1. Trang chủ >
  2. Tài Chính - Ngân Hàng >
  3. Ngân hàng - Tín dụng >
Tải bản đầy đủ - 46 (trang)
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993-2012

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993-2012

Tải bản đầy đủ - 46trang

trọng nhiều đến công tác thu hút, vận động ODA tuy nhiên lại không quan tâm

thích đáng đến quá trình thực hiện, sử dụng nguồn vốn này.

Bảng 2.1.Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993-2012.

ĐVT: Triệu USD

Tỷ lệ

Chênh Tỷ lệ tăng

Tỷ lệ giải

Giải

giải

lệch vốn

vốn giải

Năm Cam kết Ký kết

ngân/cam

ngân

ngân/ký giải ngân

ngân

kết (%)

kết (%) ODA(+/-) ODA (%)

1993

1860,8 816,68

413

22,19

50,57

1994

1958,7 2597,9

725

37,01

27,91

312

75,54

1995

2311,5 1443,5

737

31,88

51,06

12

1,66

1996

2430,9 1597,4

900

37,02

56,34

163

22,12

1997

2377,1 1685,8

1000

42,07

59,32

100

11,11

1998

2192 2444,3

1242

56,66

50,81

242

24,20

1999

2146 1503,2

1350

62,91

89,81

108

8,70

2000

2400,5 1772,1

1650

68,74

93,11

300

22,22

Tổng 17677,5 13860,9

8017

45,35

57,84

2001

2399,1 2427,4

1500

62,52

61,79

-150

-9,09

2002

2462 1826,1

1528

62,06

83,68

28

1,87

2003

2838,4 1772,9

1422

50,10

80,21

-106

-6.94

2004

3440,7 2569,2

1650

47,96

64,22

228

16,03

2005

3748 2529,1

1782

47,55

70,46

132

8,00

Tổng 14888,2 11124,7

7882

52,94

70,85

2006

4445,6 2824,6

1785

40,15

63,20

3

0,17

2007

5426 3795,9

2176

40,10

57,33

391

21,90

2008

5014,6 4348,5

2253

44,93

51,81

77

3,54

2009

8063,78 6131,4

4105

50,91

66,95

1852

82,20

Tổng

22950 17100,4 10319

44,96

60,34

2010

7905

3172

3541

44,79

111,63

-564

-13,74

2011

7880

5477

3650

46,32

66,64

109

3,08

2012

7386

4919

5279

71,47

107,32

1629

44,63

Tổng

23171

13568 12470

53,82

91,91

Tổng

78686,7

55654 38688

49,17

69,52

cộng

12



Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư

Biểu đồ 2.1. Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 19932012.

Đvt: Triệu USD



Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu tư

Giai đoạn 1993-2000: Theo biểu đồ ta thấy giai đoạn 1993-2000 lượng vốn

giải ngân liên tục tăng, tình hình giải ngân nguồn ODA có sự tiến bộ dần qua các

năm, đạt hơn 8 tỷ USD chiếm hơn 45% vốn ODA đã cam kết. Có được kết quả

này là nhờ chiến lược và chính sách phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam đã

giành được sự đồng tình và ủng hộ của cộng đồng tài trợ quốc tế thông qua việc

cung cấp viện trợ phát triển cho Việt Nam. Nhưng từ năm 1997 đến 1999 mặc

dù có sự sụt giảm về lượng vốn cam kết do lúc này nền kinh tế thế giới đang rơi

vào cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997. Nhưng mức giải ngân vẫn

liên tục tăng thể hiện sự nỗ lực và cố gắng của Việt Nam và các nhà tài trợ dù

tình hình kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn. Một số chương trình, dự án

ODA thực hiện xong và đang phát huy tác dụng tích cực trong sự nghiệp phát

triển kinh tế - xã hội của Việt Nam như Nhà máy nhiệt điện sử dụng khí thiên

nhiên Phú Mỹ 2 - giai đoạn 1 (công suất 400 MW). Một số công trình giao thông

13



quan trọng đã đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả như Quốc lộ 5; Quốc lộ 1A

đoạn Hà Nội - Vinh, đoạn TPHCM - Cần Thơ, đoạn TPHCM - Nha Trang. Cảng

Hải Phòng; các hệ thống cung cấp nước sinh hoạt ở Hà Nội, Lào Cai, Hoà Bình...

