tôi và các nghiên cứu khác đã được thực hiện trên các quần thể khác nhau mà da
xanh, niêm mạc nhợt là những biểu hiện lâm sàng khơng chỉ do bệnh -Thal mà còn là biểu hiện của thiếu máu do nhiều nguyên nhân khác nữa gây nên
chẳng hạn thiếu máu thiếu sắt... Nên việc xác định các dấu hiệu lâm sàng trên để đánh giá và chẩn đoán -Thal tại cộng đồng là rất khó khăn. Điều này cho
thấy có được các tiêu chí lâm sàng và cận lâm sàng thích hợp và đơn giản để sàng lọc chẩn đoán người mang gen bệnh tại cộng đồng là hết sức cần thiết
trong điều kiện hiện nay. Về mặt phát triển thể chất, trong kết quả của chúng tơi cho thấy khơng có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa chiều cao và cân nặng trung bình ở hai nhóm trẻ mang gen bệnh và không mang gen bệnh p0,05.
Chứng tỏ rằng trẻ mang gen bệnh ở quần thể nghiên cứu của chúng tơi là khơng có ảnh
hưởng đáng kể đến phát triển cân nặng và chiều cao. Theo chúng tôi như vậy
cũng khá phù hợp do trong nghiên cứu này nhóm trẻ mang gen bệnh chủ yếu tồn tại ở thể dị hợp tử.
Khác biệt rõ ràng với kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Ngọc Lan [16] nghiên cứu trên những bệnh nhân -Thal thể nặng và thể
kết hợp -ThalHbE nhận thấy có sự khác biệt rõ ràng về sự phát triển thể chất của trẻ em mang bệnh và trẻ em bình thường.

4.3.2. Về một số đặc điểm máu ngoại vi


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

×