1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Công nghệ - Môi trường >

Hoạt chất chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.54 MB, 83 trang )


nhiều hơn 39 so với DN và nhiều hơn 22,8 so với DCBD. Tƣơng tự, trên nền talc – cám, hỗn hợp DN – DCBD cho tỷ lệ chết ấu trùng là 71,6 , nhiều hơn 33,1 so
với DN và 19,7 so với DCBD.
Bảng 4.2. Tỉ lệ ấu trùng chết sau 3 ngày
Nguyên liệu Chế phẩm neem thô 10
DN DCBD
DN - DCBD Bột talc
48,9 a 68,5 a
81,2 a Cám gạo
24,5 c 40,7 c
63,5 c Talc: Cám 5:5
38,5 b 51,9 b
71,6 b
Các trị số trong một cột có cùng kí tự khơng khác biệt về thống kê ở p 0,05 trắc nghiệm Duncan
Mặt khác, DN 10 kết hợp với DCBD 10 trên nền bột talc gây chết 81,2 ấu trùng, khác biệt có ý nghĩa so với 2 nghiệm thức cám gạo và hỗn hợp talc-cám
tƣơng ứng là 63,5 và 71,6 . DCBD 10 trên nền bột talc cho tỉ lệ chết của ấu trùng 68,5 cao hơn DCBD 10 trên nền cám gạo 40,7 và hỗn hợp talc – cám
51,9 . Tƣơng tự, DN 10 trên nền bột talc cũng cho tỉ lệ chết của ấu trùng 48,9 cao hơn so với trên nền cám gạo và hỗn hợp talc - cám tƣơng ứng là 24,5 và
38,5 . Tóm lại, các chế phẩm neem thơ đều có hiệu lực gây chết ngài gạo mạnh nhất trên nền bột talc, kế đến là trên nền talc - cám, còn trên nền cám gạo cho tỉ lệ chết ấu
trùng thấp nhất. Ở đây chúng ta có thể giải thích nhƣ sau: talc có cấu trúc xốp, dễ hấp phụ và nhả hấp phụ nên nâng cao hiệu quả của thí nghiệm xơng hơi, còn cám gạo có
lẫn nhiều tinh bột, khi gặp nƣớc sẽ trƣơng nở, khơng xốp, khó nhả hấp phụ, do đó cản trở khẳ năng bay hơi của các hoạt chất.

