Tải bản đầy đủ - 17 (trang)
Toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa

Tải bản đầy đủ - 17trang

Nh vậy, kết cấu hạ tầng thông tin ở Việt Nam tuy đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển nhng đã đạt đợc những kết quả đáng mừng, tạo điều
kiện dể xây dựng và phát triển kinh tế tri thức.

4. Toàn cầu hóa


4.1. Thời cơ và thách thức Với Việt Nam, toàn cầu hóa là một hiện tợng chứa đựng cả thời cơ lẫn
thách thức. Thực tế phát triển đất nớc khoảng hơn hai mơi năm nay đã đợc nhiều học giả nớc ngoài nhìn nhận nh là bằng cớ của việc Việt Nam nắm bắt
và vận dụng tốt các cơ hội, đồng thời khống chế thành công các thách thức đặt ra cho một quốc gia còn nghèo nhng có tiềm năng và giàu ý chí phát
triển.
Đối với các nớc châu á, toàn cầu hóa đã góp phần làm giảm đáng kể tình trạng đói nghèo. Đặc biệt ở Việt Nam, tỉ lệ nghèo đã giảm từ 58 năm
1993 xuống còn 24,1 năm 2004 và 14,8 năm 2007. Sau khi gia nhập WTO, trong năm 2007, nền kinh tế tăng trởng 8,5, cao nhất trong 10 năm
qua; đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI lên tíi 20,3 tû USD, b»ng tỉng møc thu hót FDI trong suốt 5 năm 2000 - 2005; kim ngạch xuất khẩu đạt gần 50 tỷ USD,
tăng 21,5 so với năm 2006.
Trong khoảng cách giàu nghèo vẫn đang gia tăng hiện nay, có một vài quốc gia đi sau đang bứt phá và vợt lên. Việt Nam là một trờng hợp đợc cộng
đồng quốc tế đánh giá nh thế. Trở thành một nớc công nhiệp không phải là một lộ trình bằng phẳng. Bài học của Thái Lan và Philippin - sau vài thập
niên phát triển năng động nhng vẫn cha phải là một Hàn Quốc ở Đông Nam á là mét vÝ dơ. Nhng víi ViƯt Nam, cho tíi nay, những cơ hội phát triển, theo
một số đánh giá từ bên ngoài, đã đợc nắm bắt và vận dụng hiệu quả. Ra tới đờng băng và chờ cất cánh là hình tợng đợc dành để nói về Việt Nam.
Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo vẫn là một trong những rào cản quá trình hội nhập của nớc ta hiện nay. Năm 2007, mức chênh lệch giàu nghèo và
tiêu dùng xã hội phản ánh qua chỉ số GINI là 36,2, cao hơn cả những nớc giàu có nhất thế giới nh Nauy 25,8; Nhật Bản 24,9. Chỉ số này chỉ thấp hơn
Trung Quốc 40,3 và Nga 45,6, những nớc cũng đang trong quá trình chuyển đổi nh Việt Nam. Giám đốc công ty nghiên cứu thị trờng toàn cầu đang làm
việc tại Việt Nam ngạc nhiên khi thấy một bộ phận ngời Việt Nam có thể
Bùi Thị Thanh Nhàn 11 CQ492025
mua sắm các loại hàng hóa đắt tiền dễ dàng hơn cả ở những nớc giàu có. Trên những đờng phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, những chiếc xe hơi
siêu sang, đắt tiền nhất thế giới còn nhiều hơn cả Bangkok, nơi có thu nhập cao hơn Việt Nam gấp mấy lần. Trong khi đó, chênh lệch giữa hai nhóm 20
ngời nghèo nhất và 20 ngời giàu nhất là 740 đợc hởng lợi ích an sinh xã hội, 247 đợc hởng lơng hu, 745 đợc trợ cấp y tế, 1535 đợc
