1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Công nghệ - Môi trường >

Động thái gây chết của các chế phẩm đối với ngài gạo

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.54 MB, 83 trang )


4.4.2. Động thái gây chết của các chế phẩm đối với ngài gạo


25.5 36.3
42.2 35.8
45.4 58.7
40.2 68.5
76.7
48.2 64.8
76.7
10 20
30 40
50 60
70 80
90
ngày 3 ngày 5
ngày 7
Thời gian
Tỉ lệ
c hế
t
NV1 NV2
NV3 NV4
Biểu đồ 4.1. Động thái gây chết của các chế phẩm ở liều xử lý 0,5 g dm
3
Qua biểu đồ 4.1 ta nhận thấy ở liều lƣợng 0,5 g dm
3
, tất cả các chế phẩm đều có tác dụng gây chết cho ngài gạo ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên tỷ lệ chết của ấu
trùng không cao lắm. Sau 7 ngày xử lý, chỉ có chế phẩm NV3 và NV4 đạt 76,7 , còn NV2 và NV1 chỉ đạt 58,7 và 42,2 .
Mặt khác cũng có thể thấy ấu trùng tập trung chết trong 3 ngày đầu xử lý chế phẩm, trong 3 ngày đầu tỷ lệ chết ấu trùng của NV1, NV2, NV3, NV4 lần lƣợt là 25,5;
35,8; 40,2; 48,2 , tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn thấp. Có thể do nồng độ thuốc xử lý q ít nên tỷ lệ chết ấu trùng khơng cao, chỉ những ấu trùng nào mẫn cảm với thuốc
mới chết trong vài ba ngày đầu xử lý chế phẩm, còn những ấu trùng ít mẫn cảm, thì khơng chết liền ngay sau khi xử lý, mà chúng sống yếu ớt trong những ngày sau đó rồi
mới chết. Trong khoảng thời gian từ ngày 3 tới ngày 7 tỷ lệ ấu trùng chết thêm của các chế phẩm lần lƣợt là 16,7 , 22,9 , 36,5 , 28,5 .
Ở đây có một sự khác biệt giữa chế phẩm NV3 và các chế phẩm khác, đó là trong giai đoạn từ ngày 3 tới ngày 7, NV3 có tỷ lệ ấu trùng chết tăng đột biến, ngày 3
chỉ gây chết 40,2 ấu trùng nhƣng ngày 3 tới ngày 7 tăng thêm tới 36,5 , điều này thể hiện rõ trên biểu đồ 4.1
29.3 38.5
47.7 40.5
53.1 67.7
47.7 65.7
83.3
56.8 62.5
80.2
10 20
30 40
50 60
70 80
90
ngày 3 ngày 5
ngày 7
Thời gian
Tỉ lệ
c hế
t
NV1 NV2
NV3 NV4
Biểu đồ 4.2. Động thái gây chết của các chế phẩm ở liều xử lý 1 g dm
3
Tƣơng tự nhƣ ở liều xử lý 0,5 g dm
3
, ở 1,0 g dm
3
, dƣới tác động của các chế phẩm, ấu trùng ngài gạo cũng tập trung chết trong 3 ngày đầu, tỷ lệ chết tuy có cao
hơn ở liều xử lý 0,5 g dm
3
nhƣng nhìn chung vẫn còn thấp, trong 3 ngày đầu chỉ có NV4 gây chết 56,8 ấu trùng, còn những chế phẩm còn lại cho tỷ lệ chết của ấu trùng
đều dƣới 50 , NV1, NV2, NV3 cho tỷ lệ chết ấu trùng tƣơng ứng là 29,3; 40,5; 47,7
Quan sát biểu đồ cũng thấy ở chế phẩm NV3 có sự khác biệt, trong khoảng thời gian từ ngày 3 tới ngày 7 dƣới tác động của NV3, tỷ lệ chết ấu trùng cũng tăng lên
đáng kể, vƣợt qua chế phẩm NV4 mặc dù trong 3 ngày đầu nó gây chết ấu trùng ít hơn.
35.3 48.6
56.7 48.6
56.4 75.5
56.5 67.5
86.6 67.6
72.3 86.6
10 20
30 40
50 60
70 80
90 100
ngày 3 ngày 5
