1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Tính tất yếu khách quan thực thi chiến lợc hớng vào xuất khẩu.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (234.06 KB, 37 trang )


thị trờng trung gian nhỏ hơn thị trờng hàng tiêu dùng nên đầu t vào lĩnh vực này lại gặp những khó khăn nhất định. Do vậy, lại trông chờ vào bảo hộ điều này làm
tăng giá đầu vào đối với những ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Để đảm bảo lợi nhuận của các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng vẫn tiếp tục phụ thuộc
vào nguyên liệu nhập khẩu làm cho các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu trong nớc không có khả năng phát triển hạn chế sự hình thành cơ cấu công
nghiệp đa dạng của đất nớc. Theo một số nhà kinh tế hiện đại thì chiến lợc thay thế nhập khẩu không
đồng nhất với sự đóng cửa nền kinh tế mà nó song song diễn ra hai quá trình : một mặt hạn chế thậm chí ngăn cấm việc nhập khẩu hàng hoá trong nớc có khả năng
sản xuất, khuyến khích tiêu dùng nội địa, Mặt khác cho phép nhập khẩu các yếu tố để sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu. Trong khi đó để khuyến khích các nhà
đầu t phát triển sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu, Chình phủ áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó quan trọng nhất là hàng hoá sản xuất trong nớc
bằng thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu, u đãi đầu t, Chính từ những u đãi này nên các sản phẩm sản xuất trong nớc không có khả năng cạnh tranh và khả năng tiêu
thụ trên thị trờng quốc tế. Do đó, không có khoản thu ngoại tệ từ xuất khẩu nhng vẫn phải chi ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị và ngyuên liệu từ nớc ngoài
dẫn tới tình trạng thâm hụt cán cân thơng mại và nợ nớc ngoài gia tăng. Nền kinh tế đó trái hẳn với mô hình kinh tế mà các nớc đang phát triển xây dựng đó là : xây
dựng một nền kinh tế độc lập, phát huy nội lực là chính, ít bị phụ thuộc vào nớc ngoài.
Do chiến lợc hớng nội có những hạn chế trên, muốn khắc phục nó để đa nền kinh tế phát triển đi lên tất yếu phải tìm cách thay đổi chiến lợc. Các nớc đang
phát triển nhận thấy rằng để khắc phục vấn đề nợ nớc ngoài, mất cân đối trong hoạt động xuất khẩu, quy mô thị trờng nhỏ hẹp thì chỉ có cách là dựa vào thị trờng
rộng lớn bên ngoài. Muốn vậy, phải mở cửa tiến hành chiến lợc hớng ngoại.

III. Tính tất yếu khách quan thực thi chiến lợc hớng vào xuất khẩu.


Nh đã phân tích ở trên, lựa chọn chiến lợc phát triển kinh tế cho một đất nớc có tầm quan trọng nh thế nào tới sự thành công hay thất bại của nớc đó. Nó quyết
định nhanh chóng phát triển cùng với xu hớng thời đại hay không, hoàn thành quá trình CNH nhanh hay chậm. Chiến lợc thay thế nhập khẩu đã nhanh chóng bộc lộ
những hạn chế đặt ra một đòi hỏi tất yếu cho các nớc đang áp dụng nó phải đổi h-
ớng chiến lợc. Điều đó là phù hợp với xu hớng phát triển của nền kinh tế, phù hợp với quy luật khách quan đó là cái cũ phải đợc thay thế bằng một cái mới tiến bộ
hơn, là chiến lợc hớng về xuất khẩu. Với chiến lợc này các nớc khắc phục đợc những điều kiện không phù hợp của mình với chiến lợc thay thế nhập khẩu đó là
một thÞ trêng trong níc nhá hĐp, mét nỊn kinh tÕ mất cân đối và nợ chồng chất n- ớc ngoài. Đồng thời chiến lợc này cho phép tất cả mọi nớc tiêu dùng một lợng
hàng hoá dịch vụ nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn sản xuất trong nớc dựa vào lợi thế so sánh. Điều ấy có nghĩa là tôi có thể tiêu dùng một mức nhiều
hơn khả năng tôi sản xuất nếu tôi trao đổi với anh và ngợc lại anh cũng đợc lợi khi anh trao đổi với tôi. Xét một cách khái quát hơn chiến lợc hớng về xuất khẩu tác
động vào phát triển nền kinh tế ở những mặt sau.
-Tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng động hơn. Sự phát triển của ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu tác động đến các ngành cung cấp đầu
vào tạo ra một mối liên hệ ngợc có hệ thống thúc đẩy những ngành phát triển. Không những thế, khi cã tÝch l tõ viƯc xt khÈu s¶n phÈm tìm mối liên hệ xuôi
giữa sản phẩm thô và ngành công nghiệp chế biến phát triển. Sự phát triển của tất cả các ngành này làm tăng thu nhập cho ngời lao động, tạo ra mối liên hệ gián tiếp
cho sự phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và dịch vụ. Nh vậy, chiến lợc hớng ngoại kéo các ngành trong nền kinh tế lại gần nhau và buộc chúng phải có quan hệ
với nhau.
