1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Giải pháp giúp xử lí nợ xấu ở ngân hàng thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (163.89 KB, 23 trang )


Một nguyên nhân nữa đó là các văn bản hướng dẫn quy định về phân loại và xử lý nợ còn chơng cheo và chưa cụ thể, làm cho các ngân hàng chưa
chủ động trong việc xử lý các tài sản bảo đảm. Ngồi ra còn có sự chưa phù hợp của luật pháp với thực tế khi ngân hàng xử lý tài sản khi mà khách hàng
không hợp tác và các cơ quan chức năng nhiều khi chưa hỗ trợ hiệu quả.

3. Giải pháp giúp xử lí nợ xấu ở ngân hàng thương mại


Như vậy trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế của nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng, đặc
biệt là trong giai đoạn hiện nay, để hệ thống ngân hàng ổn định an toàn và phát triển bền vững điều quan trọng là cần nâng cao năng lực cạnh tranh của
các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên tình trạng nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã gây ra những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động
kinh doanh ở ngân hàng, gây giảm sút năng lực cạnh tranh. Mặc dù những năm gần đây Chính phủ, Ngân hàng nhà nước cùng các ngân hàng thương
mại đã thực hiện nhiều chính sách và các giải pháp quan trọng để giảm thiểu nợ xấu, đặc biệt chúng ta đang từng bước áp dụng tiêu chuẩn quốc tế trong
quản lý nợ xấu, đó là việc cho ra đời Quyết định 4932005QĐ- NHNN về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro trong tín dụng, trong hoạt
động ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Đến nay tỷ lệ nợ xấu trong toàn bộ hệ thống ngân hàng chỉ vào 3 so với tổng dư nợ, tuy nhiên để thực trạng nợ
xấu được giải quyết một cách căn bản thì cần phải thực hiện. Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lì có
hiệu lực, đảm bảo sự bình đẳng, an tồn cho mọi tổ chức hoạt động dịch vụ ngân hàng và tài chính trên lãnh thổ Việt Nam, gây sức ép phải đổi mới và
tăng hiệu quả hoạt động lên ngân hàng thương mại Việt Nam như: nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời phải đổi mới cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, chức
năng của hệ thống ngân hàng nhà nước nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả điều hành vĩ mơ ở ngân hàng nhà nước, nhất là trong việc thiết lập, điều hành
Tài chính doanh nghiệp 46B 15
chính sách tiền tệ quốc gia trong quản lý giám sát hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian.
Thứ hai, thực hiện tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thông qua đề án được Chính phủ phê duyệt, phù hợp với các cam kết của các tổ chức tài chính
quốc tế nhằm tạo ra các ngân hàng có quy mơ lớn, hoạt động an tồn, hiệu quả và đủ sức cạnh tranh.
Về cơ cấu lại tổ chức: tách hoàn tồn hoạt động cho vay theo chính sách ra khỏi hoạt động kinh doanh thương mại của các ngân hàng, thực hiện
tốt chức năng kinh doanh theo nguyên tắc thị trường. Về cơ cấu lại tài chính: Tăng vốn điều lệ và xử lí dứt điểm nợ tồn đọng
ở các ngân hàng thương mại nhằm lành mạnh hố tài chính, nâng cao khả năng cạnh tranh, chống chịu rủi ro. Đối với ngân hàng thương mại nhà nước,
cần bổ sung vốn điều lệ nhằm đạt tối tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8, xử lí hết nợ tồn đọng, lành mạnh và minh bạch tài chính. Đối với ngân hàng thương
mại cổ phần tăng vốn điều lệ thonog qua sáp nhập và hợp nhất, phát hành bổ sung cổ phiếu, đối với những ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động quá
yếu kém, không thể tăng vốn điều lệ và không thể khắc phục được những yếu kém về tài chính có thể thu hồi giấy phép hoạt động.
Từng ngân hàng thương mại phải xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh mới, nhất là chú trọng việc mở rộng quy mơ hoạt động hiện đại
