1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Nguyên nhân ở thực trạng trên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (163.89 KB, 23 trang )


doanh khoảng 6,2 tỷ USD tức 13 GDP. Với một tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm khá cao 20 và tỷ lệ tăng nợ xấu cao hơn tăng trưởng tín dụng
đây là tình trạng đáng báo động cần các biện pháp ngừa phòng khủng hoảng tài chính.
Như vậy Việt Nam có thể hơi q lạc quan với tình hình nợ xấu và nguy cơ khủng hoảng tài chính vì nợ tồn đọng và nợ xấu thực tế có thể lớn
hơn nhiều so với báo cáo.

2. Nguyên nhân ở thực trạng trên


Sự hoạt động kinh doanh khơng có hiệu quả ở các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng, có thể thấy qua bảng thể hiện tỷ lệ nợ quá hạntổng doanh
nghiệp sau:
Năm Chỉ tiêu
1999 2000
2001 2002
2003 1. Tổng dư nợ tỷ VNĐ
toàn bộ nền kinh tế 139.180 184.936 225.704 286.614 365.300
2. Tỷ lệ nợ quá hạnTổng DN
13,2 10,75
8,7 8,15
8,02
Về phía doanh nghiệp - Nguyên nhân khách quan: Doanh nghiệp vay vốn gặp rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của mình: thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh,… do vậy việc sử dụng vốn vay khơng đạt hiệu quả, có thể mất hoàn toàn vốn. Hoặc sự
biến động và sức ép cạnh tranh ngày càng tăng của thị trường, hoặc môi trường kinh doanh, làm cho doanh nghiệp khơng có khả năng thích ứng kịp
thời, kinh doanh khó khăn dẫn đến mất khả năng thanh tốn. Trong điều kiện
Tài chính doanh nghiệp 46B 12
hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay cần chú ý tới các tác nhân: sự biến động của tỷ giá, giá xăng dầu, nguyên liệu.
- Nguyên nhân chủ quan: doanh nghiệp quản lý sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiền vay về khơng có
tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến doanh nghiệp vay vốn làm ăn kém hiệu quả, nợ ngân hàng tăng. Hoặc bản thân
doanh nghiệp thiếu ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay, hoặc thiếu ý thức trong vấn đề trả nợ, không lo lắng, không quan tâm đến nợ ngân hàng, mặc dù
khả năng tài chính của doanh nghiệp có. Hay bản thân doanh nghiệp cũng cho vay, mà số vốn đó bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng q mức, dẫn tói khả
năng khơng thể trả được nợ cho ngân hàng. Về phía ngân hàng thương mại:
Khi quyết định cho vay thiếu căn cứ khoa học, khơng phân tích tình hình khả năng sử dụng vốn và hoàn trả nợ của doanh nghiệp, do vậy đã đưa
vốn vào những doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ dẫn đến nợ quá hạn, nợ tồn đọng hoặc cũng có thể do ngun nhân từ phía đạo đức của người cán bộ tín
dụng, cố tình cho vay vì mục đích lợi riêng cho mình. Một ngun nhân lớn cần phải đề cập đó là: cho đến nay ngân hàng
thương mại nhà nước vẫn là người cho các doanh nghiệp nhà nước vay nhiều nhất. Trong khi ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm đến 80 thị phần,
trong đó khoảng 50-60 danh mục cho vay dành cho các DNNN. Xuất phát từ mối quan hệ truyền thống giữa ngân hàng thương mại nhà nước và doanh
nghiệp nhà nước cùng với nhu cầu cho vay lớn và khả năng cho vay lớn mà ngân hàng thương mại cổ phần khó đáp ứng, nếu có chuyện gì thì cùng nhà
nước quản lí. Ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam do nhà nước sở hữu duy
nhất, nhà nước có quyền quyết định tồn bộ hoạt động kinh doanh tiền tệ tín
Tài chính doanh nghiệp 46B 13
dụng của ngân hàng thương mại. Điều này tạo nên tính lưỡng tính trong ngân hàng thương mại nhà nước tối đa hố lợi ích trên vốn chủ sở hữu đối với ngân
hàng thương mại nhà nước khơng chỉ là tối đa hố lợi nhuận ròng trên vốn chủ.
Do hình thức sở hữu nên thời gian dài trước đây từ năm 2000 trở về trước, hình thành cách thức cho vay theo chỉ thị: cho vay theo chỉ thị của
chính phủ, và cho vay theo chỉ thị ngầm của các cấp chính quyền. Nếu chính phủ yêu cầu ngân hàng cho vay chính phủ sẽ chịu trách nhiệm chuyển nguồn,
hoặc bù lãi suất và trách nhiệm với nợ không thu hồi được. Tại nhiều địa phương các cấp chính quyền, đồn thể thường phối hợp
với ngân hàng trong việc thúc đẩy khách hàng trả nợ đúng hạn. Quan hệ này được hình thành dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn các cấp chính quyền và
ngân hàng về kỉ luật tín dụng. Tuy nhiên có một số cấp chính quyền lại coi ngân hàng như kênh tài trợ quan trọng khi ngân sách có khó khăn. Họ gây áp
lực cho ngân hàng bỏ qua kỉ luật tín dụng để tài trợ cho những dự án tài chính yếu kém. Một số cán bộ ngân hàng thì lại lợi dụng điều này để chia chác kiếm
lợi, dù gì cũng là tiền của nhà nước. Cũng do quan hệ như vậy mà việc cho vay của ngân hàng thương mại
nhà nước vẫn chưa theo nguyên tắc thị trường. Việc ngân hàng cho các doanh nghiệp nhà nước vay nhưng với thực lực tài chính yếu kém thì vấn đề nợ xấu
xảy ra là điều không thể tránh khỏi. Như vậy chừng nào mà vẫn còn rủi ro đạo đức trong quan hệ giữa
Chính phủ, các ngân hàng thương mại quốc doanh, các doanh nghiệp nhà nước tức là vẫn còn kỳ vọng giữa người cho vay ngân hàng và người đi vay
doanh nghiệp nhà nước và sự cứu vớt của Chính phủ trong tương lai, do đó ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn tiếp tục ưu tiên cho các doanh nghiệp
nhà nước vay thì chừng đó vấn đề nợ xấu vẫn không được giải quyết triệt để và ln có xu hướng nảy sinh trở lại.
Tài chính doanh nghiệp 46B 14
Một nguyên nhân nữa đó là các văn bản hướng dẫn quy định về phân loại và xử lý nợ còn chơng cheo và chưa cụ thể, làm cho các ngân hàng chưa
chủ động trong việc xử lý các tài sản bảo đảm. Ngồi ra còn có sự chưa phù hợp của luật pháp với thực tế khi ngân hàng xử lý tài sản khi mà khách hàng
không hợp tác và các cơ quan chức năng nhiều khi chưa hỗ trợ hiệu quả.

3. Giải pháp giúp xử lí nợ xấu ở ngân hàng thương mại


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

×