- Nếu nh chiến lợc thay thế nhập khẩu lấy thị trờng trong nớc làm trọng tâm cho phát triển thì chiến lợc hớng vào xuất khẩu lại lấy thị trờng quốc tế làm trung
tâm cho mọi sự phát triển. Trong chiến lợc hớng nội các doanh nghiệp Nhà nớc ỷ lại vào Chính phủ, không có khả năng cạnh tranh thì trong chiến lợc hớng ngoại
các doanh nghiệp trong nớc muốn đứng vững trong cạnh tranh phải dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế. Mặt khác, các doanh nghiệp không bị giới hạn bởi một quy mô
thị trờng nhỏ hẹp cho nên họ có thể mở rộng sản xuất để lợi dụng lợi thế quy mô.
-Không những khi xây dựng nền kinh tế mở tiếp cận đợc với nền kinh tế có trình độ, phát triển cao hơn mà nhờ vào xuất khẩu đất nớc còn có nguồn thu nhập
là ngoại tệ, không phải nợ lần bị động mà còn có tiền để mua sắm máy móc thiết bị hiện đại, đầu t cho nghiên cứu phát triển máy móc điều đó giúp cho nền kinh tế
chủ động hơn trong chiến lợc của mình.
Tất cả những u điểm mà chiến lợc hớng ngoại khắc phục đợc hạn chế của chiến lợc hớng nội là một nguyên nhân để các nớc chuyển hớng chiến lợc phát
triển thì nguyên nhân thứ hai là xu híng héi nhËp kinh tÕ qc tÕ .
Cã thĨ nãi hội nhập kinh tế quốc tế là nhu cầu cần thiết của quá trình phát triển lực lợng sản xuất. Sự lớn mạnh của lực lợng sản xuất khiến thị trờng nội địa
trở nên nhỏ hẹp, buộc các quốc gia phải ngồi lại với nhau để tìm cách khơi thông dòng chảy của hàng hoá, dịch vụ, đồng vốn và sức lao động. Họ đấu tranh thoả
hiệp với nhau nhằm mở rộng hơn nữa thị trờng cho phát triển kinh tế. Xét cả về phơng diện nhu cầu phát triển của bản thân, cả về phơng diện buôn có bạn, bán có
phờng.Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế này.
IV. Tác động của quá trình hội nhập hình tế quốc tế đến hoạt động ngoại thơng của Việt nam
Hoạt động đối ngoại gồm ba nội dung cơ bản, hoạt động ngoại thơng, hoạt động hợp tác và hoạt động du lịch-dịch vụ thì hoạt động ngoại thơng chiếm vị trí
quan trọng.
Thông qua hoạt động ngoại thơng các quốc gia phát hiện ra những lợi thế của mình và phát huy trên thị trờng quốc tế. Hội nhập kinh tế tạo điều kiện cho các
quốc gia tận dụng đợc lợi thế so sánh, mà muốn tận dụng đợc thì phải thông qua buôn bán ngoại thơng. Quan hệ giữa hội nhập quốc tế và hoạt động ngoại thơng là
quan hệ hữu cơ với nhau. Khi hội nhập càng mạnh mẽ thì ngoại thơng cần đợc tự do hoá, xoá bỏ độc quyền. Do đó, hoạt động ngoại thơng đợc quan tâm vào bậc
nhất ở tất cả mọi quốc gia. Bản thân hoạt động ngoại thơng có những tác động đến tăng trởng kinh tế.
Kết quả của hoạt động ngoại thơng đợc đánh giá qua cán cân thanh toán xuất nhập khẩu biểu hiện sự tăng hoặc giảm thu nhập ngoại tệ của đất nớc.
ở nớc ta, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế là một chủ trơng của đại hội VIII mà đảng ta đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế đối
ngoại. Kết hợp chặt chễ hoạt động ngoại giao của nhà nớc hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại của nhân dân. Hoàn thiện cơ chế quản lý thống nhất
các hoạt động đối ngoại, tạo thành sức mạnh tổng hợp trên lĩnh vực này.
Nói tóm lại, do yêu cầu khách quan của đất nớc phải phù hợp với thực tiễn và thời đại nên hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thơng
nói riêng có những thay đổi đáng kể thể hiện ở những mặt sau :
- Níc ta më réng quan hƯ víi c¸c nớc trên thế giới trên tinh thần Viêt Nam muốn làm bạn và là đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển.
- Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phơng và đa phơng lẫn nhau tôn trọng ®éc lËp chđ qun vµ toµn vĐn l·nh thỉ cđa nhau.
- Những ngành thay đổi trong hoạt động kinh tế đối ngoại dẫn tới những chuyển biến quan trọng trên toàn bộ hoạt động kinh tế của đất nớc ta nhiều lĩnh
vực đầu t, hợp tác quốc tế và đặc biệt là hoạt động ngoại thơng .