ngày 7
Thời gian
Tỉ lệ
c hế
t
NV1 NV2
NV3 NV4
Biểu đồ 4.3 Động thái gây chết của các chế phẩm ở liều lƣợng 1,5 g dm
3
Qua biểu đồ ta nhận thấy ở liều xử lý 1,5 g dm
3
, ấu trùng cũng tập trung chết trong 3 ngày đầu, tỷ lệ chết đạt mức trung bình, chỉ có NV1 và NV2 cho tỷ lệ chết
dƣới 50 35,3 và 48,6 , còn NV3 và NV4 cho tỷ lệ chết ấu trùng trên 50 56,5 và 67,6 . Ở ngày thứ 7 tỷ lệ ấu trùng chết thêm của NV1, NV2, NV3, NV4
lần lƣợt là 21,4 , 26,9 , 30,1 , 19 . Ở chế phẩm NV3, trong giai đoạn từ ngày 3 tới ngày 7 cũng cho tỷ lệ chết ấu
trùng tăng cao hơn so với những chế phẩm khác 30,1 , ở ngày thứ 7 cho tỷ lệ chết ấu trùng bằng với chế phẩm NV4 mặc dù ở ngày 3 cho tỷ lệ thấp hơn.
Ở liều xử lý 2,0 g dm
3
, các chế phẩm đều cho tỷ lệ chết ấu trùng khá cao, và ấu trùng cũng tập trung chết trong 3 ngày đầu. Ở đây chỉ có NV1 cho tỷ lệ chết là 41,5 ,
còn tất cả các chế phẩm NV2, NV3, NV4 đều cho tỷ lệ chết trên 50 56,8 , 68,8 , 75,4 . Chế phẩm NV3 cũng cho tỷ lệ ấu trùng chết tăng cao hơn so với những
chế phẩm khác.
41.5 58.4
65.5 56.8
68.9 78.7
68.8 86.9
93.3 75.4
89.5 93.3
10 20
30 40
50 60
70 80
90 100
ngày 3 ngày 5
ngày 7
Thời gian
Tỉ lệ
c hế
t
NV1 NV2
NV3 NV4
Biểu đồ 4.4 Động thái gây chết của các chế phẩm ở liều lƣợng 2 g dm
3
Các đồ thị 4.1, 4.2, 4.3, 4.4, 4.5 đều biểu thị động thái gây chết ngài gạo của các chế phẩm NV1, NV2, NV3, NV4 ở các liều lƣợng khác nhau theo thời gian. Tuy
nhiên, ở liều lƣợng 2,5 g dm
3
động thái gây chết ngài gạo của chế phẩm có thể đƣợc nhận biết rõ nhất. Ấu trùng đặc biệt tập trung chết trong 3 ngày đầu, có lẽ nhờ nồng
độ xử lý của chế phẩm cao và tác dụng tối đa của phƣơng pháp bịt kín kho. Trong 3 ngày đầu, chỉ có NV1 cho tỷ lệ chết của ấu trùng là 47,7 , còn tất cả các chế phẩm
còn lại đều có tỷ lệ chết ấu trên 50 . Cụ thể NV2, NV3, NV4 lần lƣợt gây chết 64,5 ; 80,7 ; 85,3 . Trong khoảng thời gian từ 3 - 7 ngày tăng thêm 10,2 – 25,5 ấu
trùng chết, ở chế phẩm NV1 và NV2 ấu trùng chết ít và lai rai, NV3 và NV4 chết nhiều hơn.
Ở đây cũng nhận thấy sự khác biệt giữa chế phẩm NV3 và những chế phẩm khác, trong 3 ngày đầu gây chết tới 80,7 ấu trùng, rất cao so với NV1 và NV2.
Trong khoảng thời gian từ ngày 3 tới ngày 7 ấu trùng chết thêm rất nhiều và đạt 96,7 vào ngày thứ 7, một tỷ lệ rất cao gần nhƣ tuyệt đối.
47.7 65.5
73.2 64.5
79.5 85.3
80.7 92.5
96.7 85.3
94.3 95.5
20 40
60 80
100 120
ngày 3 ngày 5
ngày 7
Thời gian
T ỷ
lệ c
h ết
NV1 NV2
NV3 NV4
Biểu đồ 4.5. Động thái gây chết của các chế phẩm ở liều lƣợng 2,5 g dm
3
4.4.3.Tác động ức chế sinh trƣởng và phát triển.
Nhiều nghiên cứu trƣớc đây cho thấy các chế phẩm từ neem nói riêng, cũng nhƣ các thuốc có nguồn gốc thảo mộc nói chung bên cạnh tiêu diệt cơn trùng một cách
