1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Hạn chế của chiến lợc thay thế nhập khẩu .

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (234.06 KB, 37 trang )


cũng đã thấy đợc khuyết điểm của chiến lợc mà họ đang sử dụng đó là thị trờng trong nớc có quy mô nhỏ sức mua không lớn lên tăng trởng chậm lại .
Kế hoạch 5 năm 1966 - 1970 của Malaixia thể hiện rõ đờng lối phát triển kinh tế là thực thi chiến lợc thay thế nhập khẩu để khẳng của Malaixia trong buôn
bán cũng nh trong phân công lao động quốc tế. Thời kỳ này Malaxyia chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
nhằm cơ giới hoá việc gieo trồng các loại cây mà Malayxia đã phải nhập khẩu. Có thể thấy rằng trong kế hoạch 5 năm 1966-1970 Malayxia tiến hành chiến lợc thay
thế nhập khẩu nhng lại không lấy cây lúa làm trọng tâm mà lại phát triển cây công nghiệp dài ngày để thu sản phẩm xuất khẩu. Do đó, kết quả của việc thực hiện
chiến lợc này Malayxia không những đảm bảo cơ bản về nhu cầu lơng thực mà còn tiết kiệm đợc ngoại tệ làm tiền đề chuyển hớng chiến lợc hớng về xuất khẩu.
Khác với Malayxia, Thái Lan ngay từ đầu đã có một cơ sở kinh tế khá vững vàng do Mỹ xây dựng trong thời kỹ chiến tranh Đông Dơng. Cộng với vị trí địa lý
thuận lợi, Thái Lan bớc vào chiến lợc thay thế nhập khẩu với mục tiêu chính là đẩy mạnh phát triển công nghiệp và những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động
để tận dơng ngn lao ®éng trong níc. NÕu nh Malayxia tong chính sách phát triển nông nghiệp chú trọng vào cây công nghiệp : cọ dừa, cà fê, ca cao... thì Thái
Lan lại tập chung vào phát triển cây lơng thực, áp dụng những chính sách khuyến khích xuất khẩu hàng nông sản và những sản phẩm dựa vào nguồn tài nguyên
thiên nhiên. Kết quả là Thái Lan luôn là một nớc xuất khẩu lơng thực lớn ra thị tr- ờng thế giới, đồng thời giải quyết đợc vấn đề việc làm cho xã hội góp phần ổn
định đất nớc .
Tóm lại, việc thực thi chiến lợc thay thế nhập khÈu ë c¸c níc NICs còng nh c¸c tiÕn hành chiến lợc thay thế nhập khẩu các nớc đều khắc phục đợc vấn đề l-
ơng thực và giải quyết đợc việc làm cho xã hội .
Ngay từ nhận định ban đầu, chiến lợc thay thế nhập khẩu chỉ phát huy trong thời gian ngắn với quy mô thị trờng nhỏ. Sau đó, nó bộc lộ những hạn chế của
mình nh giới hạn về thị trờng trong nớc, không cập nhật đợc với khoa học công nghệ hiện đại đặc biệt là làm chậm tiến độ công nghiệp hoá của đất nớc .

