1. Trang chủ >
  2. Tài Chính - Ngân Hàng >
  3. Ngân hàng - Tín dụng >
Tải bản đầy đủ - 46 (trang)
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ CHÍNH THỨC (ODA) VÀ GIẢI NGÂN VỐN ODA

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ CHÍNH THỨC (ODA) VÀ GIẢI NGÂN VỐN ODA

Tải bản đầy đủ - 46trang

tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức

liên quốc gia hoặc liên chính phủ”. Như vậy vốn ODA phản ánh mối quan hệ

giữa 2 bên: bên tài trợ gồm các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước phát triển

và bên nhận tài trợ là Chính phủ một nước (thường là một nước đang phát triển)

với mục đích giúp đỡ nước này phát triển kinh tế-xã hội. Bộ phận chính của

nguồn vốn ODA là vốn vay ưu đãi, Chính phủ nước nhận tài trợ (vay nợ) phải

thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ trong tương lai.

1.1.1.2. Đặc điểm vốn ODA.

ODA là một giao dịch quốc tế, thể hiện ở chỗ hai bên tham gia giao dịch

này không có cùng quốc tịch. Bên cung cấp thường là các nước phát triển hay

các tổ chức phi chính phủ. Bên tiếp nhận thường là các nước đang phát triển hay

các nước gặp khó khăn về nguồn lực trong việc giải quyết các vấn đề xã hội,

kinh tế hay môi trường.

ODA thường được thực hiện qua hai kênh giao dịch là kênh song phương

và kênh đa phương. Kênh song phương, quốc gia tài trợ cung cấp ODA trực tiếp

cho chính phủ quốc gia được tài trợ. Kênh đa phương, các tổ chức quốc tế hoạt

động nhờ các khoản đóng góp của nhiều nước thành viên cung cấp ODA cho

quốc gia được viện trợ. Đối với các nước thành viên thì đây là cách cung cấp

ODA gián tiếp.

ODA là một giao dịch chính thức. Tính chính thức của nó được thể hiện ở

chỗ giá trị của nguồn ODA là bao nhiêu, mục đích sử dụng là gì phải được sự

chấp thuận và phê chuẩn của chính phủ quốc gia tiếp nhận. Sự đồng ý tiếp nhận

đó được thể hiện bằng văn bản, hiệp định, điều ước quốc tế ký kết với nhà tài trợ.

ODA được cung cấp với mục đích rõ ràng. Mục đích của việc cung cấp

ODA là nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của các nước nghèo. Đôi lúc

ODA cũng được sử dụng để hỗ trợ các nước gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

như khủng hoảng kinh tế, thiên tai, dịch bệnh...Do đó, có lúc các nước phát triển

cũng được nhận ODA. Nhưng không phải lúc nào mục đích này cũng được đặt

lên hàng đầu, nhiều khi các nhà tài trợ thường áp đặt điều kiện của mình nhằm

thực hiện những toan tính khác.

2



ODA có thể được các nhà tài trợ cung cấp dưới dạng tài chính, cũng có

khi là hiện vật. Hiện nay, ODA có ba hình thức cơ bản là viện trợ không hoàn lại

(Ggant Aid), vốn vay ưu đãi ( Loans Aid ) và hình thức hỗn hợp.

1.1.2. Phân loại vốn ODA.



1.1.2.1. Phân loại theo tính chất.

ODA không hoàn lại: Đây là nguồn vốn ODA mà nhà tài trợ cấp cho các

nước nghèo không đòi hỏi phải trả lại. Cũng có một số nước khác được nhận loại

ODA này khi gặp phải các vấn đề nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh...Đối

với các nước đang phát triển, nguồn vốn này thường được cấp dưới dạng các dự

án hỗ trợ kỹ thuật, các chương trình xã hội hoặc hỗ trợ cho công tác chuẩn bị dự

án. ODA không hoàn lại thường ưu tiên và cung cấp thường xuyên cho lĩnh vực

giáo dục, y tế. Các nước Châu Âu hiện nay dành một phần khá lớn ODA không

hoàn lại cho vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ rừng và các loài thú

quý.