- Nhà nớc xoá bỏ độc quyền ngoại thơng sang tự do ngoại thơng . - Cán cân thơng mại dần dần đợc cải thiện đáp ứng đợc 45 kim ngạch ngoại
tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị . - Cơ cấu nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu đợc mở rộng đặc biệt là nhóm,
mặt hàng xuất khẩu chủ lực. - Thị trờng xuất khẩu của Việt Nam cũng dần dần đựơc khai thông, mở rộng
trên quy mô và tỷ trọng trên từng thị trờng. - Nhập khẩu cũng có những thay đổi cơ bản về cơ cấu mặt hàng giảm mạnh
nhập khẩu các thiết bị toàn bộ và tăng tỷ trọng của các hàng lẻ gồm nguyên nhiên liệu, thiết bị và phơ tïng …
V- ¶nh hëng cđa c¸c chÝnh s¸ch trong kinh tÕ ®èi ngo¹i tíi ho¹t ®éng xt khÈu của nớc ta.
Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ trung tâm là đẩy mạnh CNH-HĐH thì hội nhập kinh tế sẽ tạo điều kiện thu hút nguồn vật chất nh vốn, thiết bị, vật liệu mà n-
ớc ta đang rất thiếu và rất cần. Tuy nhiên để có thể thu hút đựợc nguồn vật chất đó, nớc ta phải tạo ra những cơ hội đầu t hấp dẫn để thu hút vốn nớc ngoài, phải có
ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị tiến kịp khoa học và công nghệ hiện đại. Đồng thời phải đón đầu những kiến thức quản lý kinh tế hiện đại để vận dụng có
hiệu quả .
Hoạt động xuất nhập khẩu là một nội dung quan trọng trong hoạt động ngoại thơng. Do đó hoạt động này chịu ảnh hởng trực tiếp của các chính sách
ngoại thơng. Những thay đổi trong hoạt động xuất nhập khẩu làm thay đổi căn bản hoạt động ngoại thơng, đến lợt mình, những thành công trong hoạt động ngoại th-
ơng thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phát triển.
Trong những năm qua, nớc ta đã có những chính sách đổi mới theo hớng mở cửa rất hấp dẫn thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thay đổi một cách toàn diện trên các
mặt nhu : quy mô mở rộng và tốc độ tăng trởng nhanh, cơ cấu nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu cũng đợc mở rộng theo chiều sâu cơ cấu thị trờng xuất khẩu đợc
mở rộng đặc biệt là hàng xuất khẩu Việt Nam đã xâm nhập vào một số thị trờng khó tính nhất trên thế giíi lµ Mü vµ EU .
Bíc vµo thÕ kû míi Việt Nam vẫn phát triển trên tinh thần phát huy nội lực là chính nhng phải tận dụng các nguồn ngoại lực. Kết hợp nội lực với ngoại lực
thành sức mạnh tổng hợp tiến công mạnh mễ vào CNH- HĐH. Qua đó ta thấy hoạt động xuất nhập khẩu trong thời gian tới không những không bị xem nhẹ mà còn đ-
ợc quan tâm tạo điều kiện phát triển từ những chính sách u đãi. Đặc biệt là từ nay đến 2006 Việt Nam phải dần dần hoàn thành giảm dần tiến tới xoá bỏ hạn ngạch
và thuế quan theo hiệp định hiệu lực chung CEPT để tham gian trên tinh thần phát huy nội lực là chính nhth thuế quan có hiệu lực chung CEPT để tham gian
trên tinh thần phát huy nội lực là
thuế quan có hiệu lực chung CEPT để tham gian trên.
Sự phát triển nhanh chóng của hoạt động xuất khẩu trong mời năm qua cã thĨ xem lµ mét thµnh tùu nỉi bËt cđa công cuộc đổi mới. Điều đó thể hiện qua tốc
độ tăng trởng, quy mô xuất khẩu, cơ cấu nhóm, mặt hàng xuất khẩu, cơ cấu thị tr- ờng xuất khẩu và cơ cấu chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu.
Năm 1989 kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 4.511,8 triệu rúp-USD trong đó xuất khẩu 1946 triệu, đến năm 2000 con số này đã lên tới 23,16 tỷ USD trong đó
xuất khẩu chiếm 11.540 triệu USD. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm của thời kỳ 91-95 là 28.
Trong 6 năm qua, toàn đảng toàn dân ra sức thực hiện Nghị quết Đại hội VIII nên đã đạt đợc những thành tựu sau : xuất khẩu nông nghiệp gạo, hàng thuỷ
sản và các sản phẩm cây công nghiệp chiếm gần 40 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc. Xuất khẩu sản phẩm cây công nghiệp tăng nhanh, giá trị xuất khẩu hàng
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thủ công năm 2000 khoảng 8,7 tỷ USD gấp 3 lấn so với năm 1995.
Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt cao nhất từ trớc tới nay khoảng 50 tỷ USD tăng bình quân 18,6. Chênh lệch xuất, nhập khẩu giảm mạnh từ 49,6năm
1995 xuống còn 3,1 năm 2000 so với tổng kim ngạch xuất khẩu.
Đạt đợc kết quả trên ngoài yếu tố xây dựng và phát triển thị trờng còn phải kể đến đầu t và phát triển năng lực sản xuất ở mọi thành phần kinh tế mà biểu
hiện rõ nhất lầ việc hình thành nhiều ngành hàng mũi nhọn. Số liệu thống kê cho thấy trên 78 kim ngạch xuất khẩu mời tháng đầu năm nay thuộc về những mặt
hàng chủ lực bao gồm những nhóm, mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu từ 100 triệu
USD trở lên. Nếu trong những năm 1991-1993 mới có lác đác một vài mặt hàng chủ lực thì đến nay con số đã lên tới 12- 13 mặt hàng.
Tuy đạt đợc những kết quả trên nhng khi nhìn lại trong những năm qua thì thấy tốc độ tăng chậm lại biểu hịên cụ thể là : năm 1994 tốc độ tăng xuất khẩu là
35,8; năm 1995 tăng 34,4; năm 1996 tăng 33,2; năm 1998 chỉ còn 26; năm 1999 chỉ còn 2,4 đến năm 2000 là 23,1.
Một nguyên nhân quan trọng của hiện tợng này là do cơ cấu hàng xuất khẩu cha có những thay đổi căn bản so với thời kỳ 91-95 để tạo ra những xung lợng mới
cho tăng trởng xuất khẩu. Bên cạnh đó, việc chuyển hớng các mặt hàng xuất khẩu đặc biệt là thịt chế biến vào thị trờng Liên Xô cũ gặp rất nhiều khó khăn. Cuộc
khủng hoảng kinh tế khu vực cũng nh sự gia tăng xuất khẩu của Trung Quốc đã làm cho việc xuất khẩu thịt lợn sang thị trờng Hồng Kông trở nên bế tắc.
Về quy mô, xuất khÈu cđa níc ta cßn hÕt søc nhá bÐ xÐt cả về tơng đối lẫn tuyệt đối. Nếu tính bình quân đầu ngời ngay từ những năm 1986 và hiện lên tới
80-90 tỷ USD. Thái Lan đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ từ những năm 1987, hiện lên tới 55-60 tỷ USD. Philipin là nớc kém hơn nhng cũng đạt kim ngạch xuất khẩu
10 tỷ USD vào năm 1992 và hiện nay xấp xỉ 25 tỷ USD. Nếu tính kim ngạch xuất khẩuđầu ngời, năm 1996 Malaixia đã đạt 3700 USD, Thái Lan đạt 930 USD và
Philipin đạt 285 USD trong khi ®ã Việt Nam mới đạt 96 USD. Năm 2000 Indolexia đạt 267 USD, Philipin 344 USD, Thái Lan 943 USD, Malaixia 3750
USD, Hµn Quèc 3961 USD, Xingapo 4167 USD, VIệt Nam 150 USDđầu ngời.
Thực tế cho thấy, nguy cơ này xa hơn là hiện thực nếu nh chúng ta không có giải pháp để tạo ra những chuyển biến cơ bản cho hoạt động xuất nhập khẩu
nói chung và cho xuất khẩu nói riêng. Nh trên đã phân tích một trong những nguyên nhân chủ quan quan trọng gây ra hiện tợng tốc độ xuất khẩu ngày một
chậm dần là do cơ cấu mặt hàng ít có sự thay đổi căn bản.
Trong thời gian qua, việc chuyển dịch cơ cấu diện ra chủ yếu nhờ tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu của bốn nhóm hàng : dệt may, giầy dép, sản phẩm gỗ
tinh chế và điện tử bao gồm cả linh kiện máy tính . Trong số này chỉ có sản phẩm gỗ tinh chế là đạt hàm lợng nội địa cao các nhóm hàng còn lại chủ yếu dựa
vao phơng pháp gia công hàm lợng nội địa tơng đối thấp.
Song một điều không thể phủ nhận khi nhìn lại trong thời gia qua cơ cấu nhóm, mặt hàng xuất khẩu vẫn tiếp tục chuyển dịch theo hớng tăng dần tỷ trọng
hàng đã qua chế biến, nhất là chế biến sâu. Nếu nh năm 1991, hàng nguyên liệu thô chiếm trên 92thì nay chỉ còn 60 kim ngạch xuất khẩu. Hàng chế biến
trong đó có hàng chế tạo năm 1991 chỉ chiếm khoảng 8 thì đến năm 2000 đã tăng lên 40. Nhóm hàng nông lâm thuỷ-hải sản năm 91 chiếm 53 đến nay
xuống còn 36,5, nhóm hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 91 chiếm 47, năm 2000 đã lên tới 63,5 tổng kim ngạch xuất khẩu.