II. Hạn chế của chiến lợc thay thế nhập khẩu .


Những hạn chế của chiến lợc hớng nội là xuất phát từ phạm vi áp dụng của nó và yêu cầu để thực hiện chiến lợc này có hiệu quả. Khi đối tợng áp dụng cho
chiến lợc này không phù hợp thì những u điểm của nó không những không đợc
phát huy mà còn bộc lộ những hạn chế làm kìm hãm xu hớng phát triển kinh tÕ cđa mét ®Êt níc .
Thùc vËy, khi thùc hiện một đờng lối, vạch ra một phơng hớng phát triển thì không thể không tính đến thị trờng ảnh hởng của nó. Xuất phát từ nội dung của
chiến lợc thay thế nhập khẩu là sản xuất những mặt hàng đáp ứng nhu cầu tối thiểu của đất nớc tức là lấy thị trờng trong nớc làm trọng tâm để buôn bán và lu
thông hàng hoá thì chí ít về quy mô thị trờng đó trớc hết phải rộng rãi. Đối với một nớc thị trờng nội địa đợc coi là phù hợp với chiến lợc này là một đất nớc có quy
mô dân số đông, sức tiêu thụ lớn. Khi quy mô dân số đông và khả năng tiêu dùng lớn thì tơng quan giữa sản xuất và tiêu dùng mới cân đối tức là sản xuất mở rộng
cũng tiêu thụ hết. Do đó, với những nớc có quy mô dân số nhỏ bé thì dung lợng thị trờng nhỏ, chỉ cần sản xuất dới mức tối u cũng đã đáp ứng đủ nhu cầu. Điều đó
đồng nghĩa với không có động lực để mở rộng sản xuất hay tối u hoá các yếu tố nguồn lực.Thực tế điều này xảy ra ở những nớc có quy mô nhỏ bé nh Hàn Quốc.
Nh vậy với những nớc có phạm vi, quy mô thị trờng nhỏ thì việc áp dụng chiến lợc hớng nội là không phù hợp. Đây có thể coi là một yêu cầu để thực hiện
chiến lợc nhng cũng có thể coi là một hạn chế của chiến lợc.
Tuy nhiên nói nh thế không có nghĩa là khi quy mô thị trờng lớn thì áp dụng chiến lợc hớng nội là thành công mà ngay khi điều kiện đó đợc đáp ứng thì
những hạn chế khác của chiến lợc nh làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nớc lại tăng lên. Sở dĩ nảy sinh ra vấn đề này là xuất phát từ sự can
thiệp của Chính phủ.
Khi mà động cơ có tác động mạnh mẽ nhất để các doanh nghiệp sản xuất cạnh tranh với nhau là lợi nhuận thì yếu tố này đã bị triệt tiêu khi cã sù can thiƯp
cđa ChÝnh phđ. Bëi v×, khi ChÝnh phủ bảo hộ bằng hạn ngạch hay thuế quan tức là Chính phủ đã chịu phần thua lỗ thực sự mà các doanh nghiệp hoạt động không có
hiệu quả mang lại. Do đợc bảo hộ và mua nguyên vật liệu đầu vào với giá rẻ nên các nhà sản xuất yên tâm không phải lo cạnh tranh tìm kiếm thị trờng để mua đợc
nguyên liệu rẻ, hay cải tiến công nghệ để nâng cao năng xuất, hạ giá thành sản phẩm cạnh tranh với giá hàng nhập trên thị trờng quốc tế. Tất cả các quá trình đó
đáng nhẽ họ phải tìm tòi nghiên cứu thì họ lại trông chờ vào sự bảo hộ của Chính phủ. Kết quả của sự bảo hộ này làm thất thu cho ngân sách nhà nớc đồng thời làm
tăng khoảng cách chênh lệch trình độ sản xuất giữa các nớc trong khu vực cũng nh trong thị trờng quốc tế. Quá trình này nếu không kịp thời nhận ra, dần dần bãi
bỏ bảo hộ thì sẽ làm cho nền kinh tế trì trệ lạc hậu, ngày càng tụt hậu so với thời đại.
Thực tế các nớc NICs và ASEAN cũng nhanh chóng nhận ra hạn chế này và họ khắc phục bằng cách giảm dần bảo hộ hoặc thay đổi chiến lợc bảo hộ cho phù
hợp với điều kiện của đất nớc mình. Hàn Quốc là một ví dụ: trong giai đoạn phát triển mậu dịch 1962-1971 Hàn Quốc thực thi chiến lợc thay thế nhập khẩu gặp
khó khăn là năng lực xuất khẩu hạn chế dẫn tới mất cân đối xuất và nhập khẩu. Hàn Quốc cũng phát triển một số ngành công nghiệp nặng tạo điều kiện chuyển
mạnh sang chính sách híng vỊ xt khÈu. Nh vËy, h¹n chÕ thø nhÊt của chiến lợc hớng nội là làm giảm cạnh tranh
của các doanh nghiệp trong nớc đợc xuất phát từ sự can thiệp của Chính phủ. Nh- ng không vì thế mà Chính phủ bỏ mặc cho nền kinh tế tự vận động theo cơ chế thị
trờng mà cần phải khẳng định một cách chắc chắn rằng: vai trò của Chính phủ là một điều kiện quan trọng nhất để thực hiện chiến lợc hớng nội thành công. Bởi vì,