Nhiều bệnh viện ở các thành phố và thị xã như Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố

Hồ Chí Minh), Việt Đức (Hà Nội) và 9 bệnh viện ở Hà Nội... Chương trình tiêm

chủng mở rộng quốc gia, các chương trình y tế khác (chống sốt rét, bướu cổ,

AIDS - HIV...) được thực hiện có hiệu quả. Nhiều trường học nhất là các trường

tiểu học ở các tỉnh hay bị bão, lũ lụt ở miền Bắc và miền Trung đã được xây

dựng.

Giai đoạn 2001-2006, nguồn vốn ODA đã được giải ngân tính cho ngân

sách nhà nước (không bao gồm phần giải ngân cho các khoản chi tại nước tài trợ,

chi cho chuyên gia...) trong giai đoạn từ năm 2001 đến hết năm 2005 đạt khoảng

7.882 triệu USD, bằng 71,9% tổng giá trị các điều ước quốc tế về ODA đã ký kết

và bằng 55% tổng lượng ODA đã cam kết trong thời kỳ này. Nếu so với mức

giải ngân kế hoạch của chính phủ Việt Nam đề ra thì việc giải ngân vốn ODA

luôn luôn là thấp hơn so với cái mức mà nhà nước đặt ra (giải ngân 10 tỷ USD),

năm 2001 mới giải ngân được 1.500 triệu USD, năm 2002 giải ngân được 1.526

triệu USD,tăng 1,87% so với năm 2001 và năm 2003 thì giảm xuống chỉ còn

1.422 triệu USD, giảm 106 triệu USD, năm 2004 mức giải ngân đạt 1.650 triệu

USD và năm 2005 là 1.782 triệu USD. Theo biểu đồ ta thấy mức giải ngân năm

2001, 2002, 2003 thấp hơn so với mức giải ngân 2000 do chú trọng đưa vốn

ODA vào các công trình, dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông…Quy chế

quản lý sử dụng ODA còn nhiều vướng mắc đã làm chậm tốc độ giải ngân nguồn

vốn ODA vào đầu tư phát triển. Mức giải ngân năm 2002 tăng lên là do một số

nhà tài trợ lớn chuyển sang áp dụng cơ chế giải ngân nhanh các khoản vốn ODA.

Điều này đã bù lại cho mức giải ngân thấp trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng sau khi

hoàn thành một số dự án lớn về năng lượng trong giai đoạn 2000-2001 khiến cho

mức giải ngân 2001 giảm đáng kể. Sự suy giảm trong năm 2001 là sự suy giảm

đầu tiên kể từ năm 1993. Mức giải ngân giảm 9,09% sau 8 năm liên tục tăng.

Nguyên nhân là do một số dự án, chương trình do Nhật Bản tài trợ đã được hoàn

thành như Dự án nhà máy thủy điện Phú Mỹ, Phả Lại, Hàm Thuận-Đa Mi, cũng

như sáng kiến Miyazawa hỗ trợ phát triển khu vực tư nhân, cải cách doanh

nghiệp nhà nước và thương mại. Một số công trình quan trọng đã được hoàn

14



thành trong giai đoạn này là cầu Cần Thơ (370 triệu USD), dự án khôi phục 10

cầu đường sắt trên tuyến đường sắt Thông Nhất (1074 triệu USD), cầu Bãi Cháy

(180 triệu USD), dự án Đông Tây (9.700 triệu USD), dự án khôi phục quốc lộ 1

(615,6 triệu USD), dự án giáo dục đại học (108 triệu USD), dự án phát triển giáo

viên tiểu học (36 triệu USD), dự án đường xuyên Á (46 triệu USD), dự án nâng

cấp tỉnh lộ (121 triệu USD), dự án giáo dục kĩ thuật và dạy nghề (121 triệu

USD), dự án Đoàn tàu tốc hành giai đoạn 1 – CHLB Đức tài trợ (701 triệu USD)



Giai đoạn 2006-2009: Tình hình giải ngân vốn ODA có những cải thiện

nhất định với chiều hướng tích cực mức giải ngân kỷ lục lên tới 10,319 tỉ USD.

