1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Chính sách tỷ giá hối đoái.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (234.06 KB, 37 trang )


nghĩa là bất cứ mặt hàng nào thuộc đối tợng chịu thuế VAT khi đem xuất khẩu đều đợc áp dụng thuế suất 0 và đợc hoàn thuế VAT đầu vµo. Nh vËy cïng víi
viƯc khun khÝch xt khÈu, kÝch thích sản xuất cùng với vấn đề giải quyết việc làm, hàng hoá đặc biệt khi xuất khẩu đợc bình đẳng với hàng hoá khác khi xuất
khẩu .

2. Chính sách tỷ giá hối đoái.


Cũng giống nh các biến số kinh tế vĩ mô khác, tỷ giá hối đoái rất nhạy cảm với sự thay đổi của nó có những tác động rất phức tạp, ảnh hởng đến toàn bộ nền
kinh tế quốc dân theo những tác động khác nhau thậm chí trái ngợc nhau. Đa đến những kết quả khó lờng trớc, đụng chạm không chỉ tới xuất nhập khẩu, cán cân th-
ơng mại mà còn tới mặt bằng giá cả, lạm phát và tiền lơng thực tế, đầu t và vay nợ nớc ngoài, ngân sách nhà nớc ,cán cân thanh toán quốc tế cũng nh sự ổn định kinh
tế vĩ mô nói chung . Ngay từ 1996, thực hiên chính sách đổi mới toàn diện và sâu sắc, nớc ta có
những điều chỉnh lại tỷ giá một cách căn bản. Hoạt động ngoại thơng phát triển mạnh, kim ngạch xuất khẩu 2000 gấp hơn 4 lần so với 1990, quan hệ với các nớc
trên thế giới mở rộng. Với sự phá giá rất mạnh nội tệ, sau ®ã nhanh chãng thèng nhÊt tØ gi¸ chÝnh thøc víi thị trờng, xoá bỏ cơ bản hệ thống tỉ giá cũ quá phức
tạp ... thì cơ chế quản lý ngoại hối và chính sách tỉ giá của Việt Nam đã có bớc chuyển biến rất căn bản sang cơ chế thị trờng, thoát khỏi trạng thái thụ động để trở
thành công cụ điều chỉnh vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế mở.
Trong giai đoạn 1992-1996, ổn định tỉ giá hối đoái quan trọng hơn là tăng giá để khuyến khích xuất khẩu là điều cốt lõi và cũng là thành công của chính
sách tỷ giá trong giai đoạn này biểu hiện kim ngạch xuất khẩu liên tục qua các năm tăng cao từ 20-30năm.
Sự ra đời của thị trờng ngoại tệ cho phép 7 ngoại tệ đợc sử dụng ®Ĩ giao dÞch: USD, DEM, GBP, FF, JPY, HKD, VND, cùng với việc ra đời 2 trung tâm
giao dịch ngoại tƯ ë Hµ Néi vµ TP Hå ChÝ Minh lµ bớc tiến đáng kể theo hớng thị trờng gián tiếp kích thích xuất khẩu thông qua tạo mặt bằng giá hợp lý hơn. Trong
điều kiện Việt Nam hiện nay, xuất khẩu là một trong những nguồn cung ngoại tệ chủ chốt song cung cầu ngoại tệ luôn luôn căng thẳng và VND không có khả năng
chuyển đổi hoàn toàn nên trong thời gian tới vẫn tập chung ngoại tệ vào các ngân hàng, để ngân hàng thống nhất ngoại hối. Đồng thời tự do hoá quyền sở hữu và sử
dụng ngoại tệ, đặt ngoại tệ thành một hàng hoá đặc biệt đợc trao đổi trên thị trờng.
Đẩy mạnh các biện pháp khuyến khích không tiêu dùng tiền mặt trong thanh toán ngoại tệ, mở rộng tiến tới tự do hoá mở và sử dụng tài khoản nớc ngoài và kinh tế
trong nớc. Để kích thích xuất khẩu giảm dần tiến tới xoá bỏ việc bảo đảm cân đối ngoại tệ tõ phÝa chÝnh phđ. Më réng qun sư dơng ngo¹i tệ của các doanh nghiệp
