1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Các khái niệm cơ bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (163.89 KB, 23 trang )


B. NỘI DUNG


I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NỢ XẤU Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI


1. Các khái niệm cơ bản


Để hiểu về nợ xấu, chúng ta xuất phát từ khái niệm rủi ro tín dụng. Cũng như bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng cũng có thể
gặp rủi ro. Trên thế giới, người ta phân ra nhiều loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng, tiêu biểu nhất là rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hồn trả gốc và lãi giữa người có vốn NH và người thiếu vốn DN.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay khơng có khả năng hồn trả được vay lãi vay gốc hay cả …
Người ta cho rằng rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt là rủi ro trong hoạt động tín dụng, hoạt động này đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách
để kiểm sốt được khả năng hồn trả nợ ở ngân hàng, ít nhất là dự tính, phán đốn khả năng này.
Nợ xấu Cần phải khẳng định lại rằng rủi ro tín dụng là rủi ro chính mà ngân
hàng phải đối mặt. Vấn đề đặt ra là có nên hay khơng nên cho khách hàng đó vay. Tuy nhiên ngân hàng cũng là một đơn vị kinh doanh tiền tệ, vấn đề cho
vay là không thể tránh khỏi, vậy khi đã cho khách hàng vay thì quá trình thu được nợ phải như thế nào? Việc phân loại nợ theo khách hàng để phân tích và
đánh giá rủi ro tín dụng là hoạt động mà các ngân hàng hiện đang làm. Theo Quyết định số 4932005QĐ-NHNN ngày 2242005 phân loại nợ 5 loại theo
2 phương pháp định tính và định lượng. Phương pháp định lượng
Tài chính doanh nghiệp 46B 2
- Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm nợ trung hạn được đánh giá có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh
trong tương lai như các khoản bảo lãnh cam kết cho vay, chấp nhận thanh tốn.
- Nhóm 2 nợ cần chú ý bao gồm nợ quá hạn 90 ngày và nợ có cấu lại thời hạn nợ.
- Nhóm 3 nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 -180 ngày người nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn 90 ngày.
- Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 180 - 360 ngày. - Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn bao gồm nợ quá hạn 360 ngày và
nợ cơ cấu thời hạn trả nợ 180 ngày người nợ khoanh chờ chi phí xử lý. Phương pháp định tính
Nợ cũng được phân thành 5 nhóm tương ứng như phương pháp định lượng, nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ
mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng ruiro và tổ chức tín dụng được ngân hàng nhà nước chấp nhận.
- Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng hạn.
- Nhóm 2: nợ cần chú, bao gồm nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả
nợ. - Nhóm 3 nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ được đánh giá là khơng có
khả năng thu hồi gốc và lãi cho đến khi đến hạn. - Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ được đánh là có khả năng tổn
thất cao
Tài chính doanh nghiệp 46B 3
- Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ được đánh giá là khơng có khả năng thu hồi, mất vốn.
Trong đó nợ từ nhóm 3 -5 là nợ xấu với các khoản nợ xấu này là yếu tố chủ yếu gây ra rủi ro tín dụng.
Có nhiều tiêu chí đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại: - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu - Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất
- Nợ đáng nghi nợ có khả năng chuyển thành nợ xấu cao - Nợ khơng có tài sản bảo đảm.
Để tránh các khoản nợ xấu, hay tránh rủi ro tín dụng, ngân hàng cố gắng thấy được càng rõ, càng kĩ càng tốt, khách hàng phá sản, lừa đảo và
khơng chịu trả nợ thuộc nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn là biểu hiện rõ nhất, ngồi ra còn có các khoản nợ ngắn hạn khơng trả được ở các cấp độ
thuộc nhóm 3, 4: nợ dưới tiêu chuẩn và nợ nghi ngờ. Nhiều ngân hàng cho rằng, nếu một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các khoản nợ khác chưa
đến hạn cũng được coi là có rủi ro. Thậm chí, dù nợ chưa đến hạn hoặc đến hạn vẫn trả được, song tình hình tài chính yếu kém, mơi trường kinh doanh có
biến động khơng thuận lợi cho khách hàng thì khoản nợ đó cũng được coi là có rủi ro. Do đó vấn đề không phải là con số nợ xấu chiếm 2 hay 7 tổng
dư nợ mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp. Dù theo phương pháp nào thì kết quả phụ thuộc rất nhiều vào việc cán bộ ngân hàng có thực sự
nghiêm túc trong nhìn nhận nợ xấu, rủi ro tín dụng hay khơng, từ đó có chính sách quản trị rủi ro như thế nào.

2. Sự cần thiết phải xử lí nợ xấu trong Ngân hàng thương mại


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

×