Năm 2009, giải ngân đạt mức khá cao là 4.105 triệu USD, tăng 82,2% so với

mức giải ngân năm 2008, nhưng trong đó có đến 1.843,5 triệu USD cung cấp

theo hình thức hỗ trợ ngân sách thông qua một số khoản vay của các nhà tài trợ

nhằm thực hiện các chính sách cải cách kinh tế, khắc phục hậu quả khủng hoảng

kinh tế và thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo. Như vậy, nếu không tính

các khoản hỗ trợ ngân sách này thì thực tế giải ngân vốn ODA năm 2009 chỉ

tăng 19% so với kế hoạch đề ra và tăng 0,38% so với năm 2008. Mức giải ngân

trong giai đoạn này vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển

kinh tế - xã hội 5 năm và tỉ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế

giới và khu vực theo đánh giá của các nhà tài trợ quốc tế. Tỉ lệ giải ngân trung

bình của khu vực trong thời điểm này là 20%, trong khi VN chỉ đạt 14%. Một số

dự án quan trọng được hoàn thành trong giai đoạn này là dự án cải tạo cảng Hải

Phòng giai đoạn 1 và 2 (2.540 triệu USD), khôi phục cầu quốc lộ 1 đoạn Cần

Thơ- Năm Căn (50 triệu USD), dự án 5 trường dạy nghề - Hàn Quốc tài trợ (43

triệu USD),..

Giai đoạn 2010-2012: Tổng mức giải ngân trong giai đoạn này là 12,488 tỷ

USD, chiếm 52,82% số vốn cam kết và 91,91% số vốn ký kết. Riêng số vốn cam

kết năm 2010 thấp hơn một chút so với năm 2009 vì năm trước có nhiều nguồn

tài trợ nhằm khắc phục khủng hoảng kinh tế. Năm 2012 giải ngân đạt mức cao

nhất trong 20 năm với 5.279 triệu USD được giải ngân chiếm 71,47% vốn cam

kết. Chính phủ Việt Nam đã chọn năm 2012 là “năm giải ngân” nguồn vốn

ODA, ngoài ra chính phủ đã nâng cấp Tổ công tác ODA thành Ban chỉ đạo Quốc

15



gia về ODA, nhờ đó kết quả giải ngân ODA năm 2012 đã tăng 44,63% so với

năm trước, với kết quả này nhiều chuyên gia quốc tế đã đánh giá cao sự nỗ lực

của Việt Nam. Một số dự án được hoàn thành trong giai đoạn này là dự án khôi

phục 44 cầu đường sắt trên tuyến đường sắt Thống Nhất (2.472 triệu USD), dự

án phát triển giáo dục trung học cơ sở giai đoạn 2 (80 triệu USD)…

Hiện có khoảng 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động,

cung cấp nguồn ODA và vốn vay ưu đãi cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế, xã

hội của Việt Nam. Thực tế, các nhà tài trợ luôn đánh giá Việt Nam là nước sử

dụng tốt vốn ODA. Tuy nhiên, tỷ lệ viện trợ không hoàn lại đang giảm dần và

một số nhà tài trợ đã cho biết sẽ có những thay đổi trong chính sách cho vay theo

hướng sẽ ít dần các khoản vay ưu đãi. Điều đó thể hiện rõ trong cơ cấu ODA

thời gian qua. Nếu như ở giai đoạn 1993-2000, 20% vốn ODA là viện trợ không

hoàn lại và 80% là vốn vay thì đến giai đoạn 2001-2005, tỷ lệ này là 19% và

81%, tiếp tục thay đổi là 7% và 93% trong giai đoạn 2006 -2009 và gần đây đã ở

mức 95,7% trong hai năm 2011-2012. Dù đóng vai trò quan trọng, song nguồn

vốn ODA cũng tiềm ẩn nhiều hậu quả bất lợi nếu ODA không được sử dụng hiệu

quả, nhất là khi mà tỷ lệ vốn ưu đãi giảm đi.

