1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Chính sách, chiến lợc xúc tiến xuất khẩu .

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (234.06 KB, 37 trang )


liệu hạn chế nên việc thất thoát sau thu hoạch là vẫn cao. Đó là lý do giải thích vì sao ViƯt Nam cho ®Õn nay chØ cã 35 doanh nghiệp đăng ký nâng cao cơ sở chế
biến theo HACCP và chỉ có 27 doanh nghiệp đợc công nhận sản xuất hàng hoá đạt yêu cầu thị trờng EU
Giải quyết vấn đề vấn đề vốn thứ trởng bộ thuỷ sản cho rằng: chỉ nhà nớc mới giám đầu t vốn vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đòi hỏi vốn lớn, khó và lâu
thu hồi vốn nh cầu cảng, bến cá , mua sắm thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học
điều tra nguồn lợi đào tạo khuyến ng.
Từ nay đến 2010 nên chăng bộ thuỷ sản hoàn thành hàng loạt công trình hạ tầng dịch vụ nh cầu cảng, bến đậu, hệ thống cấp dầu, nớc ngọt, kho chứa tại các
tuyến bờ, tuyến đảo. Đồng thời vốn ngân sách nhà nớc cũng sẽ đóng góp chủ lực để khôi phục và nâng cấp các bến cá địa phơng ở các tỉnh ven biển nh Hòn Gai,
Đồ Sơn, Ninh Cơ cũng nh
nạo vét các cửa sông để thuyền bè ra vào đợc dễ
dàng.

4. Chính sách, chiến lợc xúc tiến xuất khẩu .


Khái niệm xúc tiến thơng mại đợc coi là mới ở những nớc có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Nhìn tõ gãc ®é nghiƯp vơ kinh doanh qc tÕ xóc tiến thơng
mại có thể là xúc tiến xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu và phát triển thơng mại nội địa. Xóc tiÕn xt khÈu lµ mét bé phËn cđa xóc tiến thơng mại nhng do tầm quan
trọng của nó nên nhiỊu khi ngêi ta thêng nãi tíi nh mét khái niện riêng biệt. Xúc tiến xuất khẩu gồm ba nhóm yếu tố sau:
Kết cấu hạ tầng cơ bản.
Chế độ tỷ giá hối đoái, chính sách lãi suất và những biện pháp khuyến khích
nhằm tạo ra môi trờng thuận lợi cho xuất khaảu.
Biện pháp công cụ cụ thể để một nớc tham gia thành công vào thị trờng quốc tế.
Quá trình phát triển xuất khẩu ở Việt Nam, vấn đề kết cấu hạ tầng còn thiếu trên mọi lĩnh vực đặc biệt là hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc đã cản
trở rất nhiều cho hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu thuỷ sản nói riêng. Hầu hết sản phẩm hải sản khai thác đều có tính tơng đồng cao. Do đó sức cạnh
tranh của mặt hàng với công nghệ bảo quản sau thu hoạch sẽ quyết định phần lớn - u thế trên thị trờng quốc tế. Trong khi đó ở Việt Nam bảo quản thuỷ sản chủ yếu
trong hầm đá và các mắt tre do đó gây ra sự giảm sút chất dinh d
ỡng dẫn đến giá
cả bị tụt xuống. Mặt khác, đối với khai thác thuỷ sản ở nớc ta, phơng tiện đánh bắt
xa bờ còn hết sức thô sơ, lạc hậu và thiếu thốn cho nên ảnh hởng không nhỏ tới việc bảo quản sau thu hoạch.
Vai trò to lớn của kết cấu hạ tầng đòi hỏi chúng ta phải thành lập khu chế xuất để tạo ra ngn xt khÈu s¶n phÈm chÕ biÕn. ViƯc cung cấp một số kết cấu
hạ tầng trong các khu vực địa lý đợc phân định rõ theo các khu chế xt cã thĨ gãp phÇn xóc tiÕn xt khÈu trong một thời gian tơng đối ngắn thông qua khả
năng cung cấp cho các nhà công nghiệp Việt Nam nhiều kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn về quản lý, marketing, thu hút công nghệ, Tuy nhiên lợi ích của khu
chế xuất mang lại không đợc nh ngời ta mong đợi nên không coi chúng là biện
pháp xúc tiến xuất khẩu. ë ViƯt Nam, chóng ta ¸p dơng biƯn ph¸p xóc tiến xuất khẩu sau:
Thứ nhất, về tỷ giá hối đoái: Việt Nam áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thống nhất. Ngày 2721998, thống đốc ngân hàng Nhà nớc Việt nam ra quyết định
45QĐ-NH về việc quy định nguyên tắc ấn định tỷ giá mua, bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng đợc phép kinh doanh ngoại tệ trong phạm vi biên độ dao động
5 so với tỷ giá chính thức do thống đốc ngân hàng công bố hàng ngày. theo
quyết định 16-1998 QĐNHNN7 ra ngày 1011998 thì biên độ này là
10 so với tỷ giá chính thức. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất
khẩu đẩy mạnh công tác xt khÈu ë doanh nghiƯp m×nh. Thø hai, vỊ tÝn dụng xuất khẩu đợc thông qua ngân hàng thơng mại. ViƯc më
réng qun cÊp tÝn dơng xt khÈu cho c¸c doanh nghiệp xuất khẩu trong nớc của các ngân hàng thơng mại là một bớc tiến lớn trong hệ thống ngân hàng. Chủ trơng
chuyển hoá từ cho vay nhập khẩu sang cho vay đầu t xuất khẩu của các ngân hàng góp phần nâng cao hệ số sử dụng vốn.