ODA vốn vay ưu đãi: đây là khoản tài chính mà chính phủ nước nhận phải

trả nước cho vay, chỉ có điều đây là khoản vay ưu đãi. Tính ưu đãi của nó được

thể hiện ở mức lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại vào thời điểm cho vay, thời

gian vay kéo dài, có thể có thời gian ân hạn. Trong thời gian ân hạn, nhà tài trợ

không tính lãi hoặc nước đi vay được tính một mức lãi suất đặc biệt. Loại ODA

này thường được nước tiếp nhận đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng xã hội như

xây dựng đường xá, cầu cảng, nhà máy...Muốn được nhà tài trợ đồng ý cung cấp,

nước sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên các cơ quan có thẩm quyền của

chính phủ nước tài trợ. Sau khi xem xét khả thi và tính hiệu quả của dự án, cơ

quan này sẽ đệ trình lên chính phủ để phê duyệt. Loại ODA này chiếm phần lớn

khối lượng ODA trên thế giới hiện nay.

Hình thức hỗn hợp: ODA theo hình thức này bao gồm một phần là ODA

không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ưu đãi. Đây là loại ODA được áp

dụng phổ biến trong thời gian gần đây. Loại ODA này được áp dụng nhằm mục

đích nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.

3



1.1.2.2. Phân loại theo mục đích.

Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng kinh tế - xã hội và môi trường. đây thường là những khoản cho vay ưu

đãi.

Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công

nghệ, xây dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu

tư phát triển thể chế và nguồn nhân lực...Loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ

không hoàn lại.

1.1.2.3. Phân loại theo điều kiện

ODA không ràng buộc: Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc

bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.

-



ODA có ràng buộc:



+

Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được cung cấp

dành để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho một số

công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương),

hoặc công ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).

+

Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ chỉ được

cung cấp nguồn vốn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn vốn này cho

những lĩnh vực nhất định hay những dự án cụ thể.

ODA ràng buộc một phần: Nước nhận viện trợ phải dành một phần ODA

chi ở nước viện trợ (như mua sắm hàng hoá hay sử dụng các dịch vụ của nước

cung cấp ODA), phần còn lại có thể chi ở bất cứ đâu.

1.1.2.4. Phân loại theo hình thức:

Hỗ trợ dự án: Đây là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án

cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không hoặc

cho vay ưu đãi.

4



Hỗ trợ phi dự án: Là loại ODA được nhà tài trợ cung cấp trên cơ sở tự

nguyện.

Nhận thức về các vấn đề bức xúc ở nước sở tại, nhà tài trợ yêu cầu chính

phủ nước sở tại được viện trợ nhằm tháo gỡ những khó khăn đó. Khi được chính

phủ chấp thuận thì việc viện trợ được tiến hành theo đúng thoả thuận của hai

bên. Loại ODA này thường được cung cấp kèm theo những đòi hỏi từ phía chính

phủ nước tài trợ. Do đó, chính phủ nước này phải cân nhắc kỹ các đòi hỏi từ phía

nhà tài trợ xem có thoả đáng hay không. Nếu không thoả đáng thì phải tiến hành

đàm phán nhằm dung hoà điều kiện của cả hai phía. Loại ODA này thường có

mức không hoàn lại khá cao, bao gồm các loại hình sau:

+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: Trong đó thường là hỗ trợ tài chính trực

tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hay hỗ trợ xuất nhập

khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá được chuyển vào qua hình thức này có thể

được sử dụng để hỗ trợ cho ngân sách.

+ Hỗ trợ trả nợ: Nguồn ODA cung cấp dùng để thanh toán những món

nợ mà nước nhận viện trợ đang phải gánh chịu.

+ Viện trợ chương trình: Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng

quát với thời gian xác định mà không phải xác định chính xác nó sẽ được

sử dụng như thế nào.

1.1.3. Vai trò của vốn ODA đối với các nước đang phát triển.



Xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới đang là điều kiện bắt buộc các

nước đang phát triển phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả, tính cạnh tranh của

nền kinh tế và vấn đề thiếu vốn đang là trở ngại lớn nhất trên con đường tìm

kiếm sự phát triển của các nước này. Hàng năm, với tinh thần nhân đạo cao cả,

các nước phát triển đã cung cấp một khối lượng ODA đáng kể trị giá hàng trăm

tỷ USD cho các quốc gia đang phát triển. Khối lượng ODA đó có vai trò rất quan

trọng đối với các nước này, nó cho phép họ có một khoản tiền để giải quyết một

số vấn đề cấp thiết, và đầu tư vào hạ tầng cơ sở, các công trình công cộng.