Trong khi đó, theo phân tích của WB tại Việt Nam thì sự lên giá một số

đồng tiền ở một số nhà tài trợ cùng với việc thay đổi tỷ giá trong nước đã khiến

số tiền trả nợ của Việt Nam nhiều lên, khoản vay đắt hơn. Thực tế này đặt ra cho

Việt Nam yêu cầu phải sử dụng vốn ODA với hiệu quả cao nhất, phải lựa chọn

mục tiêu và lĩnh vực ưu tiên đầu tư, đồng thời phải có các chính sách, giải pháp

về an toàn nợ nước ngoài.

Rõ ràng, ODA đang là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, đồng thời là

nguồn lực bổ sung cho đầu tư khi được sử dụng hiệu quả nhưng cũng tiềm ẩn

nhiều hậu quả bất lợi nếu không được sử dụng hiệu quả.

2.1.2. Tình hình giải ngân theo ngành, lĩnh vực:

Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, việc thực hiện giải ngân vốn

ODA vẫn còn chưa đồng đều giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Các dự án

sử dụng vốn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực giao thông vận tải, năng lượng, xóa

16



đói giảm nghèo. Mức độ giải ngân khá chỉ tập trung ở các chương trình, dự án

thuộc lĩnh vực công nghiệp, năng lượng điện, giáo dục – đào tạo, nông nghiệp và

phát triển nông thôn.



Bảng 2.2. Tình hình, ký kết giải ngân ODA theo ngành, lĩnh vực:

ĐVT: triệu USD

Ngành, lĩnh vực

Giao thông vận tải - bưu chính

viễn thông

Công nghiệp - năng lượng

Nông nghiệp phát triển nông

thôn, xóa đói giảm nghèo

Môi trường- đô thị

Giáo dục - đào tạo

Y tê-xã hội

Ngành khác

Tổng cộng



Ký kết



Giải

ngân



Tỉ lệ giải ngân/ ký

kêt (%)



16473 8529,74



51,78



11502 9168,21



81,92



8850



7245



81,86



7845 4934,7

61,99

2137 1845,1

86,34

2148 1046,42

48,72

6893 5898,83

85,58

55654

38668

69,48

Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư



Lĩnh vực giao thông vận tải-bưu chính viễn thông: Lĩnh vực giao thông

vận tải và bưu chính viễn thông được ưu tiên tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn

ODA lớn nhất trong tổng số 7 lĩnh vực khoảng 16.473 triệu USD, trong đó

15.912 triệu USD là ODA vốn vay. Trong thời kỳ 1993-2012, ngành giao thông

vận tải đã hoàn thành và đang thực hiện 132 dự án, trong đó đã hoàn thành 83 dự

án với vốn ODA đạt 5 tỷ USD và đang thực hiện 49 dự án với số vốn ODA

khoảng 12 tỷ USD.

Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông chiếm tỷ trọng lớn nhất, với rất

nhiều công trình được xây dựng nâng cao bằng nguồn vốn này, như Quốc lộ 5,

10, 18, đường xuyên Á đoạn TP.HCM – Mộc Bài, đường hầm đèo Hải Vân, các

cảng Cái Lân, Tiên Sa, Sài Gòn, các cầu lớn Mỹ Thuận, Cần Thơ, Thanh Trì, Bãi

17



Cháy, hệ thống thông tin liên lạc ven biển, điện thoại nông thôn và Internet cộng

đồng,…

Trái ngược với số vốn luôn đứng tốp đầu, vị trí quen thuộc của các dự án

giao thông về giải ngân lại luôn chậm trong nhóm các bộ, ngành sử dụng vốn của

các tổ chức tài trợ nước ngoài. Hiện tại, số vốn ODA chưa giải ngân là 8.529,74

triệu USD, bằng 22,05% mức giải ngân của cả nước và bằng 51,78% vốn ODA

ký kết cho lĩnh vực này. Đến năm 2015, số vốn dự kiến chưa kịp giải ngân sẽ lên

tới 10 tỷ USD. Các dự án giải ngân ODA thấp là dự án hành lang ven biển phía

Nam (0,03%), cầu Nhật Tân (0,96%), cảng Cái Mép- Thị Vải (2,57%), quốc lộ 3

mới Hà Nội - Thái Nguyên (7,15%)