trực tiếp gây chết, chúng còn khả năng làm suy thối cơn trùng theo thời gian nhƣ ức chế sự vũ hoá, ức chế đẻ trứng, gây biến dạng ấu trùng, nhộng và thành trùng. Thông
thƣờng, số côn trùng mẫn cảm nhất sẽ chết trong vài ngày hay ngay sau khi xử lý với thuốc. Số sống sót còn lại sẽ chết một phần, phần còn lại hoàn tất giai đoạn nhộng.
Trong số nhộng đó, một phần bị chết, một phần bị biến dạng, số sống sót có thể vũ hố, nhƣng thành trùng tạo thành có thể bị biến dạng, giảm hoặc mất khả năng sinh
sản. Do đó thí nghiệm vẫn đƣợc theo dõi tiếp tục sau khi quan sát tỷ lệ chết, để ghi nhận các ảnh hƣởng của các chế phẩm từ nhân hạt neem đối với sự sinh trƣởng và phát
triển của ngài gạo. Từ đó nhận thấy tuy thuốc thảo mộc, mà đặc biệt thuốc thảo mộc chiết xuất từ
neem không tác động nhanh và mạnh nhƣ thuốc tổng hợp hoá học trong cơng tác phòng trừ sâu hại nhƣng nó cũng có những ƣu điểm riêng mà thuốc tổng hợp hóa học
khơng có. Thuốc hố học giết chết cơn trùng gây hại một cách trực tiếp, nhanh chóng và gần nhƣ tuyệt đối, nhƣng cũng tăng nguy cơ kháng thuốc khi sử dụng trong một
thời gian dài, gây mất cân bằng sinh thái, và đặc biệt gây ơ nhiễm mơi trƣờng, có tính tồn dƣ lâu và tích tụ trong chuỗi thức ăn của sinh giới gây hại cho ngƣời và gia súc.
Còn thuốc thảo mộc chiết xuất từ neem không gây chết côn trùng một cách triệt để và nhanh chóng, tuy nhiên nó để lại hậu quả lâu dài trên những côn trùng bị xử lý, khơng
những ở đời cha mẹ, mà còn ảnh hƣởng tới cả đời con cháu… của chúng. Những ấu trùng ngài gạo không chết khi bị xử lý với neem thì cũng sống èo uột, hoặc khi vào
nhộng hay vũ hố thì nhộng hay thành trùng đều có khả năng bị hoặc biến dạng hoặc mất hay giảm khả năng sinh sản… Và thế hệ con cháu của chúng cũng bị ảnh hƣởng,
thí nghiệm chúng tơi quan sát tới đời thứ 3 cho thấy tỷ lệ biến dạng của thành trùng là rất cao. Do tác động lâu dài nhƣ vậy nên giảm đƣợc khả năng phá hại của ngài gạo rất
nhiều.
4.4.3.1.Tác động ức chế vũ hóa của các chế phẩm đối với ngài gạo Bảng 4.7. Tỉ lệ thành trùng tạo thành dƣới tác động của các chế phẩm
STT Chế phẩm Liều xử lý g
0,5 1,0
1,5 2,0
2,5 1
NV 1 40,1 a
37,6 a 31,5 a
16,8 a 10,2 a
2 NV 2
36,7 b 27,9 b
16,6 b 11,4 b
8,3 b 3
NV 3 18,7 c
12,6 d 9,9 c
4,8 c 0,0 c
4 NV 4
19,8 c 16,9 c
10,9 c 4,7 c
0,0 c
Qua bảng 4.6 ta thấy dƣới tác động ức chế của các chế phẩm, tỉ lệ thành trùng tạo thành ở tất cả các nghiệm thức đều thấp, khơng ở nghiệm thức nào có tỷ lệ thành
trùng trên 50 , chỉ có ở liều xử lý 0,5 g, chế phẩm NV1 cho tỉ lệ thành trùng cao nhất là 40,1 . Riêng ở liều xử lý 2,5 g, chế phẩm NV3 v à NV4 đều không xuất hiện thành
trùng, do các chế phẩm đã tác động mạnh, gây chết toàn bộ cá thể ở giai đoạn ấu trùng và nhộng.
