1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Thực trạng và giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (163.89 KB, 23 trang )


lượng phù hợp với quyết định của toà án hay trừ vào lương theo mức được luật pháp cho phép.
Nếu ngân hàng là một trong số các chủ nợ và ai cũng muốn lấy lại tiền và có vị thế mạnh tương ứng như ngân hàng thì một uỷ ban chủ nợ có thể
được thành lập. Cách giải quyết này không áp dụng cho trường hợp phá sản và cũng có thể áp dụng phương pháp khai thác.
Phá sản có 2 hình thức bồi thường cơ bản cho các chủ nợ, thanh lí và hồi phục. Phá sản có thể miễn cưỡng hay cố ý. Nó là biện pháp cuối cùng theo
quan điểm của các chủ nợ. Ngân hàng hay bất cứ chủ nợ nào khác bao giờ cũng mong muốn nhận được phần đáng kể các khoản cho vay từ q trình
thanh lí nhưng thực tế thường khơng được như mong muốn. Trong nhiều trường hợp, nó được áp dụng khi các chủ nợ không thể đạt
thoả thuận hợp lý liên quan đến các biện pháp phải thực hiện để thu hồi được vốn vay, hay khi 1 chủ nợ nhỏ nào đó từ chối tiến hành một thoả thuận hợp
tác hay khi người vay từ chối làm việc với chủ nợ để cố gắng giải quyết khó khăn tài chính.

II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÍ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI


1. Thực trạng và giải pháp


Tình hình nợ xấu trong thời gian gần đây đã được đề cập đến nhiều nhưng hầu như bài toán hóc búa này chưa có lời giải cuối cùng và sự gia tăng
các món nợ xấu trong các ngân hàng vẫn đang tiếp diễn. Cho đến tháng 122006, thì nước ta đã hình thành một hệ thống ngân hàng rộng khắp cả nước
với NHTM nhà nước chiếm thị phần 80, trong tổng vốn tự có chỉ trên 1 tỷ USD, chưa đạt hệ số an toàn vốn tối thiểu 8 khả năng tăng vốn và xử lý nợ
xấu yếu, 37 NHTM cổ phần, 5 ngân hàng liên doanh, 31 chi nhánh ngân hàng nước ngồi, 46 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngồi, 6 cơng ty tài
chính, 10 cơng ty cho th tài chính và hơn 900 quỹ tín dụng nhân dân.
Tài chính doanh nghiệp 46B 9
Tính theo tiêu chuẩn trong nước thì tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại qua các năm là: 13,7 năm 1999; 7,6 năm 2002; 5,8 năm 2003.
Tỷ lệ nợ quá hạn ở các ngân hàng trung ương Việt Nam cao gấp 4 lần vốn tự có vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Tính đến cuối tháng 62004, nợ vốn vay xây dựng cơ bản thuộc 5 ngân hàng thương mại nhà nước đối với các đơn vị thi cơng là khoảng 24.500 tỷ
đồng, trong đó nợ q hạn là 1344 tỷ đồng. Đối với ngân hàng công thương Việt Nam, đến cuối nâm 2004, tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay là
4. Tính theo tiêu chuẩn kế tốn quốc tế IAS thì tỷ lệ nợ xấu thực tế của các ngân hàng thương mại quốc doanh dao động ở mức 40; tổng dư nợ gấp 8
lần tiêu chuẩn an tồn cho phép trong đó 58 là nợ q hạn khơng có khả năng thu hồi.
Theo báo cáo của Quốc hội, tổng số nợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản có liên quan đến nguồn ngân sách đến hết năm 2003 là 11.000 tỷ đồng; trong đó
khối Bộ, ngành Trung ương nợ 3500 tỷ đồng, khối tỉnh, thành phố nợ 7500 tỷ đồng. Đáng chú ý có địa phương nợ lớn, số nợ gấp nhiều lần vốn đầu tư xây
dựng cơ bản trong kế hoạch. Một số tổng công ty lớn và nhiều công ty xây dựng cơ sở hạ tầng đã và đang đối mặt với sự suy yếu nghiêm trọng về tài
chính. Tổng cơng ty cơng trình giao thơng số 5 đã lâm vào tình trạng suy kiệt tài chính trong năm 2003 với khoản nợ ngân hàng lên tới 2200 tỷ đồng, nhưng
bản thân công ty này cũng là chủ nợ của các khoản nợ khó đòi 1930 tỷ đồng tại thời điểm 62003. Theo Bộ tài chính đến 102004, tổng số nợ tồn đọng
của riêng khối doanh nghiệp nhà nước là 28 785 tỷ đồng tăng hơn 7000 tỷ so với số liệu tại thời điểm thống kê năm 2003.
Trong tín dụng ngân hàng, Việt Nam được đánh giá là độc quyền cho vay. Ngành Ngân hàng Việt Nam bị chi phối bởi 4 ngân hàng thương mại lớn
đó là: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Agribank; Ngân hàng ngoại thương Vietcombank, Ngân hàng Công thương Incombank,
Tài chính doanh nghiệp 46B 10
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển BIDV. Bốn Ngân hàng này chiếm khoảng 70 thị phần cho vay trong nước. Nhóm cho vay lớn thứ 2 là các ngân hàng
nước ngoài với thị phần 15, tiếp theo là ngân hàng cổ phần với 12 và các ngân hàng liên doanh đóng góp 3. Bốn ngân hàng thương mại QP chiếm 34
thị phần tín dụng cho vay và huy động của ngân hàng các ngân hàng này có bảng cân đối kế tốn khá yếu kém; phản ánh sự kế thừa các khoản cho vay
trực tiếp đối với các dự án hỗ trợ của nhà nước. Đến cuối năm 2000 những ngân hàng này đã có những khoản cho vay khơng hồn lại lên tới 23 000 tỷ,
tương đương 2 lần số vốn của họ chiếm 5 GDP, và 15 tất cả các khoản tín dụng cung ứng cho nền kinh tế. Trong thời gian qua ngân hàng nhà nước chủ
trương phân loại các khoản cho vay, với tiêu chuẩn quốc tế hơn và chấp nhận các kế hoạch dự phòng mất mát các khoản cho vay đưa vào sử dụng dần dần.
Mặc dù vậy theo đánh giá của WB chuẩn mực phân loại khoản cho vay còn mơ hồ. Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng, nếu kiểm toán 4 Ngân hàng
Thương mại QD theo tiêu chuẩn quốc tế, kết quả có thể tất cả đều có vốn âm. Mặc dù hiện nay hệ thống ngân hàng đã và đang tiếp tục được cải cách
theo chuẩn quốc tế, xây dựng như quy định 493 về phân loại nợ và trích lập dự phòng đã ra đời, nhưng cho đến 31122005, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ở
khối ngân hàng thương mại cổ phần chủ yếu 2, của các ngân hàng thương mại quốc doanh bình qn 5,4 song hoạt động tín dụng ở các ngân hàng
thương mại hiện tiềm ẩn nhiều rủi ro. Con số tỷ lệ nợ xấu cho thấy là tương đương với những ngân hàng uy tín cao trong khu vực và quốc tế nhưng nó
mới chỉ xác định theo tiêu chí định lượng thời gian quá hạn của khoản vay mà chưa xác định theo tiêu chí định tính theo quy định của Quyết định 493. Các
yếu tố ảnh hưởng đến những báo cáo về các con số này là hệ thống phân loại, khái niệm hiện dùng khơng nhất qn và tính so sánh giữa các thời điểm khác
nhau. Như vậy tỷ lệ hay các con số đưa ra liệu có đúng? Nếu tính theo tỷ lệ dự tính ở IMF, nợ xấu cả nội và ngoại bang ở ngân hàng thương mại quốc
Tài chính doanh nghiệp 46B 11
doanh khoảng 6,2 tỷ USD tức 13 GDP. Với một tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm khá cao 20 và tỷ lệ tăng nợ xấu cao hơn tăng trưởng tín dụng
đây là tình trạng đáng báo động cần các biện pháp ngừa phòng khủng hoảng tài chính.
Như vậy Việt Nam có thể hơi quá lạc quan với tình hình nợ xấu và nguy cơ khủng hoảng tài chính vì nợ tồn đọng và nợ xấu thực tế có thể lớn
hơn nhiều so với báo cáo.

2. Nguyên nhân ở thực trạng trên


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

×