Việc rất nhiều dự án giao thông trọng điểm khởi động chậm dẫn đến sự

chậm trễ trong việc hưởng lợi từ dự án. Nhiều dự án đã phải gia hạn nhưng tiến

độ giải ngân vẫn chậm chạp. Nguyên nhân chính chậm triển khai các dự án ODA

giao thông là do thiếu vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam để thực hiện giải

phóng mặt bằng và tái định cư. Điều đáng nói, dự án càng chậm tiến độ lại càng

đội giá so với dự toán ban đầu, khiến giải ngân thêm khó khăn.

Lĩnh vực công nghiệp-năng lượng: Ngành năng lượng và công nghiệp có

tổng vốn ODA được ký kết trong thời kỳ 1993-2012 đạt 9.168,21 triệu USD,

trong đó viện trợ không hoàn lại không đáng kể, khoảng 0,1%. Tổng số nhà tài

trợ là 32, trong đó có 26 nhà tài trợ song phương và 6 nhà tài trợ đa

phương. Năng lượng và công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn thứ hai, với sự cải tạo,

nâng cấp, phát triển mới nhiều công trình, như các nhà máy nhiệt điện Phả Lại,

Phú Mỹ, Ô Môn,… các nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận - Đa My, Đại Ninh,…;

cải tạo, phát triển mạng tuyền tải và phân phối điện quốc gia,…

Hiện nay, 81,92% số vốn ODA ký kết đã được giải ngân, chiếm tỷ trọng

23,71% mức giải ngân của cả nước. Riêng trong lĩnh vực năng lượng giải ngân

nguồn vốn ODA là 23,3%. Các dự án đang còn hiệu lực chủ yếu là các dự án

chuyển tiếp từ các năm trước. Nhật Bản vẫn là nhà tài trợ lớn nhất của ngành

công nghiệp.



18



Theo đánh giá của Bộ Công nghiệp, việc thực hiện các dự án từ nguồn

ODA đã có bước thuận lợi hơn, trong đó có công tác giải phóng mặt bằng, tạo

điều kiện đẩy nhanh tốc độ giải ngân.

Lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo: Lĩnh

vực nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo nhận được

nguồn vốn ODA đứng thứ ba với tổng trị giá ký kết khoảng 8.850 triệu USD

(ODA vốn vay: 7.430 triệu USD, ODA viện trợ không hoàn lại: 1.420 triệu

USD), giải ngân đạt 7.245 triệu USD, bằng 18,74% tổng giá trị vốn ODA giải

ngân của thời kỳ. Tỷ trọng ODA giải ngân so với ODA ký kết đạt 81,86%.Trong

đó lĩnh vực thủy lợi chiếm 45% tổng số vốn, tiếp theo là lĩnh vực nông nghiệp

(21%), phát triển nông thôn (15%), lâm nghiệp (15%) và thủy sản (4%).

Nông nghiệp và phát triển nông thôn, kết hợp xoá đói giảm nghèo chiếm tỷ

trọng lớn thứ ba, với các chương trình, dự án như giảm nghèo các tỉnh vùng núi

phía Bắc, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, dựa vào cộng đồng, phát triển kinh

tế miền Trung, cấp nước giao thông và điện khí hoá nông thôn, thủy lợi đồng

bằng sông Cửu Long, nhiều dự án phát triển nông thôn kết hợp xoá đói giảm

nghèo khác,..