4.3.2. Hoạt chất chính


Theo Võ Quang Long 2005, cho thấy DN và DCBD đều ức chế ngài gạo theo các phƣơng thức khác nhau từ đó hƣớng đến việc nên phối hợp cả DN và DCBD trong
chế phẩm viên nén sao cho đạt hiệu quả cao, dễ thao tác và bảo quản. Kết quả nghiên
cứu trƣớc cho thấy khả năng thăng hoa của DN rất thấp, nhƣng ngồi bản thân là hoạt chất chính, DN còn góp phần bảo vệ chế phẩm trƣớc tác động ánh sáng. Từ những kết
quả trên chúng tôi tiến hành tạo và thử nghiệm 4 công thức chế phẩm viên nén từ neem kí hiệu NV1, NV2, NV3, NV4 với DCBD tƣơng ứng là 5 – 10 – 15 – 20 , kết
hợp trên nền bột talc, DN 10 , dầu thông 1 và BHT 3 . Các chế phẩm xử lý ngài gạo theo phƣơng thức xông trong lọ nhựa mục 3.2.4.2. phần nội dung phƣơng
pháp. Kết quả thử nghiệm đƣợc trình bày ở mục 4.4.
4.4. Thử nghiệm chế phẩm 4.4.1. Tác động gây chết của các chế phẩm đối với ngài gạo
Quá trình tiến hành thử nghiệm 4 chế phẩm đƣợc phối trộn bởi DN, DCBD, bột talc và dầu thông trên ngài gạo ở những liều xử lý khác nhau, bằng cách đặt chế phẩm
vào trong lọ nhựa có sẵn 20 ấu trùng ngài gạo, bịt kín lọ và tiến hành xơng trong vòng 3 ngày, sau đó mở nắp và ghi nhận kết quả sâu chết.
Ở những nghiệm thức xử lý, nhận thấy sâu chết ở các tỉ lệ khác nhau, nằm rãi rác bên trong lớp gạo và cả trên bề mặt gạo. Ngoài tác dụng hỗ trợ thăng hoa, tinh dầu
thông 1 trong công thức chế phẩm còn có khả năng thu hút ấu trùng ngài gạo ra khỏi tổ của nó và bò lên bề mặt, vì vậy góp phần nâng cao khả năng thâm nhập của
chế phẩm vào cơn trùng. Ở các lơ đối chứng, khơng hề có hiện tƣợng sâu chết sau 3 ngày đóng kín nắp lọ.
Theo dõi và ghi nhận tỷ lệ chết của ấu trùng sau 3 ngày, chúng tôi thu đƣợc kết quả ở bảng 4.3
Nhận xét: kết quả trình bày ở bảng 4.3 cho thấy tất cả các chế phẩm từ NV1 cho đến NV4 đều có khả năng gây chết cho ấu trùng sau 3 ngày xử lý ở các tỷ lệ khác
nhau, tuy nhiên tác động này còn phụ thuộc vào nồng độ xử lý của chế phẩm. Ở đây ta nhận thấy, chế phẩm NV1 ở liều xử lý 0,5 g dm
3
có hiệu lực gây chết ngài gạo thấp nhất 25,5 , còn chế phẩm NV4 ở liều xử lý 2,5 g dm
3
có hiệu lực cao nhất 85,3 .
Trong cùng một chế phẩm, khi tăng liều xử lý thì tỉ lệ chết của ấu trùng sau 3 ngày xử lý cũng tăng lên. Cụ thể, khi liều xử lý tăng từ 0,5 g đến 2,5 g thì hiệu lực gây
chết của các chế phẩm NV1, NV2, NV3 và NV4 tăng tƣơng ứng từ 25,5 đến 47,7 ; từ 35,8 đến 64,5 ; từ 40,2 đến 80,7 và từ 48,2 đến 85,3 .
Trong cùng một liều xử lý, chế phẩm NV4 với 20 dịch chiết bánh dầu cho tỉ lệ chết ấu trùng là cao nhất, kế đến là chế phẩm NV3, NV2, còn NV1 cho tỉ lệ chết ấu
trùng là thấp nhất. Chẳng hạn với liều xử lý 2,5 g; chế phẩm NV4 gây chết 85,3 ấu trùng cao nhất, NV3 gây chết 80,7 ấu trùng, NV2: 64,5 , còn NV1 chỉ gây chết
47,7 ấu trùng thấp nhất. Nhƣ vậy nồng độ dịch chiết bánh dầu khác nhau giữa các chế phẩm ảnh hƣởng đáng kể tới kết quả thí nghiệm. Khi ta tăng nồng độ dịch chiết
bánh dầu thì tỷ lệ chết của ấu trùng cũng tăng theo. Nồng độ dịch chiết bánh dầu trong chế phẩm tăng kết hợp với liều xử lý của chế phẩm tăng cho kết quả tỷ lệ chết ấu
trùng cũng tăng theo.
Bảng 4.3. Tỉ lệ chết của ấu trùng 3 ngày sau xử lý
STT Chế phẩm
Liều xử lý g 0,5
1,0 1,5
2,0 2,5
1 NV 1
25,5 29,3
35,3 41,5
47,7
2 NV 2
35,8 40,5
48,6 56,8
64,5
3 NV 3
40,2 47,7
56,5 68,8
80,7
4 NV 4
48,2 56,8
67,6 75,4
85,3
Trên cơ sở tỷ lệ chết ấu trùng thu đƣợc sau 3 ngày theo dõi, chúng tơi tiến hành phân tích Probit bằng phần mềm Excel để xác định LD
50
và độ độc tƣơng đối của các chế phẩm thử nghiệm, thu đƣợc kết quả ở bảng 4.4.
Qua phân tích probit cho thấy LD
50
ở thời điểm sau 3 ngày xử lý của các chế phẩm là 3,5818 g dm
3
; 1,3452 g dm
3
; 0,8959 g dm
3
và 0,634 g dm
3
tƣơng ứng với NV1, NV2, NV3 và NV4. Nhƣ vậy LD
50
của NV1 NV2 NV3 NV4. Gi á tr ị LD
50