hố cơng nghệ, hoạt động marketing, đa dạng hố nâng cao tiện ích các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ kỹ thuật tiên tiến, cải
cách bộ máy quản lý, điều hành theo tư duy kinh doanh mới; xây dựng, chuẩn hố và văn hố tồn bộ các quy trình nghiệp vụ các của hoạt động chủ yếu
của các ngân hàng thương mại, thực hiện cải cách hành chính doanh nghiệp; xác định trách nhiệm rõ ràng, tuân thủ triệt để các quy trình văn bản đã được
xây dựng. Bên cạnh đó, cần giảm dần bảo hộ các ngân hàng thương mại trong nước, đặc biệt về hoạt động tín dụng và cơ chế tái cấp vốn, tăng cường quyền
Tài chính doanh nghiệp 46B 16
tự chủ và tự chịu trách nhiệm ở ngân hàng thương mại trong kinh doanh, giảm dần bao cấp với ngân hàng thương mại nhà nước, áp dụng đầy đủ hơn các quy
chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Thứ ba, xây dựng quy chế quản lý, hoạt động phù hợp với chuẩn mực
quốc tế như quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, quản trị vốn, kiểm tra, kiểm tốn nội bộ; xây dựng quy trình tín dụng hiện tại và sổ tay tín dụng
theo chuẩn mực để xây dựng hệ thống kế toán và thiết lập các chỉ tiêu, báo cáo tài chính phù hợp với các chuẩn mực kế tốn quốc tế; xây dựng và hồn
thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu qủa kinh doanh ngân hàng kinh doanh ngân hàng phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt
Nam. Thứ tư, xây dựng chiến lược phát triển công nghệ ngân hàng, nhất là hệ
thống thông tin quản lý MIS cho toàn bộ hệ thống ngân hàng, phục vụ cơng tác điều hành kinh doanh, kiểm sốt hoạt động ngân hàng, quản lý mới, tài
sản, quản lý công nợ và cơng tác kế tốn, hệ thống thanh tốn liên ngân hàng PDS, hệ thống giao dịch đầu tư và giám sát từ xa.
Thứ năm, nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên ngân hàng, đào tạo, đào tạo lại cán bộ thực hiện tốt nghiệp vụ của ngân hàng hiện đại, tiêu chuẩn
hoá đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế, nhất là những cán bộ trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán, kí kết hợp đồng quốc tế, cán bộ thanh
tra, giám sát, cán bộ sử dụng và vận hành công nghệ mới. Thứ sáu, tăng cường hợp tác để tích cực tham gia vào các cơng trình và
thể chế hợp tác, giám sát trao đổi thông tin với các khối liên kết kinh tế, khu vực và quốc tế, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của các tổ chức tài chính quốc tế,
phát triển mối quan hệ hợp tác song phương, đa phương, chú trọng công tác hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Tài chính doanh nghiệp 46B 17
Trên đây là một số giải pháp xử lí nợ xấu rút ra từ khái niệm ở các nước thành cơng trên con đường xử lí nợ xấu. Trước mắt chúng ta cần có
những giải pháp thực tế. Để xử lý dứt điểm nợ xấu, cần thực hiện giải pháp làm sạch bảng cân
đối tài sản của ngân hàng trước hết cần hỗ trợ nguồn tài chính cho các ngân hàng trích lập đủ dự phòng để có thể bù đắp những tổn thất có thể xảy ra khi
khách hàng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Sau đó chuyển nhượng các khoản nợ xấu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có đủ khả năng và
quyền lực xử lí nợ. Đối với các khoản nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng
thương mại quốc doanh chuyển sang công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng. Bộ Tài chính DATC. Đối với các khoản nợ xấu ở các doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân khác, ngân hàng thương mại quốc doanh được phép bán nó cho các DATC hoặc các doanh nghiệp, cá nhân có đủ năng lực tài chính kể cả tổ
chức cá nhân nước ngồi thơng qua tổ chức đấu giá cơng khai. Đối với các khoản nợ xấu chỉ định, hoặc các chương trình kế hoạch ở
nhà nước: mía đường, cà phê, đánh bắt xa bờ…. ngân hàng thương mại có thể thoả thuận để bán nợ cho DATC, qũy hỗ trợ phát triển, ngân hàng chính sách,