Năm 1993 mức giải ngân ODA mới chỉ là 73 triệu USD chiếm tỷ lệ 17,6%

trong tổng số vốn ODA giải ngân của năm. Năm 1999, mức giải ngân đạt 240

triệu USD chiếm 17,7%. Trong giai đoạn 2006-2011, tổng giá trị hiệp định về

ODA đã được ký kết lên đến hơn 26,897 tỷ USD, với hơn 94% là nguồn vốn vay

ưu đãi, trong đó vốn đầu tư dành cho nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp và thuỷ

sản kết hợp phát triển nông nghiệp nông thôn, xoá đói, giảm nghèo là 3,833 tỷ

USD. Dư nợ cho vay theo cơ chế thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp, nông

thôn tăng trưởng qua các năm với tốc độ bình quân gần 24%/năm. Vốn ODA

cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn 2006-2011 tập trung cho

nhu cầu xoá đói giảm nghèo và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tập trung vào

hỗ trợ NSNN để thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình

135, Chương trình tín dụng chuyên ngành đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát

triển nông nghiệp và nông thôn, lâm nghiệp, thuỷ lợi, xóa đói giảm nghèo, cung

cấp tín dụng nông thôn, góp phần đáng kể về giảm nghèo của Việt Nam.

19



Với nguồn vốn ODA vay ưu đãi, hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông

thôn đã được xây dựng và cải thiện, đặc biệt là các hệ thống thủy lợi, giao thông

nông thôn, hệ thống điện nông thôn, hệ thống trường học, trạm y tế xã… tại các

vùng nghèo, xã nghèo. Nhờ có các dự án nước sinh hoạt nông thôn, tỷ lệ dân

nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đã tăng từ 40% năm 1998 lên 78%

năm 2012; trong đó vốn ODA chiếm 18,2% trong tổng số vốn đầu tư cho cấp

nước và vệ sinh môi trường nông thôn. Bên cạnh đó, nguồn vốn ODA cũng đã

góp phần trợ giúp tăng cường nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

mới. Thông qua các dự án hỗ trợ phát triển ngành, hỗ trợ khoa học và công nghệ

nông nghiệp, các trang thiết bị nghiên cứu được tăng cường, nhiều giống tốt đã

được nghiên cứu ứng dụng và đưa nhanh vào sản xuất.

Năm 2012 vốn ODA giải ngân cho lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông

thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo đạt 2,65 tỷ USD, bằng 21,76% tổng giá trị

ODA giải ngân của cả nước và bằng 79,34% vốn ODA ký kết cho lĩnh vực này.

Nguồn vốn ODA góp phần xóa đói giảm nghèo đối với người dân ở các

vùng nông thôn, đã góp phần thực hiện cam kết của Việt Nam đối với mục tiêu

phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc giảm 50% hộ đói nghèo vào năm

2015.

Lĩnh vực môi trường, phát triển đô thị; y tế; giáo dục đào tạo và ngành

khác: Tổng trị giá ký kết đạt 19.139 triệu USD (ODA vốn vay: 15.602 tỷ USD,

ODA viện trợ không hoàn lại: 3.537 tỷ USD). Tổng vốn ODA giải ngân đạt

13.725,05 triệu USD, bằng 35,49% tổng giá trị vốn ODA giải ngân của cả nước

và bằng 71,72% vốn ODA ký kết cho lĩnh vực này.

Trong lĩnh vực môi trường-đô thị, số vốn ODA ký kết là 7.961 triệu USD

với mức giải ngân đạt 4.939,7 triệu USD, chiếm tỉ trọng 61,99% so với vốn ký

kết. Nguồn vốn ODA đã được sử dụng cho công tác quản lý tài nguyên thiên

nhiên, quản lý rủi ro thiên tai, trồng rừng và quản lý nguồn nước, cải thiện môi

trường ở các thành phố và các khu dân cư tập trung, các khu công nghiệp. Đặc

biệt, đứng trước thách thức của biến đổi khí hậu toàn cầu, nguồn vốn ODA đã



20



được huy động để hỗ trợ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với

biến đổi khí hậu.

Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, ODA hỗ trợ cho việc thực hiện cải cách

giáo dục ở tất cả các cấp học (giáo dục tiểu học (591,42 triệu USD chiếm

34,65%), trung học cơ sở (180,04 triệu USD chiếm 10,96%), trung học phổ

thông (8 dự án), giáo dục đại học, cao đẳng (49 dự án) và dạy nghề (36 dự án với

172,02 triệu USD), đào tạo giáo viên, tăng cường năng lực công tác kế hoạch và

quản lý giáo dục, cung cấp học bổng đào tạo đại học và sau đại học ở nước

ngoài, cử cán bộ, công chức đào tạo và đào tạo lại tại nước ngoài về các lĩnh vực

kinh tế, khoa học, công nghệ và quản lý. Đây là ngành có tỉ lệ giải ngân tốt, với

1845,1 triệu USD đã được giải ngân, bằng 86,34% vốn ký kết cho lĩnh vực này.

Trong lĩnh vực y tế, vốn ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, khoảng

58% trong tổng vốn ODA (khoảng 0,9 tỷ USD) đã được sử dụng để tăng cường

cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh (xây dựng bệnh viện

và tăng cường trang thiết bị y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố,

các bệnh viện huyện và các trạm y tế xã, xây dựng cơ sở sản xuất kháng sinh,

trung tâm truyền máu quốc gia,..., tăng cường công tác kế hoạch hóa gia đình,

phòng chống HIV/AIDS và bệnh truyền nhiễm như lao, sốt rét; đào tạo cán bộ y

tế, hỗ trợ xây dựng chính sách và nâng cao năng lực quản lý ngành. Nhưng mức

giải ngân thấp, với hơn 1 tỷ USD chưa được giải ngân, bằng 48,72 % so với mức

cam kết.

Ngoài ra, nguồn vốn ODA cũng đã được sử dụng trực tiếp hoặc lồng ghép

trong các chương trình, dự án để hỗ trợ giải quyết các vấn đề có tính chất xuyên

suốt như bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ, các chính sách an sinh xã

hội,…

2.1.3. Tình hình giải ngân phân theo vùng, miền, thành phố.

Hiện vẫn tồn tại tình trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA không đồng

đều giữa các tỉnh trên địa bàn các vùng trong cả nước, thực tế cho thấy rằng

ODA chủ yếu tập trung vào các vùng kinh tế trọng điểm, trong đó vùng đồng

bằng sông Hồng tiếp nhận nguồn vốn ODA lớn nhất với 10420 triệu USD nhưng

21



chủ yếu tập trung vào tam giác kinh tế gồm 3 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng và Quảng

Ninh, vùng Tây Nguyên tiếp nhận nguồn vốn ODA thấp nhất với 1360 triệu

USD. Theo UNDP, vùng duyên hải Bắc trung bộ và Đồng bằng sông Cửu Long

là những vùng thiệt thòi nhất về sử dụng vốn ODA. Trong khi các vùng này

chiếm gần 70% số người nghèo của cả nước nhưng họ chỉ nhận được 44% các

khoản giải ngân ODA trực tiếp. Năm khu vực: miền núi Bắc Bộ, đồng bằng

Sông Hồng, duyên hải Bắc trung bộ, Đông nam bộ và đồng bằng sông Mê Kông

giải ngân ODA giảm đáng kể trong giai đoạn 2001-2012. Sự chênh lệch này khá

rõ và tạo nên sự bất cân xứng giữa các vùng. Nguyên nhân là do:

Năng lực xây dựng, thu hút và tiếp nhận (khả năng đảm bảo vốn đối ứng của

các địa phương trong việc sử dụng vốn vay) và quản lý các dự án ODA giữa các

vùng, địa phương có sự chênh lệch lớn. Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ

là hai địa điểm thu hút ODA cao nhất nước vì 2 vùng này là vùng kinh tế trọng

điểm của cả nước với nhiều vùng công nghiệp nên nhu cầu về xây dựng kết cấu

hạ tầng rất cao. Các vùng còn lại vốn ODA trải rộng ở tất cả các lĩnh vực ưu tiên

từ giao thông, năng lượng, nông thôn và xóa đói giảm nghèo.

Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ ODA vùng so với cả nước.



Nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1993-2012

Tải bản đầy đủ ngay(46 tr)

×