tỷ lệ nghịch với độc tính của chế phẩm, tức LD
50
càng nhỏ thì độc tính của chế phẩm càng cao. Nhƣ vậy, độc tính của chế phẩm NV4 là cao nhất gấp 5,65 lần chế
phẩm NV1, kế đến là NV3 gấp 3,99 lần NV1, tiếp đến là NV2 gấp 2,66 lần NV1, còn chế phẩm NV1 có độc tính thấp nhất.
Bảng 4.4. Độc tính của các chế phẩm đối với ngài gạo Giá trị LD
50
ở thời điểm 3 ngày sau xử lý
Stt Chế
phẩm Phƣơng trình
tƣơng quan Hệ số
tƣơng quan
P LD
50
g dm
3
Độc tính
tƣơng đối
1 NV1
Y = 3,6891 + 0,8435 X 0,9593
0,0097 3,
5818 1
2 NV2
y = 3,8781 + 0,9939 X 0,9417
0,0167 1,3452
2,66 3
NV3 Y = 3,5726 + 1,4984
0,9315 0,0212
0,8959 3,99
4 NV4
Y = 3,8098 + 1,4838 X 0,9538
0,0118 0,6340
5,65
a b
c d
Hình 4.1. Kết quả 3 ngày sau xử lý chế phẩm
a. Đối chứng b, c, d. Sâu chết ở những lơ có xử lý chế phẩm
Sau khi xử lý xông hơi trong 3 ngày, các lọ thí nghiệm đƣợc thơng thống và tiếp tục nuôi dƣỡng để theo dõi tỷ lệ ấu trùng chết thêm ở những ngày sau đó. Tỷ lệ
chết tích lũy ở ngày thứ 7 sau xử lý đƣợc ghi nhận ở bảng 4.5 nhƣ sau:
Bảng 4.5. Tỉ lệ chết của ấu trùng 7 ngày sau xử lý
STT Chế phẩm
Liều xử lý g 0,5
1,0 1,5
2,0 2,5
1 NV 1
42,2 47,7
56,7 65,5
73,2 2
NV 2 58,7
67,7 75,5
78,7 85,3
3 NV 3
76,7 83,3
86,0 93,3
96,7 4
NV 4 76,7
80,2 86,8
93,3 95,5
Sau 7 ngày xử lý, nhận thấy tỷ lệ sâu chết là rất cao, ngoại trừ chế phẩm NV1 ở liều xử lý 0,5 g và 1,0 g cho tỷ lệ sâu chết không cao, tƣơng ứng l à 42,2 và 47,7 .
Tất cả các nghiệm thức còn lại đều cho tỷ lệ sâu chết trên 50 , trong đó chế phẩm NV4 ở liều xử lý 2,5 g gây chết ấu trùng nhiều nhất, lên đến 95,5 .
Trong cùng một chế phẩm, khi ta tăng liều xử lý lên thì tỷ lệ chết của ấu trùng sau 7 ngày xử lý cũng tăng lên. Ví dụ, khi tăng liều xử lý từ 0,5 g lên 2,5 g thì hiệu lực
gây chết ấu trùng của các chế phẩm NV1, NV2, NV3, NV4 tăng tƣơng ứng từ 42,2 đến 73,2 ; 58,7 đến 85,3 ; 76,7 đến 96,7 ; 76,7 đến 95,5 .
Trong cùng một liều xử lý, chế phẩm NV4 với 20 dịch chiết bánh dầu cho tỷ lệ chết ấu trùng là cao nhất, kế đến là chế phẩm NV3, NV2, còn NV1 cho tỷ lệ chết ấu
trùng là thấp nhất. Ví dụ với liều xử lý 2,5 g, chế phẩm NV4 gây chết 95,5 ấu trùng sau 7 ngày xử lý, NV3 cho tỷ lệ chết 96,7 , NV2: 85,3 , NV1: 73,2 .
Bảng 4.6. Độc tính của các chế phẩm đối với ngài gạo Giá trị LD
50
ở thời điểm 7 ngày sau xử lý
STT Chế
phẩm Phƣơng trình
tƣơng quan Hệ số
tƣơng quan
P LD
50
g dm
3
Độc tính
tƣơng đối
1 NV 1
Y = 3,9121 + 1,1431 X 0,9523
0,0123 0,8948
1
2 NV 2
Y = 4,3861 + 1,1274 X 0,9795
0,0035 0,3503
2,55
3 NV 3
Y= 4,5693 + 1,4878 X 0,9312
0,0213 0,1948
4,59
4 NV 4
Y = 4,6161 + 1,3992 X 0,9330
0,0205 0,1881
4,76
Qua phân tích Probit đã tính đƣợc giá trị LD
50
của các chế phẩm ở thời điểm 7 ngày sau xử lý là 0,8948 gdm
3
; 0,3503 gdm
3
; 0,1948 gdm
3
v à 0,1881 gdm
3
, tƣơng ứng với NV1, NV2, NV3 v à NV4. Nhƣ vậy LD
50
của NV1 NV2 NV3 NV4. Qua đó cũng cho thấy độc tính của 2 chế phẩm NV3 và NV4 là cao nhất, gấp
4,59 – 4,76 lần so với chế phẩm NV1, kế đến là chế phẩm NV2 cao gấp 2,55 lần chế phẩm NV1, còn chế phẩm NV1 có độc tính thấp nhất.
Mặt khác khi so sánh giữa bảng 4.3 và 4.5 ta thấy LC
50
của mỗi chế phẩm ở thời điểm 3 ngày cao hơn rất nhiều so với ở thời điểm 7 ngày. Cụ thể: đối với các chế
phẩm NV1, NV2, NV3, NV4, LD
50
g dm
3
ở thời điểm 3 ngày tƣơng ứng là 3,5818; 1,3452; 1,3452; 0,8959; 0,634, còn ở thời điểm 7 ngày tƣơng ứng là 0,8948; 0,3503;
0,1948; 0,1881. Điều đó gợi ra rằng, có thể rút ngắn thời gian xử lý mà vẫn bảo đảm hiệu quả tác động nếu tăng liều thuốc lên. Ví dụ đối với chế phẩm NV4: muốn diệt 50
ngài gạo trong 3 ngày thì phải dùng lƣợng thuốc là 0,634 gdm
3
- gấp 0,634 0,1881 = 3,3 lần lƣợng thuốc so với khi xử lý trong 7 ngày.

4.4.2. Động thái gây chết của các chế phẩm đối với ngài gạo


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

×