Nhóm hàng xuất khẩu ngày càng đợc mở rộng đã có 16 nhóm mặt hàng hoàn toàn mới và khoảng 20 nhóm mặt hàng lần đầu tiên thâm nhập vào một số thị
trờng. Nếu nh năm 1991 mới có 4 nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực là dầu thô, thuỷ-hải sản, gạo và dệt may thì đến năm 2000 đã có thêm 8 mặt hàng chủ lực mới
là cà phê, cao su, điều, giầy dép, than đá, hàng điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ và rau quả. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào diễn biến của thị trờng quốc tế mức đóng góp
của mỗi mặt hàng chủ lực trong từng năm có khác nhau. Nếu hàng dệt may, giầy dép, thuỷ sản, cà phê, hạt điều đóng góp lớn vào việc tăng tốc độ tăng trởng xuất
khẩu của năm 9726,6 thì đầu năm đến nay đến lợt dầu thô, thuỷ sản, máy tính điện tử, thủ công mỹ nghệ, rau quả đóng vai trò tiên phong trong việc tăng trởng
giá trị suất khẩu. Theo Tổng cục Thống kê tỷ trọng đóng góp vào tốc độ tăng trởng xuất khẩu trong mời tháng qua của dầu thô là 51; thuỷ sản là 16,3; máy tính
điện tử là 7,3.
Một điều nữa đáng ghi nhận là từ đầu năm đến nay nhóm hàng nông sản của Việt Nam trừ gạo luôn tỏ ra sung sức về khả năng sản xuất và có mức xuất
khẩu ngày một tăng. Trong năm vừa qua, cả nớc xuất khẩu 74000 tấn lạc nhân tăng gần 47; 214000 tấn cao su tăng 18,3 ; 543000 tấn cà phê tăng 65,4
đã vợt kế hoach cả năm 8,5; 34000 tấn chè tăng 36 so với cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản trong năm qua không
những vợt ngỡng một tỷ mà còn đạt 1,16 tỷ USD tăng 49.45 so với cùng kỳ năm trớc, vợt 6 so với kế hoạch năm. Kết quả xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp
chế tác từ đầu năm đến nay vẫn giữ đợc nhịp độ tăng trởng khá. Kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may trong mời tháng qua đạt trên 1.516 tỷ USD tăng 4.4 so
với cùng kỳ năm trớc, giầy dép đạt 1.163 tỷ USD tăng 5.2, hàng thủ công mỹ nghệ đạt gần 200 triệu USD tăng gần 49 và vợt kế hoạch năm 10.6, điện tử đạt
132 triệu USD tăng 9, máy vi tính đạt 518 triệu USD tăng 38.6 so với cùng kỳ năm trớc.
Theo ông Lê Đức Gia-Phó vụ Trởng Vụ tổ chức Bộ thơng mại ba nhóm hàng nêu trên có tầm quan trọng nh ba chân kiềng của hoạt động xuất khẩu nớc ta.
Ông nhận định : hàng năm do nhiều yếu tố khác nhau có thể nhóm hàng này tăng
nhóm hàng kia giảm nhng nếu biết phát huy để bù trừ cho nhau thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng trởng bền vững.
Nếu nh trên phân tích cho rằng một trong những nguyên nhân quan trọng của hiện tợng tốc độ tăng trởng giảm dần là do cơ cấu hàng xuất khẩu cha có
những thay đổi trên tất cả các mặt hàng mà chủ yếu nhờ tăng nhanh kimh ngạch của bốn nhóm hàng cơ bản : dệt may, giầy dép, sản phẩm gỗ tinh chế và điện tử
thì vấn đề thị trờng xuất khẩu là lời giải cho câu hỏi vì sao cơ cấu hàng xuất khẩu có sự thay đổi tích cực mà tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn tiềm ẩn nguy cơ tăng tr-
ởng chậm.
Hiện nay, nớc ta đã có quan hệ thơng mại với hơn 60 nớc và có thoả thuận đối xử tèi hËu qc MFN víi 68 qc gia vµ vïng l·nh thỉ.
Sù tan r· cđa khèi SEV dÉn tíi nh÷ng thay đổi lớn trong cơ cấu thị trờng xuất khẩu của nớc ta thể hiện : Liên Xô cũ và Đông Âu, Việt Nam chỉ còn chiếm
gần 2 kim ngạch xuất khẩu đạt 230 triệu USD. Do đó, Châu á trở thành thị tr- ờng xuất khẩu chính ở nớc ta. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu cho thị trờng này
tăng từ 26,73 vào năm 1989 lên 43,29 vào năm 1990 và năm 1991 tăng lên tới 76,73 và luôn duy trì trong khoảng 72-74 từ đó đến nay. Trong đó Nhật Bản
và ASEAN đóng vai trò lớn Nhật Bản chiếm 15,8; các nớc ASEAN chiếm 21,3. Nhìn chung, cơ cấu thi trờng xuất khẩu đã có những chuyển hớng tích
cực. ở khu vực Châu á- Thái Bình Dơng do các thị trờng trong khu vực đang trên đà khôi phục, sức mua tăng lên một số mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu tăng lên
điện tử, lơng thực, thực phẩm .