xuất khẩu, tăng cờng quyền hạn và vai trò của ngân sách Nhà nớc trong dịch vụ xuất khẩu. Để đảm bảo cho nhà xuất khẩu một mặt cần điều chỉnh giá mua ngoại
tệ linh hoạt không để doanh nghiệp bị thua lỗ do biến động tỷ giá. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiƯp xt khÈu më, sư dơng, chun còng nh ®ãng tài
khoản của mình.
Trong dài hạn, mục tiêu là khả năng chuyển đổi hoàn toàn của Việt Nam và một tỷ giá thích hợp có tác dụng khuyến khích tăng trởng kinh tế và khuyến khích
xuất khẩu. Khi VND có khả năng chuyển đổi hoàn toàn thì quy định về ngoại hố nói chung về bản tệ nói riêng sẽ đợc dần dần nới lỏng và các nhà xuất khẩu có
toàn quyền sở hữu và chủ động sử dụng số ngoại tệ của mình theo cơ chế thị trờng.
Tóm lại trong thời gian tới vẫn tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá hợp lý để ngân hàng Nhà nớc điều chỉnh tỷ giá một cách linh hoạt, phù hợp cung cầu không
gây biến động lớn cho nền kinh tế, góp phần khuyến khích xuất khẩu trong ngắn hạn và trung hạn không đặt vấn đề kích thích xuất khẩu bằng công cụ phá giá và
nới lỏng quản lý ngoại hối mà chỉ dừng lại ở chính sách tỷ giá không cản trở hay bóp chết xuất khẩu .
3. Chính sách đầu t đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và tham gia hoạt động xuất khẩu .
Đầu t là hoạt động bỏ vốn và làm tăng quy mô của tài sản quốc gia. Hoạt động đầu t bao gồm đầu t trong nớc và đầu te nớc ngoài. Đối với đầu t
trong nớc đặc biệt là những doanh nghiệp tham gia sản xuất hàng hoá xuất khẩu đ- ợc Nhà nớc khuyến khích xuất khẩu nhất là các mặt hàng chủ lực có lợi thế so
sánh thông qua vận hành quỹ hỗ trợ xuất khẩu, quỹ bảo lãnh xuất khẩu cũng nh các biện pháp hỗ trợ về thông tin, tìm kiếm khách hàng, tham dự triển lãm...
Đối với khu vực đầu t nớc ngoài nói chung và đầu t trực tiếp nớc ngoài là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hội nhập kinh tế của một
đất nớc, là một cầu nối quan trọng giữa kinh tế nội địa với nền kinh tế toàn cầu. Do đó, tăng cờng thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc coi là giải pháp quan
trọng húc đẩy xuất khẩu. Trong đề án này em xin đa ra giải pháp thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài thúc đẩy xuất khẩu .
Trớc tiên, cần phải khẳng định rằng, trong thời gian qua khu vực có vồn đầu t nớc ngoài cung cấp cho xã hội khối lợng hàng hoá ngày càng lớn, nhất là hàng
hoá xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Cụ thể là: Kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài năm 1991 là 52 triệu USD, năm 1995 tăng lên 440 triệu,
năm 1996 đạt 786 triệu, năm 1998 đạt 1,5 tỷchiếm khoảng 15 tổng kim nghách xuất khẩu cả nớc cha kể dầu thô. Trong 10 năm qua đầu t trực tiếp nớc ngoài
đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế xã hội và đóng góp ngày càng cao và tăng kim nghạch xuất khẩu cũng nh đóng góp vào GDP: năm 1992 là 2,