Để khắc phục vấn đề khát vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam đó là một hình thức tín dụng thuê mua ra đời. Công ty cho thuê tài chính quốc tế tại Việt
Nam ra đời có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp không đủ vốn vẫn có thể thuê đợc máy móc, thiết bị hiện đại để thay đổi công nghệ sản xuất, chất lợng sản
phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trờng quốc tế.
Thứ ba về chính sách lãi suất: Sự điều chỉnh linh hoạt chính sách lãi suất của ngân hàng là một việc làm tÝch cùc gióp doanh nghiƯp xt khÈu m¹nh d¹n
vay vèn phát triển sản xuất kinh doanh xuất khẩu, hạ giá thành nhờ lợi thế quy mô, và nâng cao khả năng cạnh trang của hàng Việt Nam.
Tóm lại, trong 10 năm tới GDP nớc ta phát triển tăng chí ít là gấp đôi và đến năm 20 về cơ bản trở thành nớc công nghiệp. Để thực hiện nhiệm vụ này, xuất
khẩu chiếm vị trí cực kỳ quan trọng, tốc độ phát triển của nó chí ít phải gấp đôi tốc độ tăng trởng của GDP, đồng thời hạn chế đi tới chấm dứt tình trạng nhập siêu,
cân bằng cán cân thơng mại quốc tế. Để đẩy mạnh xuất khẩu trong những năm tới có ba khâu then chốt gắn quyện với nhau là đổi mới cơ cấu mặt hàng, mở rộng thị
trờng và nâng cao sức cạnh tranh.
Về cơ cấu mặt hàng thuận chiều với cơ cấu kinh tế thế giới, bám sát tín hiệu thị trờng, phù hợp với nhu cầu không ngừng của ngời tiêu dùng. Tức là chúng ta
sản xuất những mặt hàng xuất khẩu mà thiên hạ cần chứ không chỉ làm ra những gì ta có. Theo đó tỷ trọng hàng thô và sơ chế không ngừng giảm tơng đối, sản
phẩm chế biến, chế tạo tăng mạnh, sản phẩm của các ngành công nghệ cao, hàm l- ợng chất xám nhiều phải chiếm vị trí thoả đáng.
Tuy nhiên đi đôi với phơng châm trên cần khai thác mọi nguồn lực để đẩy mạnh xuất khẩu theo phơng châm nặng nhặt, chặt bị. Bởi quá trình chuyển dịch
cơ cấu không thể hoàn thành trong một sớm một chiều, hơn nữa lao động nớc ta còn d thừa nhiều, vấn đề việc làm còn bức xúc.
Bên cạnh đó cơ cấu hàng nhập cần duy trì theo híng chđ u nhËp c«ng nghƯ, vËt t phục vụ sản xuất trong đó chú trọng nhập khẩu công nghệ nguồn.
Nâng cao hiệu quả sản xuất cũng nh chất lợng thiết bị và vật t nội địa.
Vấn đề mở rộng thị tr ờng cần tính đến những ph
ơng châm sau:
Một là, tìm mọi cách không ngừng mở rộng thị trờng cả về số lợng các nớc và bạn hàng ta có quan hệ lẫn khối lợng và giá trị hàng hoá ta có thể tiêu thụ đợc.
Hai là, trong khi mở rộng tới mức tối đa thị trờng cần kiên trì chính sách đa dạng hoá có trọng tâm, trọng điểm trớc hết nhằm vào các thị trờng có dung lợng
lớn, khả năng thanh toán cao.
Ba là, chủ động tích cực tìm kiếm thị trờng và bạn hàng, khai thác thông tin chứ không thụ động ngồi nhìn.