hởng trợ cấp giáo dục. Về mức độ của tình trạng nghèo đói, Bộ trởng Bộ Lao động - Thơng binh - xã hội còn cho biêt, cuối 2006, cả nớc còn 58 huyện có
tỉ lệ nghèo trên 50, trong đó 27 huyện có tỉ lệ hộ nghèo trên 70 và 1 huyện có tỉ lệ hộ nghèo trên 80.
4.2. Chỉ số toàn cầu hóa Một trong những tiêu chí để đánh giá trình độ toàn cầu hóa của nớc ta là
chỉ số toàn cầu hóa. Chỉ số này đợc ra mắt từ năm 2000, đợc tổ chức nghiên cứu và công bố bởi Foreign Policy, tạp chí lâu nay vẫn đợc gọi là cỗ máy t
duy của Mỹ cùng A.T.Kearney, một tập đoàn t vấn hàng đầu thế giới. Chỉ số toàn cầu hóa đợc đánh giá theo 4 tiêu chí: hội nhập kinh tế, giao tiếp cá nhân,
kết nối công nghệ và cam kết chính trị. Năm 2006, có 62 quốc gia và vùng lãnh thổ đợc tính chỉ số toàn cầu hóa. Năm 2007, bảng chỉ số này có thêm 10
quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia và vùng lãnh thổ này bao gồm các nớc phát triển và đang phát triển, phân bố đồng đều ở
các khu vùc trªn thÕ giíi, chiÕm 97 tỉng thu nhËp và 88 dân số thế giới. Nghĩa là nhìn vào bảng chỉ số này, ngời ta có thể hình dung một cách tơng
đối đầy đủ về sự liên kết toàn cầu, tức là về trình độ toàn cầu hóa năm 2007.
Trong bảng xếp hạng chỉ số toàn cầu hóa 2007, ViƯt Nam xÕp thø 4872 qc gia vµ vïng l·nh thổ. Vị trí này là khá cao và thực sự cã ý nghÜa v× nỊn
kinh tÕ ViƯt Nam héi nhËp khá muộn so với đa số các nớc xếp hạng, hơn thế nữa, các số liệu đợc tính toán trong bảng xếp hạng chủ yếu là những số liệu
năm 2005, khi ViƯt Nam cha gia nhËp WTO. NghÜa lµ, nÕu sử dụng số liệu năm 2006 hoặc 2007, vị trí của Việt Nam chắc còn cao hơn. Đáng chú ý là,
trong bảng xếp hạng, vị trí biến số thơng mại cđa ViƯt Nam xÕp thø 1072, kiỊu hèi vµ chun giao cá nhân xếp thứ 1572, tức là ở những thứ hạng rất
cao. Các biến số mà Việt Nam còn ở vị trí thấp và rất thấp là điện thoại quốc tế 6372, du lịch 6472, máy tính nối mạng 7172, máy chủ đợc đảm bảo an
ninh mạng 6672, tham gia các tổ chức quốc tế 5672 và tham gia lực lợng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc là 6972.
Bùi Thị Thanh Nhàn 12 CQ492025
Nh vËy, tuy còn ở trình độ thấp, kinh tế tri thức ở nớc ta đã phát triển t-
ơng đối khá. Từ cuối năm 2006 sang 2007 bắt đàu thực hiện đờng lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, các
thành phần của kinh tế đã phát triển khá. Theo kết quả đánh gi¸ chØ sè kinh tÕ tri thøc cđa World Bank năm 2006, nớc ta đạt mức 2,6910, sang năm 2007
tăng thêm 15 và đạt 3,1010, nghĩa là nền kinh tế nớc ta đã hòa quyện các yếu tố của kinh tế tri thức tới 31. Với đà phát triển nh hiện nay và cao hơn,
tới năm 2020 kinh tế tri thức với công nghiệp công nghệ cao hiện đại sẽ trở thành chủ yếu.

III. Giải pháp xây dựng và phát triĨn kinh tÕ tri thøc ë ViƯt Nam


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Toàn cầu hóa

Tải bản đầy đủ ngay(17 tr)

×