hoặc doanh nghiệp cá nhân có chức năng mua bán nợ. Đối với những khoản nợ xấu của doanh nghiệp mà ngân hàng không
chuyển giao cho công ty mua bán nợ và tổ chức, cá nhân khác, nhà nước cần có cơ chế để ngân hàng có thể chủ động áp dụng các biện pháp cơ cấu lại tài
chính và hoạt động của doanh nghiệp. Cần có các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành các quy định, tránh
sự chồng chéo. Xây dựng cơ chế thị trường mua bán nợ trong thời gian tới Việt Nam
hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, đòi hỏi một lượng vốn lớn cần
Tài chính doanh nghiệp 46B 18
huy động. Các khoản nợ sẽ tăng nhanh và thị trường mua bán nợ hình thành là một tất yếu khách quan. Điều này đòi hỏi mơi trường pháp lí cần hoàn thiện
theo hướng xây dựng hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ trên thị trường mua bán nợ. Đồng thời cần tăng quyền cho
các tổ chức mua bán nợ. Xuất phát từ nguyên nhân nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước,
một số biện pháp đưa ra. Là doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn, chịu sự quản lý trực tiếp của
NHNN, qua đó chịu sự chỉ đạo của cấp uỷ và chính quyền. Các ngân hàng thương mại nhà nước có trách nhiệm thực hiện chính sách phát triển kinh tế
thơng qua cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, dự án, hộ gia đình. Tuy nhiên thực hiện như thế nào, cho ai vay, vay bao nhiêu, bao lâu phải bảo đảm
nguyên tắc tín dụng của ngân hàng thương mại. Làm thế nào để chung sở hữu nhà nước mà các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn có thể lao động
với chính quyền các cấp. Cán bộ chính quyền các cấp phải học về ngân hàng, bảo đảm không can
thiệp vào các hoạt động ngân hàng. Đồng thời xây dựng nguyên tắc kiểm tra việc cho vay doanh nghiệp nhà nước, hoặc các dự án do chính quyền địa
phương xây dựng để đảm bảo các quyết định của ngân hàng độc lập với các cấp chính quyền. Quy định chặt chẽ nguồn vốn đối ứng của ngân sách địa
phương trong các dự án này. Quốc hội cần kiểm tra thường xuyên việc tuân thủ các luật liên quan tới
hoạt động ngân hàng để bảo đảm luật được thực hiện đúng và nghiêm túc. Kỷ luật tín dụng là điều hiện nay cần phải đặt lên hàng đầu, trong đó
đảm bảo lao động độc lập ở ngân hàng thương mại là yếu tố quan trọng để thực hiện nó. Cổ phần hố ngân hàng thương mại nhà nước là biện pháp cơ
bản. Nhà nước có thể thực hiện chính sách hỗ trợ thơng qua ngân hàng chính
Tài chính doanh nghiệp 46B 19
sách xã hội hoặc ngân hàng phát triển, hoặc uỷ thác cho vay thông qua các ngân hàng thương mại. Đa dạng hoá sở hữu trong ngân hàng thương mại nhà
nước sẽ làm tăng trách nhiệm của ngân hàng, hạn chế các khoản cho vay mang tính phong trào hiện nay.
Tài chính doanh nghiệp 46B 20

C. KẾT LUẬN


Cần phải khẳng định lại rằng cải cách khu vực ngân hàng thương mại là một trong những chủ trương cải cách hàng đầu mà chính phủ ln đuổi với
mục tiêu là từng bước hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức cần phải xử lí như vốn, trình độ cơng nghiệp, năng
lực đội ngũ cán bộ…. nhưng vấn đề nợ xấulà vấn đề cấp bách bên trong cần xử lí khi gia nhập WTO. Hy vọng một số thực trạng trên đã cho thấy phần nào
về tình hình nợ xấu ở hệ thống ngân hàng thương mại và một số giải pháp khắc phục. Và cần phải nhìn nhận lại nguyên nhân của nợ xấu khi mà tận gốc
của nó khơng giải quyết được triệt để thì tình trạng nợ xấu vẫn còn tồn tại và ln là tình trạng chung của nhiều vấn đề hiện nay ở Việt Nam. Mong rằng
khi hội nhập, chúng ta còn xem xét lại bản chất của vấn đề cần xem xét, để nền kinh tế của chúng ta ngày càng tăng trưởng cao và bền vững.
Tài chính doanh nghiệp 46B 21

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

×