Bốn là, chủ động hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới bằng cạch đó tranh thủ những điều kiện thuận lợi nh hàng rào thuế quan thấp. Các doanh
nghiệp cần nhanh nhậy nắm bắt những cơ hội, thông qua cạnh tranh để trởng thành nâng cao hiệu quả xản xuất kinh doanh, chất lợng sản phẩm.
Tuy nhiên điều có ý nghĩa quyết định vẫn là nhu cầu không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh ở cả ba cấp độ: nhà nớc, doanh nghiệp cũng nh mặt hàng và
dịch vụ.
ở cấp độ nhà nớc đó là sự ổn ®Þnh vỊ chÝnh trÞ- x· héi, quan hƯ qc tÕ tốt đẹp, hành lang pháp lý hoàn chỉnh rõ ràng, minh bạch và theo phơng hớng ổn
định; bộ máy điều hành nhanh nhậy, cơ chế chính sách, các công cụ điều hành vĩ mô hợp lý, trong đó có lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái có tác dụng thúc đẩy
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
Nâng cao khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp là khả năng không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nhanh nhậy nắm bắt tình hình cung
- cầu cả lợng lẫn chất trên thị trờng thế giới cả sản xuất và kinh doanh.
ở cấp độ mặt hàng và loại hình dịch vụ thì khả năng cạnh tranh đợc thể hiện trớc hết ở giá thành hạ, chất lợng cao, mẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu
của ngời tiêu dùng đợc tiếp thị rộng rãi.
Đơng nhiên những nhân tố trên là quan trọng nhng cha phải là tất cả. Bên cạnh đó còn có chính sách đầu t thích hợp, tổ chức kinh doanh phải bắt nhịp với
thông lệ và những chuyển biến nhanh chóng trên thị trờng thế giới, lựa chọn bồi d- ỡng cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu thành thạo về nghiệp vụ, tinh thông về
nghiệp vụ, ngoại ngữ và cảc các phơng tiện kinh doanh hiện đại.
Chơng III : Phơng hớng thực hiện một số chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu.
I.Quan điểm của nhà nớc về ngoại thơng nói chung về hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng.
Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là chủ trơng của đảng ta.
Mở rộng đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế phù hợp với những cam kết của nớc ta trong quan hệ
song phơng và đa phơng. Coi trọng và ra sức phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nớc xã hội
chủ nghĩa và các nớc láng giềng. Mở rộng quan hệ hợp tác với các nớc ASEAN, từng bớc nâng cao hiệu quả và chất lợng của sự hợp tác.
Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ với các nớc bạn bè truyền thống, các n- ớc độc lập dân tộc, các nớc đang phát triển Châu á, châu Phi, trung Đông và các n-
ớc Mỹ la tinh, với phong trào không liên kết ủng hộ lẫn nhau cùng phát triển.
Về xuất nhập khẩu: Tăng nhanh tổng kim ngạch xuất khẩu, bảo đảm nhập khẩu những vật t thiết
bị chủ yếu có tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh. Tạo thị trờng cho một số mặt hàng nông sản thực phẩm và hàng công nghiệp có khả năng cạnh tranh tìm
kiếm thị trờng cho mặt hàng mới. Nâng cao chất lợng mặt hàng xuất khẩu, tăng thêm thị phần ở các thị trờng
truyền thống, tiếp cận và mở rộng ra thị trờng mới. Tiếp tục đầu t nâng cao chất l- ợng để nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho các mặt hàng chủ lực nh dầu khí, gạo,
cafê, thuỷ sản, điện tử và linh kiện máy tính
II.Thách thức đối với hoạt động ngoại thơng Việt Nam khi tham gia héi nhËp.
Héi nhËp kinh tÕ quèc tế không chỉ mang lại những cơ hội to lớn cho nớc ta mở rộng thị trờng, tận dụng đợc lợi thế so sánh đấy mạnh xuất khẩu, giao lu kinh
tế với quốc tế mà còn đa nớc ta đứng trớc thách thức hết sức mạnh mẽ. Hạn chế
hay khó khăn lớn nhất của Việt Nam là cha làm tốt công tác chuẩn bị khi hội nhập. Mặt khác Việt Nam cha hiểu thật sâu, cha nắm thật chắc toàn bộ định chế
của các tổ chức kinh tế trong khu vực và toàn cầu nhất là WTO và nhiều văn kiện quốc tế khác mà nớc ta cần vận dụng khi gia nhập tổ chức này.