5



Hiện nay, xu hướng chung của các nước đang phát triển là tìm cách thu hút

nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI và ODA), bổ sung cho nguồn vốn eo hẹp

trong nước. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có ưu điểm là khối

lượng vốn đầu tư lớn và nước tiếp nhận không phải chịu gánh nặng nợ nần.

Nhưng nếu muốn thu hút được nhiều nguồn vốn FDI thì đòi hỏi các nước đang

phát triển phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, một môi trường kinh doanh

thuận lợi. Đây là những yếu tố mà các nước đang phát triển còn thiếu. Nếu chỉ

thu hút riêng vốn FDI thì không đủ nhu cầu ngày càng cao về vốn cho phát triển

kinh tế - xã hội. Vì vậy, phải thu hút nguồn vốn ODA để bổ sung nhu cầu về

vốn. ODA có ưu điểm là nước tiếp nhận được chủ động trong việc sử dụng

nguồn vốn này vào những lĩnh vực mà mình quan tâm. Ngoài việc sử dụng vốn

ODA để giải quyết các vấn đề khác của đất nước thì ODA có thể tập trung cho

việc xây dựng cơ sở hạ tầng, làm cho môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Điều

này sẽ góp phần tích cực tăng khả năng thu hút nguồn vốn FDI của các nước

đang phát triển.

1.2.



Sự cần thiết phải tăng cường thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải

ngân vốn ODA ở Việt Nam.



Đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, đất nước ta còn nghèo nàn và lạc

hậu, hiện nay chúng ta chưa có đủ các tiền đề cần thiết cho một sự phát triển bền

vững. Để phát triển nền kinh tế với tốc độ nhanh trong khi nền kinh tế nhỏ bé

đang thiếu vốn nghiêm trọng và tiết kiệm trong nước còn quá thấp thì cần phải

bổ sung vốn đầu tư bằng khối lượng lớn nguồn vốn nước ngoài. Huy động vốn

nước ngoài rất cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển

nền kinh tế để hoà nhập với kinh tế thế giới, trong đó tranh thủ vốn ODA là một

chủ trương lớn của nước ta từ giai đoạn mở cửa.

Hiện nay các khoản thu của ngân sách không đủ đáp ứng các nhu cầu chi.

Thuế là nguồn thu chủ yếu nhưng mỗi năm vẫn bị thất thu một số lượng lớn.

Năm 2012 tổng thu ngân sách của Nhà nước khoảng trên 742380 tỷ đồng trong

khi tổng các khoản chi xấp xỉ 905250 tỷ đồng. Như vậy chúng ta phải bù đắp bội

chi ngân sách khoảng 162870 tỷ đồng. Do đó, việc thu hút nguồn lực bên ngoài

sẽ giúp chính phủ trong việc giảm bội chi ngân sách.

6



Kể từ năm 1987, các công ty nước ngoài được phép chính thức hoạt động tại

Việt Nam. Khối lượng vốn của các công ty này đã giúp đỡ rất nhiều cho chính

phủ trong việc khắc phục tình trạng thiếu vốn. Chính nhờ quyết định mở cửa

này, nền kinh tế Việt Nam đã có bước tăng trưởng vượt bậc trong hơn 26 năm

qua, quan hệ sản xuất tỏ ra phù hợp hơn, lực lượng lao động được giải phóng,

nến kinh tế trong nước phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, về cơ bản nền kinh

tế đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài hàng chục năm qua. Vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài có vai trò rất lớn trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước, tuy

nhiên bên cạnh đó nó cũng bộc lộ những mặt hạn chế. Nhà đầu tư chỉ quan tâm

bỏ vốn đầu tư vào những lĩnh vực có khả năng sinh lợi và hiệu quả kinh tế

nhanh. Điều này đã gây ra sự phát triển mất cân đối trong nền kinh và không

thực hiện được nhiều mục tiêu kinh tế-xã hội khác.

Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng

đặc biệt của nguồn vốn ODA đối với tiến trình phát triển nền kinh tế- xã hội của

đất nước. Do đó, phải tăng cường khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả

nguồn vốn này. Hiện nay, việc giải ngân chậm đang là một tồn tại rất lớn cần

sớm được khắc phục.