đến năm 1998 là 8,6. Trong những năm tới Nhà nớc liên tục có những điều chỉnh chính sách đầu t nớc ngoài nhằm phát huy vai trò của nố đối với hoạt động
xuất khẩu thông qua: Bỉ sung ngn vèn cho doanh nghiƯp, chun giao công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, më réng thÞ trêng...
Nh vËy cã thĨ thÊy r»ng gia tăng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dung vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm đạt
mục tiêu thúc đẩy xuất khẩu .
Hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động thuỷ sản nói riêng đều khát vốn. Nh ta đã biết, ngành khai thác và chế biến thuỷ sản có tiềm năng phát triển
rất lớn mà quy mô vốn đầu t mới chỉ đáp ứng đợc 20. Trong đó cha kể đầu t còn cha đồng bộ mang nặng tính tự phát khiến dự án thuỷ sản cha phát huy đợc hiệu
quả.
Có lẽ việc quy hoạch vùng nuôi còn dang dở nên các tổ chức cho vay tÝn dơng tá ra kh¸ e dÌ trong viƯc thÈm định dự án vay vốn để nuôi trồng. Đây là
nguyên nhân đầu tiên khiến cho khu vực nuôi thuỷ sản khát vốn
Hiện nay, nhiều tỉnh cha có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội hoặc có nhng lại không cập nhật với thực tiễn cộng với việc chanh chấp và thiếu
phân định rõ ràng giữa nuôi trồng thuỷ sản và đất nông nghiệp gây trở ngại klhông nhỏ cho quá trình xét duyệt cấp vốn.
Theo các chuyên gia thuỷ sản, trong khi vốn trong nớc còn hạn chế thì việc thu hút thêm nguồn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài sẽ giúp ngành thuỷ sản thành
công.
Theo ông Nguyễn Trọng Hồng - Thứ trởng bộ thuỷ sản việc huy động 35.000 tỷ đồng vào thuỷ sản là rất khó khăn bởi vì nhìn vào khoảng thời gian
86-98 tỷ trọng vốn đầu t cho thuỷ sản chỉ đợc 12,49 tơng đơng với 974 tỷ đồng. Trong khi ®ã cã rÊt Ýt doanh nghiƯp ®Çu t cho ®ỉi mới công nghệ, sản phẩm có giá
trị gia tăng mới chỉ chiếm 6 -7 kim ngạch xuất khẩu. Trình độ bảo quản nguyên
liệu hạn chế nên việc thất thoát sau thu hoạch là vẫn cao. Đó là lý do giải thích vì sao Việt Nam cho đến nay chỉ có 35 doanh nghiệp đăng ký nâng cao cơ sở chế
biến theo HACCP và chỉ có 27 doanh nghiệp đợc công nhận sản xuất hàng hoá đạt yêu cầu thị trờng EU
Giải quyết vấn đề vấn đề vốn thứ trởng bộ thuỷ sản cho rằng: chỉ nhà nớc mới giám đầu t vốn vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đòi hỏi vốn lớn, khó và lâu
thu hồi vốn nh cầu cảng, bến cá , mua sắm thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học
điều tra nguồn lợi đào tạo khuyến ng.
Từ nay đến 2010 nên chăng bộ thuỷ sản hoàn thành hàng loạt công trình hạ tầng dịch vụ nh cầu cảng, bến đậu, hệ thống cấp dầu, nớc ngọt, kho chứa tại các
tuyến bờ, tuyến đảo. Đồng thời vốn ngân sách nhà nớc cũng sẽ đóng góp chủ lực để khôi phục và nâng cấp các bến cá địa phơng ở các tỉnh ven biển nh Hòn Gai,
Đồ Sơn, Ninh Cơ cũng nh
nạo vét các cửa sông để thuyền bè ra vào đợc dễ
dàng.

4. Chính sách, chiến lợc xúc tiến xuất khẩu .


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (37 trang)

×