Khu vực Âu- Mỹ hàng năm nớc ta xuất siêu trên 2000 triệu USD. Các mặt
hàng xuất khẩu chủ yếu là: hàng may mặc, giầy dép, thuỷ sản, cao su .
Với thị trờng Tây-Nam A-Châu Phi quan hệ kinh tế-thơng mại giữa Việt Nam và khu vực này cha đợc phát triển đáng kể, mặc dù ta có khả nâng xuất khẩu
gạo, chè. đồ điện tử, hàng may mặc, giầy dép có thể nhận định rằng đây là khu
vực còn nhiều tiềm năng để khai thác nếu sử lý tốt vấn đề thông tin, xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm.
Bên cạnh nớc ta là Trung Quốc, sự gia tăng của Trung Quốc là một hạn chế gây ảnh hởng rất lớn cho thị trờng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên kim ngạch
xuất khẩu chính sang Trung Quốc tăng từ 340, 2 triệu USD năm 1996 lên 858,9 triệu USD vào năm 2000.
Tû träng xuÊt khÈu sang EU nãi riªng và Châu Âu nói chung tăng dần trong những năm qua. Năm 1991, EU mới chiếm 5 - 6 kim ngạch xuất khẩu thì
đến nay đã tăng lên 21,7.
Nhìn chung quá trình chuyển dịch cơ cấu thị trờng suất khẩu ®· diƠn ra t¬ng ®èi tèt trong thêi gian qua, góp phần đáng kể vào việc duy trì tốc độ tăng trởng
kim ngạch suất khẩu sau khi mất đi thị trờng truyền thống. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này cha đợc định hớng trên tầm nhìn dài hạn, chủ yếu mới là sự thích ứng với
thay đổi đột biến của tình hình và vì vậy đã nhanh chóng bộc lộ những điểm yếu. Từ chỗ trớc đây phụ thuộc chủ yếu vào buôn bán với hội đồng tơng trợ kinh tÕ
SEV xt khÈu níc ta hiƯn nay l¹i phơ thc lớn vào thị trờng Châu á. Dẫn đến cơ cấu thị trờng nớc ta hiện nay vẫn thiên lệch, thậm chí trên phơng diện nào đó
còn thiên lệch hơn cả trớc đây.
Thị trờng nớc ta mới chỉ có chiều rộng mà cha có chiều sâu, hàng hoá và dịch vụ của nớc ta cha chiếm đớc thị phần lớn tại các thị trờng đã xâm nhập đợc,
thậm chí còn bị mất chỗ đứng trên một số thị trờng. Một hạn chế nữa là ở một số thị trờng có dung lợng hàng hoá và dịch vụ của ta cha có mặt, việc tìm kiếm, mở
rộng thị trờng còn có phần thụ động, hoạt động xúc tiến thơng mại và đầu t để xâm nhập thị trờng cha đợc quan tâm đúng mức.
Mặt khác, việc chậm trở lại với thị trờng truyền thống và mở lối để lách chân vào các thị trờng khác trong những năm gần đây thể hiện sự bất cập trong
chính sách bạn hàng xuất khẩu của nớc ta. Nh vậy, mặc dù chúng ta chủ trơng đa phơng hoá thị trờng, đa phơng hoá quan hệ nhng trên thực tế lại thiếu những chính
sách và giải pháp cụ thể thúc đấy quan hệ đó.
Bên cạnh những chuyển động về cơ cấu thị trờng, cơ cấu chủ thể tham gia hoạt đông xuất khẩu cũng có những thay đổi lớn trong những năm vừa qua. Cơ chế
xuất nhập khẩu đẫ đợc đổi mới một cách cơ bản, chuyển từ cơ chế nhà nớc độc quyền ngoại thơng sang cơ chế mở rộng quyền xuất nhập khẩu cho cacs địa ph-
ơng, các ngành và các thành phầ kinh tế; từ cơ chế hành chính mệnh lệnh sang sự vận hành theo cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Ngày 3071999, chính
phủ đã ban hành nghị định số 571999 ND-OP quy định chi tiết về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và mua bán hàng hoá, đại lý với nớc ngoài. Nghi định
và xu hớng thay đổi cơ chế trên đã xoá bỏ hoàn toàn chế độ giấy phép kinh doanh xt nhËp khÈu. Tíi nay ®· cã 8.137 doanh nghiệp đăng ký mã số doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu tăng hơn 3 lÇn so víi thêi thêi gian tríc ngµy 191999, trong đó các doanh nghiệp quốc doanh là 4.497, ngoài quốc doanh là
3.640. Cùng với sự thay đổi cơ cấu mặt hàng, cơ cấu thị trờng, thì sự thay đổi cơ cấu chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu đợc xem là sự thay đổi sâu rộng nhất.