Thời gian qua, Việt Nam đã khá thành công trong việc vận động, thu hút

nguồn vốn ODA thông qua việc tổ chức Hội nghị các nhà tài trợ (CG). Kết quả

của những nỗ lực trên là 78 tỷ USD vốn ODA mà cộng đồng các nhà tài trợ đã

cam kết dành cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012. Tuy nhiên, muốn có

được số vốn này để đầu tư vào các chương trình, dự án thì còn là một quá trình

từ xác định dự án, chuẩn bị dự án, thẩm định dự án, đàm phán vay vốn và phê

duyệt khoản vay cho tới thực hiện dự án. Có thể hiểu, để đưa những đồng vốn

ODA mà các nhà tài trợ đã cam kết vào thực hiện các chương trình, dự án chính

là quá trình giải ngân vốn ODA. Như vậy, muốn tận dụng tốt nguồn vốn ODA,

biến những cam kết của các nhà tài trợ thành hiện thực, chúng ta phải giải quyết

triệt để những yếu tố gây cản trở quá trình giải ngân nguồn vốn này. Có tăng

được tỷ lệ giải ngân thì việc thu hút nguồn vốn ODA mới thực sự có tác dụng.

Đẩy nhanh tiến độ giải ngân mới làm cho đồng vốn ODA thực sự đi vào cuộc

sống góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.



7



Trong những năm qua, vốn ODA thực hiện đã góp phần quan trọng vào việc

phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, trong đó có nhiều dự án đã hoàn thành

và có tác động tích cực, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Biến Việt Nam từ một

nước nghèo có mức thu nhập GDP theo đầu người chỉ với 140 USD/người/năm

vào năm 1992 nay đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, với mức thu

nhập GDP bình quân đầu người đạt 1.600 USD vào năm 2012. Bên cạnh những

kết quả tích cực, chúng ta cũng thấy rằng, quá trình quản lý, sử dụng ODA ở

Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế. Ðó là năng lực hấp thu viện trợ

quốc gia chưa cao, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn ODA còn chậm so với kế

hoạch, thủ tục trong nước vẫn còn phức tạp, khác biệt với quy định của các nhà

tài trợ quốc tế... Nhận thức rõ việc thực hiện các chương trình, dự án ODA có ý

nghĩa quan trọng, dưới sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Chính phủ, các bộ,

ngành, địa phương đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện tình hình giải ngân

vốn ODA.

Chính vì vậy chủ trương của Việt Nam tiếp tục: "Tranh thủ thu hút nguồn

tài trợ phát triển chính thức (ODA) đa phương và song phương, tập trung chủ

yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nâng cao trình độ khoa

học công nghệ và quản lý đồng thời dành một phần vốn tín dụng đầu tư cho các

ngành nông, lâm, ngư nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng. Ưu tiên dành viện trợ

không hoàn lại cho những vùng chậm phát triển. Các dự án sử dụng vốn vay

phải có phương án trả nợ vững chắc, xác định rõ trách nhiệm trả nợ, không

được gây thêm gánh nặng nợ nần không trả được. Phải sử dụng nguồn vốn ODA

có hiệu quả và kiểm tra, quản lý chặt chẽ, chống lãng phí, tiêu cực". (Văn kiện

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, trang 197, Nhà xuất bản Chính trị Quốc

Gia Hà Nội, 1996).

1.3. Kinh nghiệm của một số nước trong việc sử dụng nguồn vốn ODA.

1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước thành công:

Trung Quốc: quản lý tập trung, thực hiện phi tập trung.

Nguyên nhân thành công trong việc sử dụng vốn ODA là nhờ chiến lược

hợp tác tốt, xây dựng tốt các dự án, cơ chế điều phối và thực hiện tốt, cơ chế theo

8



dõi và giám sát chặt chẽ. Đặc biệt việc trả vốn ODA ở Trung Quốc theo cách “ai

hưởng lợi, người đó trả nợ” buộc người sử dụng phải tìm ra giải pháp để sản sinh

lợi nhuận và lo bảo vệ nguồn vốn.

Ba Lan: vốn vay không hoàn lại vẫn được giám sát chặt.

Để sử dụng vốn ODA hiệu quả, trước hết tập trung vào nhân lực và năng lực

thể chế, cơ sở lập pháp rõ ràng và chính xác trong từng quá trình cùng với quá

trình giải ngân phức tạp nhằm kiểm soát đồng tiền được sử dụng đúng mục đích.

Đặc biệt Ba Lan rất chú trọng công tác kiểm soát và kiểm toán để thúc đẩy quá

trình dự án.

Malaysia: Phối hợp chặt chẽ với nhà tài trợ cùng kiểm tra, đánh giá.