trong thời kỳ đầu công nghiệp trong nớc còn non trẻ cha thể đa ra để cạnh tranh trên thị trờng quốc tế thì Chính phủ cần phải bảo hộ để nuôi dỡng nó cho đủ lông
đủ cánh rồi phải đa nó ra thi trờng cho nó tự vận động. Cho nên, biện pháp bảo hộ chỉ là biện pháp tạm thời và cần phải đợc giảm dần khi các ngành sản xuất
trong nớc phát triển hơn. Hạn chế thứ hai của chiến lợc hớng nội đó là những tệ nạn phát sinh từ việc
thực hiện không nghiêm túc của các đối tợng chịu thuế và các cơ quan thuế vụ. Điều này dẫn đến tình trạng trốn lậu thuế, hối lộ đội ngũ cán bộ thuế quan gây ra
thất thu cho ngân sách nhà nớc, làm mất lòng tin của nhân dân. Đây không còn là vấn đề vi phạm luật đơn thuần mà ngày nay đặc biệt đối với nớc ta nó trở thành
một quốc nạn. Bên cạnh việc trốn lậu thuế là việc xin xỏ, hối lộ các quan chức phụ trách
phân phối hạn ngạch nhập khẩu. Việc đánh giá sự thành công của các doanh nghiệp sẽ không còn chính xác nếu nhìn vào đó mà đánh giá thực lực của doanh
nghiệp cũng nh khả năng quản lý của lãnh đạo mà sự thành công đó có thể nhờ vào tài khéo léo, biết thơng lợng có hiệu quả với các nhà chức trách phụ trách
thuế quan hay hạn ngạch. Điều này không khuyến khích các t nhân giỏi phát huy năng lực của mình.
Một hạn chế nữa của chiến lợc thay thế nhập khẩu là hạn chế xu hớng công nghiệp hoá của đất nớc. Chiến lợc này bắt nguồn từ công nghiệp hàng tiêu dùng
sau đó tiếp tục tạo thị trờng cho các ngành sản xuất sản phẩm trung gian. Thờng
thị trờng trung gian nhỏ hơn thị trờng hàng tiêu dùng nên đầu t vào lĩnh vực này lại gặp những khó khăn nhất định. Do vậy, lại trông chờ vào bảo hộ điều này làm
tăng giá đầu vào đối với những ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Để đảm bảo lợi nhuận của các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng vẫn tiếp tục phụ thuộc
vào nguyên liệu nhập khẩu làm cho các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu trong nớc không có khả năng phát triển hạn chế sự hình thành cơ cấu công
nghiệp đa dạng của đất nớc. Theo một số nhà kinh tế hiện đại thì chiến lợc thay thế nhập khẩu không
đồng nhất với sự đóng cưa nỊn kinh tÕ mµ nã song song diƠn ra hai quá trình : một mặt hạn chế thậm chí ngăn cấm việc nhập khẩu hàng hoá trong nớc có khả năng
sản xuất, khuyến khích tiêu dùng nội địa, Mặt khác cho phép nhập khẩu các yếu tố để sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu. Trong khi đó để khuyến khích các nhà
đầu t phát triển sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu, Chình phủ áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó quan trọng nhất là hàng hoá sản xuất trong nớc
bằng thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu, u đãi đầu t, Chính từ những u đãi này nên các sản phẩm sản xuất trong nớc không có khả năng cạnh tranh và khả năng tiêu
thụ trên thị trờng quốc tế. Do đó, không có khoản thu ngoại tệ từ xuất khẩu nhng vẫn phải chi ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị và ngyuên liệu từ nớc ngoài
dẫn tới tình trạng thâm hụt cán cân thơng mại và nợ nớc ngoài gia tăng. Nền kinh tế đó trái hẳn với mô hình kinh tế mà các nớc đang phát triển xây dựng đó là : xây
dựng một nền kinh tế độc lập, phát huy nội lực là chính, ít bị phụ thuộc vào nớc ngoài.
Do chiến lợc hớng nội có những hạn chế trên, muốn khắc phục nó để đa nền kinh tế phát triển đi lên tất yếu phải tìm cách thay đổi chiến lợc. Các nớc đang
phát triển nhận thấy rằng để khắc phục vấn đề nợ nớc ngoài, mất cân đối trong hoạt động xuất khẩu, quy mô thị trờng nhỏ hẹp thì chỉ có cách là dựa vào thị trờng
rộng lớn bên ngoài. Muốn vậy, phải mở cửa tiến hành chiến lợc hớng ngoại.

III. Tính tất yếu khách quan thực thi chiến lợc hớng vào xuất khẩu.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (37 trang)

×