Điều đó chứng tỏ nhà nớc ta đã có những nhận định ban đầu đúng đắn, những chính sách đa ra dù cha đợc là hoàn chỉnh thì cũng đã phần nào phù hợp với xu h-
ớng phát triển và điều kiện thực tiễn. Kết quả của những cố gắng đó là kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng trëng bỊn v÷ng” nh phã vơ trëng vơ tỉ
chøc Bé thơng mại nhận xét. Ngoài việc phát huy nội lực của các doanh nghoiệp trong nớc, để đạt đợc kết quả trên cong có phần đóng góp của các doanh nghiệp
cóa vốn đầu t nớc ngoài cha kể kim ngạch xuất khẩu dầu thô trên 2,75 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng khác của khu vực đầu t nớc ngoài cũng đạt
trên 2,7 tỷ USD, tăng 29,7 so với kết quả 10 tháng đầu năm 2000.
Tùu chung l¹i, xt khÈu ViƯt Nam trong thêi gian qua có những thay đổi lớn cả về quy mô, tốc độ, cơ cấu mặt hàng, cơ cấu thị trờng và đặc biệt là cơ cấu
chủ thể tham gia hoạt đông xuất khẩu. Những chuyển biến này làm thay đổi cục diện nền kinh tế đất nớc, góp phần lớn vào thu nhập quốc dân, cải thiện đời sống
của nhân dân, thay đổi căn bản cơ cấu công nghiệp của đất nớc thúc đẩy sự hình thành cơ cấu copong nghiệp đa dạng của đất nớc. Qua đó, phát hiện những ngành
có tiềm năng phát triển lớn, có khả năng tạo bớc đột phá và trở thành ngành xuất khẩu đầu tầu nh dệt may, dầy dép, điện tử và đặc biệt là ngành khai thác và chế
biến thuỷ sản.
Tình hình xuất khẩu thủy sản trong thời gian qua Thuỷ sản là một ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Nó không những
đóng góp vào thu nhập quốc dân cũng nh là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao mà còn là một ngành góp phần giải quyết lao động d thừa ở nông thôn, cải thiện bộ
mặt của nông thôn miền biển, làm giầu cho đất nớc.
Hơn nữa ngành thuỷ sản nớc ta còn có tiềm năng rất lớn, cần phải phát huy hơn nữa để tăng vai trò của ngành thuỷ sản trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nớc. ở Việt Nam, nh chỉ thị 20 CTTƯ của Bộ chính trị đã nêu rõ: vùng biển, hải đảo và ven biển là địa bàn chiến lợc có vị trí quyết định đối với sự
phát triển của nớc ta, là thế mạnh và tiềm năng quan trọng chọ sự nghiệp CNH, HĐH Do vậy chỉ thị cũng nêu: Dựa trên những tiến bộ về khoa học và công
nghệ làm động lực vừa thúc đẩy nghiên cứu, quản lý khai thác tiềm năng biển có hiệu quả...
Cùng với tốc độ tăng trởng của hoạt động xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu năm 1999 chiếm 8,17 toàn quốc đứng hàng thứ t trong số mặt hàng thu nhiều
ngoại tệ cho đất nớc, trong thời gian 10 năm qua ngành thuỷ sản có mức tăng tr- ởng bình quân hàng năm về tổng sản lợng khoảng 4, giá trị kim ngạch xuất khẩu
tăng từ 0 đến 15 đạt 858,6 triệu USD vào năm 1999. Tuy nhiên đây mới chỉ là con số khởi đầu theo nhận xét của ông Nguyễn Trọng Hồng
Thứ trởng bộ thuỷ sản bởi vì ngành khai thác và chế biến thuỷ sản vẫn còn là ngành tiềm năng cha
đợc đầu t và phát triển đúng mức.
Trong hoạt động xuất khẩu thuỷ sản đang khẳng định vai trò chủ lực trong xuất khẩu ë ViƯt Nam. HiƯn nay níc ta ®øng thø 29 trên Thế giới về xuất khẩu
thuỷ sản, xuất khẩu sang 45 nớc. Trong 12 năm qua, tốc độ tăng trởng xuất khẩu bình quân là 20 năm từ 90 triệu USD năm 1988 năm 2001 dự kiến 1.2 tỷ USD
ớc tính giá trị xuất khẩu thuỷ sản quý 12001 sẽ đạt 212 triệu USD tăng 13,88 so với cùng kỳ năm ngoái. Kết quả cao nhất là trong hai năm 1999
2000 đã đa hàng thuỷ sản lọt vào danh sách năm hàng xuất khẩu chủ lực đạt giá trị cao nhất của
Việt Nam và là một trong ba mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt mức tăng trởng trên 10 về giá trị trong hai năm qua: năm 1999 tăng 10,59 so với năm 1998, năm
2000 tăng 13,08 so với năm 1999. Nếu tính cả giai đoạn 11 năm 1990 đến 2000 tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng gấp 4,06 lần so với năm 1990.
Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu trong hai năm 1999 và 2000 những mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu chính là: đơn vị là .
Mặt hàng 1999
2000 Hàng khô
7 5
Cá đông lạnh 10
8 Tôm đông lạnh
59 35
Nhuyễn thể đông lạnh 11
9 Các loại khác
13 43
Nhìn vào số liệu trên thì trong hai năm 1999 và 2000 cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chính của thuỷ sản đợc mở rộng nhng vẫn trọng điểm là hàng tôm đông lạnh
chiếm 39.
Tính đến hết tháng 82000, sản lợng khai thác thuỷ sản đạt 911233 tấn tăng 110,47 so với cùng kỳ năm 1999. Một số loài trớc đây dùng chế biến bột cá
hoặc phơi khô rồi tiêu dùng nội địa nh cá bò, cá cơm...nay cũng tận dụng để chế biến xuất khẩu .
Phơng thức nuôi trồng cũng đợc chuyển đổi : mức độ thâm canh cáo nâng sản lợng khai thác lên tới 442.888 tấn kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng nhanh
nh vậy là do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan; đó là thiên thời địa lợi , nhu cầu thuỷ sản trên thế giới tăng mạnh đặc biệt là với mặt hàng
chế biến giá trị gia tăng và giá trị cao hàng thuỷ sản Việt Nam đợc đánh giá cao hơn so với những năm trớc. Do đó, doanh nghiệp đa tỷ trọng hàng giá trị gia tăng
từ 19,7 năm 2000, lên khoảng 30 trong năm nay.
Mặt khác giá trị xuất khẩu một số mặt hàng thuỷ sản chủ lực của Việt Nam tăng lên đáng kể : riêng giá trị kim nghạch xuất khẩu tôm các loại trong năm 2000
đạt 428 triệu USD so với 282 triệu USD của năm 1999.
Kết quả trên là hệ quả tất yếu của việc chủ động tìm khách hàng, lấy xuất khẩu làm trọng tâm của ngành thuỷ sản. Cùng với chính sách hỗ trợ của Chính
Phủ về thuế, tín dụng, đầu t... các doanh ngiệp xuất khẩu thuỷ sản đã phát huy hết khả năng và tÝch cùc më réng thÞ trêng. ViƯt Nam hiƯn n»m trong danh sách một
xuất khẩu vào liên minh châu Âu EU và có 40 cơ sở nớc ta có mã số cho thị tr- ờng này. Đây chính là bàn đạp quan trọng cho xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào
các thị trờng khác.
Trong những năm gần đây kim nghạch xuất khẩu của nớc ta sang Mỹ cũng tăng lên từ 39 triệu năm 1998 lên tới 80 triệu năm 1999 và 129 triệu năm 2000.
Ước tính tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang thị trờng này trong cả năm 2001 sẽ đạt 250 triệu và Mỹ là thị trêng nhËp khÈu thủ s¶n lín thø hai cđa ViƯt Nam.
Về cơ cấu chủ thể tham gia hoạt động xuất khẩu thuỷ sản trong thời gian qua đã có những thay đổi đáng kể. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đủ ®iỊu kiƯn
xt khÈu sang thÞ trêng EU, cã thĨ liƯt kª ra mét sè doanh nghiƯp nh An Giang fisery import-export company, work shop No 1- AGIFISH Ngoc Ha company Ltd.
Food processing and trading... đặc biệt là ngày 14-7-1999 Chủ tịch nớc ký quyết định 287KTCTN đã phong tặng danh hiệu anh hùng lao động với thành tích đặc
biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới cho xí nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu Cần Thơ Cafatex. Đây là xí nghiệp đạt đợc những thành công to lớn trong việc xác
định đúng thị hiếu của khách hàng để cân đối cơ cấu sản phẩm xuất khẩu, tìm đợc sự tin cậy hợp tác quý báu của khách hàng trong và ngoài nớc. Mặt khác Cafatex
là đơn vị đi đầu trong việc tìm kiếm nguyên liệu cho chế biến.
Công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản An Giang cũng là một doanh nghiệp có nhiều đóng góp trong kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nớc nhiều năm liền là đơn
vị dẫn đầu ngành thuỷ sản và là một trong những đơn vị đứng đầu tỉnh An Giang về năng suất, chất lợng và hiệu quả. Trong 11 năm 1990 và 2000 tổng doanh thu
của doanh nghiệp tăng 11 lần nộp ngân sách nhà nớc 7,45 tỷ. Là một trong 18
doanh nghiệp đầu tiên đợc cộng đồng châu Âu đa vào danh sách nhóm một các doanh nghiệp đợc phép xuất khẩu thuỷ sản vào EU.

VI. Các chính sách thúc đẩy hoạt động xuất khẩu .


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (37 trang)

×