Ở Malaysia vốn được quản lý tập trung vào một đầu mối là Văn phòng Kinh

tế Kế Hoạch, Malaysia rất chú trọng vào công tác theo dõi đánh giá và khuyến

khích phối hợp đánh giá giữa nhà tài trợ và nước nhận tài trợ.

1.3.2. Kinh nghiệm của một số nước không thành công:

Những thất bại trong việc sử dụng vốn ODA của các nước không thành

công có thể tóm tắt như sau:

Thứ nhất, thất bại do yếu kém trong khâu chuẩn bị, thực hiện và giám sát dự

án như trường hợp Tanzania (ODA dành cho xây dưng giao thông vận tải nhưng

giao thông vận tải của nước này chưa hề được cải thiện).

Thứ hai, chất lượng nguồn vốn bên ngoài nói chung và vốn ODA vẫn chưa

đủ mức cần thiết để nền kinh tế kém phát triển giữ nhịp độ tăng trưởng. Thiếu dự

trù trước, dự trù dài hạn các luồng vốn và đảm bảo tính liên tục của chúng.

Thứ ba, sự dựa dẫm thụ động vào viện trợ đã dẫn đến những tình trạng như

sử dụng vượt mức, phân bổ không hiệu quả, quản lý yếu kém, thiếu sự cam kết

của bên tiếp nhận như trường hợp của Zambia.



9



Thứ tư, thiếu động lực và năng lực quản lý trong khu vực Nhà nước như

trường hợp của Senegal trong giai đoạn từ 1986-1993.

Từ kinh nghiệm của các nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm có

thể vận dụng vào Việt Nam như sau:

Thứ nhất, tính chủ động của bên nhận viện trợ là yếu tố quan trọng có tính

quyết định đến thành công của việc thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn ODA.

Tính chủ động thể hiện qua việc chủ động hoạch định chiến lược chủ động quy

hoạch dự án và tiếp cận, phối hợp, điều phối các nhà tài trợ.

Thứ hai, nhìn nhận vốn ODA là quan trọng nhưng vốn đối ứng trong nước

có tính quyết định. Nếu sử dụng vốn ODA không hiệu quả thì không những

không có tác động tích cực vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói và giảm nghèo mà

còn đẩy đất nước vào vòng nợ nước ngoài, nền kinh tế phụ thuộc vào nước ngoài

càng trầm trọng hơn.

Thứ ba, phải coi trọng hiệu quả sử dụng vốn ODA hơn là số lượng vốn

ODA. Mục tiêu cuối cùng là hiệu quả tích cực của vốn ODA đem lại, vốn ODA

cũng tuân theo qui luật lợi ích cận biên giảm dần, nên việc thu hút và sử dụng

vốn ODA phải vừa đảm bảo tính có trọng điểm và vừa đảm bảo tính đa dạng

theo chiều rộng.

Thứ tư, vốn ODA luôn đi kèm với các điều kiện về kinh tế, chính trị và mỗi

nhà tài trợ đều có hướng tập trung vào một số lĩnh vực nào đó. Vì vậy, khi đàm

phán, ký kết tiếp nhận vốn ODA phải tuân theo nguyên tắc độc lập dân chủ và

đối vời từng nhà tài trợ lớn phải có chính sách khai thác riêng.

Thứ năm, quá trình xây dựng dự án và khai thác, vận hành các dự án sử

dụng vốn ODA phải có cơ chế thu hút sự tham gia của công chúng. Có như vậy

mới tạo ra sự bền vững của dự án và hiệu quả lâu dài của vốn.



10



CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN

NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993-2012

2.1. Đánh giá chung về tình hình giải ngân vốn ODA.

2.1.1. Tình hình giải ngân chung qua các năm.

Tính đến hết năm 2012, tổng vốn ODA mà cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế

cam kết hỗ trợ Việt Nam đã lên tới trên 78 tỷ USD. Tính trung bình mỗi năm

Việt Nam thu hút thêm hơn 4 tỷ USD ODA từ các nhà tài trợ. Tuy nhiên, không

phải hầu hết các cam kết viện trợ đều được hiện thực hóa. Đến nay, Việt Nam

mới nhận hơn 56 tỷ USD, đạt 72% giá trị cam kết và đã giải ngân được 38,7 tỷ

USD trong tổng giá trị nguồn vốn viện trợ. Con số này cho thấy hiện nay vẫn

còn một khối lượng lớn vốn ODA chưa được đưa vào thực hiện, đây là một sự

lãng phí lớn trong khi nền kinh tế Việt Nam đang rất cần vốn cho sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nhìn chung, về lượng tuyệt đối thì giá trị giải ngân tăng đều qua các năm.