Nhìn chung, trong cùng một chế phẩm, khi liều xử lý tăng lên thì tỷ lệ thành
trùng tạo thành lại giảm đi. Cụ thể, khi tăng liều xử lý từ 0,5 g đến 2,5 g thì tỷ lệ thành trùng tạo thành ở chế phẩm NV1, NV2, NV3, NV4 giảm tƣơng ứng từ 40,1 còn 10,2
; 36,7 còn 8,3 ; 18,7 còn 0 ; 19,8 còn 0 . Còn trong cùng một liều xử lý, thì chế phẩm NV1 cho tỷ lệ thành trùng tạo
thành là cao nhất, kế đến là NV2, tiếp theo là NV3, còn NV4 cho tỷ lệ thành trùng tạo thành là thấp nhất.
Tóm lại các tác động ức chế tăng trƣởng và phát triển của các chế phẩm đối với ngài gạo theo phƣơng thức phụ thuộc nồng độ, nghĩa là nồng độ càng cao thì hiệu lực
càng tăng. Tuy nhiên, kết quả phân tích ANOVA và trắc nghiệm phân hạng Duncan cho
thấy khơng có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê giữa chế phẩm NV3 và NV4: đều cho tỷ lệ thành trùng tạo thành thấp nhất, kế đến là NV2, còn NV1 cho tỷ lệ cao nhất, điều
đó chứng tỏ tỷ lệ gây chết yếu hơn của chế phẩm NV1, NV2 so với NV3 và NV4. 4.4.3.2 Tác động gây biến dạng sâu, nhộng, thành trùng
Do giới hạn thời gian trong khi sự hóa nhộng và vũ hố diễn ra quá rãi rác nên chúng tôi chỉ quan sát chứ không ghi nhận số lƣợng nhộng hay thành trùng bị biến
dạng. Tác động gây biến dạng này của chế phẩm nhân hạt neem cũng có một ý nghĩa quan trọng, góp phần làm giảm tác hại gây ra bởi ngài gạo. Bởi, một khi đã bị biến
dạng, chúng sẽ bị giảm khả năng định hƣớng, phát tán, di chuyển, sinh sản của các cá thể. Đặc biệt quan sát cho thấy những cá thể bị biến dạng nặng khơng còn khả năng
bay lƣợn, giao phối và đẻ trứng. Kết quả quan sát cho thấy ấu trùng, nhộng, thành trùng đều có khả năng bị tác
động ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau - Sâu có kích thƣớc nhỏ hơn bình thƣờng, hoặc có đốm đen trên lƣng, hoặc
không thể vào nhộng, nửa sâu nửa nhộng hình 4.2a - Nhộng có thân cong vẹo, có khi có màu đen, hoặc khơng thể vũ hố hồn tồn
thành thành trùng hình 4.2b, c. - Thành trùng biến dạng nhẹ: cánh hơi dợn sóng, nhƣng còn khả năng bay lƣợn,
hoạt động giới tính và sinh sản hình 4.2d - Thành trùng biến dạng trung bình: cánh dợn sóng nhiều và rõ, khó khăn khi
bay lƣợn, nhƣng vẫn còn khả năng bay lƣợn, sinh sản.hình 4.2k
- Thành trùng biến dạng nặng: vũ hóa nhƣng khơng thể thốt ra khỏi lớp gạo, cánh dị dạng nặng, bụng co rút hay vặn vẹo, phần đầu cũng bị biến dạng hoặc mất râu,
khơng còn khả năng di chuyển hoặc giao phối hình 4.2e, f, g, h,
a b
c
d e
f
. g
h k
Hình 4.2 Tác động của chế phẩm neem đối với ngài gạo
a. Đối với ấu trùng b,c. Đối với nhộng
d, e, f, g, h, k. thành trùng biến dạng

4.4.4. Tác động ức chế sinh sản của các chế phẩm đối với ngài gạo


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

×