Năm đầu tiên tiếp nhận ODA, lượng giải ngân mới chỉ đạt 413 triệu USD, nhưng

đến năm 2012 lượng giải ngân đã đạt mức 5279 triệu USD. Điều đó chứng tỏ sự

cố gắng của Việt Nam trong việc tranh thủ tối đa nguồn ngoại lực quan trọng

này. Tuy nhiên xét về tỷ trọng giải ngân vốn ODA so với mức ký kết thì còn

thấp, tính chung cho cả thời kỳ 1993-2012 thì con số này chỉ là 69,5%, còn so

với mức cam kết mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thì chỉ đạt 49,1%. Nếu

nhìn cả quá trình, dù hàng năm, giải ngân ODA đều có xu hướng tăng, song nếu

nhìn vào tỷ lệ giữa vốn ODA cam kết, ký kết và vốn giải ngân, thì dường như,

khoảng cách đang "loãng" dần ra. Giai đoạn 1996 - 2000, vốn cam kết là 11,54

tỷ USD, vốn ký kết là 9 tỷ USD, vốn giải ngân là 6,14 tỷ USD; trong khi các con

số tương ứng trong giai đoạn 2001 - 2005 là 14,889 tỷ USD, 11,237 tỷ USD và

7,88 tỷ USD; còn trong giai đoạn 2006 - 2009 là 23,849 tỷ USD, 17,282 tỷ USD

và 10,3 tỷ USD, giai đoạn 2010-2012 là 23,354 tỷ USD, 14,368 tỷ USD và

12,470 tỷ USD. Con số này cũng cho ta thấy thực trạng hiện nay chúng ta chú



11



trọng nhiều đến công tác thu hút, vận động ODA tuy nhiên lại không quan tâm

thích đáng đến quá trình thực hiện, sử dụng nguồn vốn này.

Bảng 2.1.Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-2012.

ĐVT: Triệu USD

Tỷ lệ

Chênh Tỷ lệ tăng

Tỷ lệ giải

Giải

giải

lệch vốn

vốn giải

Năm Cam kết Ký kết

ngân/cam

ngân

ngân/ký giải ngân

ngân

kết (%)

kết (%) ODA(+/-) ODA (%)

1993

1860,8 816,68

413

22,19

50,57

1994

1958,7 2597,9

725

37,01

27,91

312

75,54

1995

2311,5 1443,5

737

31,88

51,06

12

1,66

1996

2430,9 1597,4

900

37,02

56,34

163

22,12

1997

2377,1 1685,8

1000

42,07

59,32

100

11,11

1998

2192 2444,3

1242

56,66

50,81

242

24,20

1999

2146 1503,2

1350

62,91

89,81

108

8,70

2000

2400,5 1772,1

1650

68,74

93,11

300

22,22

Tổng 17677,5 13860,9

8017

45,35

57,84

2001

2399,1 2427,4

1500

62,52

61,79

-150

-9,09

2002

2462 1826,1

1528

62,06

83,68

28

1,87

2003

2838,4 1772,9

1422

50,10

80,21

-106

-6.94

2004

3440,7 2569,2

1650

47,96

64,22

228

16,03

2005

3748 2529,1

1782

47,55

70,46

132

8,00

Tổng 14888,2 11124,7

7882

52,94

70,85

2006

4445,6 2824,6

1785

40,15

63,20

3

0,17

2007

5426 3795,9

2176

40,10

57,33

391

21,90

2008

5014,6 4348,5

2253

44,93

51,81

77

3,54

2009

8063,78 6131,4

4105

50,91

66,95

1852

82,20

Tổng

22950 17100,4 10319

44,96

60,34

2010

7905

3172

3541

44,79

111,63

-564

-13,74

2011

7880

5477

3650

46,32

66,64

109

3,08

2012

7386

4919

5279

71,47

107,32

1629

44,63

Tổng

23171

13568 12470

53,82

91,91

Tổng

78686,7

55654 38688

49,17

69,52

cộng

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ CHÍNH THỨC (ODA) VÀ GIẢI NGÂN VỐN ODA

Tải bản đầy đủ ngay(46 tr)

×