Việc cha hình thành một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế và lộ trình hội nhập cho việc thực hiện các cam kết quốc tế. Do đó chúng
ta thờng bị động đối phó với nhiều khuyến nghị do các đối tác nớc ngoài nêu ra không đủ cơ sở để hớng dẫn doanh nghiệp xây dựng chơng trình cải tiến quản lý
nâng cao khả năng cạnh tranh.
Những lợi thế về nhân công dần dần bị mất đi do việc đầu t vào con ngời cha ngang tầm với đòi hỏi.
Tích luỹ nội bộ còn quá thấp mà tỷ lệ đầu t nớc ngoài sau khủng hoảng giảm đáng kể đến vốn đâù t cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.
Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế còn đang tiến hành trong khi yêu cầu hội nhập gay gắt làm cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn.
Nh vậy, thách thức mà Việt Nam phải đơng đầu là to lớn trong khi quá trình hội nhập đang đến gần. Điều đó buộc Việt Nam phải xúc tiến thực hiện một số
biện pháp gấp rút đặc biệt là chính sách khuyến khích đối với một số ngành hàng chủ lực xuất khẩu, thuỷ sản là một trong những ngành đó. Tuy nhiên trớc mắt
ngành thuỷ sản còn gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể nh tăng nhanh tổng kim ngạch xuất khẩu bảo đảm nhập khẩu những vật t, thiết bị chủ yếu có tác động tích cực
đến sản xuất kinh doanh. Tạo thị trờng cho một số loại mặt hàng nông sản thực phẩm và hàng công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao, tìm kiếm thị trờng cho mặt
hàng xuất khẩu mới. Nâng cao chất lợng mặt hàng xuất khẩu, tăng thêm thị phần ở các thị trờng truyền thống, tiếp cận và mở ra thị trờng mới.
Tiếp tục đầu t, nâng cao chất lợng để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực nh dầu khí, gạo, càfê, cao su, hàng thuỷ sản, dệt may, giầy da,
điện tử và linh kiện máy tính.
Ngành thuỷ sản Việt Nam trong quá trình hội nhập cũng gặp những khó khăn thách thức mới mà hoạt động xuất khẩu nói riêng và ngoại thơng gặp phải.
Gần đây ba chơng trình kinh tế: chơng trình khai thác hải sản xa bờ, chơng trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản, chơng trình phát triển xuất khẩu thuỷ sản đã
phát triển và sâu rộng trên toàn quốc .
Trong những năm tới, ba chơng trình này còn có những bất cập sau:
Đối với khai thác hải sản xa bờ: vấn đề thiếu vốn để đóng tàu bè lớn, những phơng tiện hậu thu hoạch còn lạc hậu mang nặng tính kinh nghiệm. Điều
này hạn chế việc đánh bắt, chất lợng dinh dỡng bảo đảm kém.
Đối với nuôi trồng thuỷ sản: Việc sản xuất giống cá, tôm cho nuôi trồng còn ở mức độ khiêm tốn, chất lợng con giống kém, giá thành cao dẫn đến việc sản
lợng con giống tự nhiên sẽ là mối nguy hại cho nguồn lợi thuỷ sản đa dạng trong t¬ng lai. ViƯc thu mua, chÕ biÕn xt khÈu thuỷ sản còn lắm nhiêu khê cha tạo đợc
sự ổn định về chất lợng uy tín sản phẩm để cạnh tranh bền vững trên thị trờng. Cộng với thị trờng tiêu thụ thuỷ sản còn bấp bênh, lại nhiều rủi ro luôn là vấn đề
hàng đầu của cả ngời sản xuất và chế biến thuỷ sản. Một trở ngại có tính bức xúc hiện nay đối với việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản là vấn đề con giống, thức ăn,
kỹ thuật chăn nuôi và phòng trừ bệnh. Nếu không giải quyết đợc vấn đề này ngành thuỷ sản khó mà có thể phát triển xa hơn đợc.
Đối với phát triển xuất khẩu Thuỷ sản thì nguyên liệu mới là bài toán khó giải quyết nhất. Hiện nay ngoài những yếu tố về an toàn thực phẩm, thị trờng tiêu
thụ hàng thuỷ sản chế biến trên thế giới còn đòi hỏi nhà cung cấp, nhà xuất khẩu có sự ổn định về khối lợng hàng và chất lợng sản phẩm. Không thể ổn định đợc
các yếu tố này nếu ngành chế biến và xuất khẩu thuỷ sản không có đợc nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định và kiểm soát đợc chất lợng.
Một khó khăn nữa đối với ngành nuôi trồng thuỷ sản đó là việc quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ sản. trong những năm gần đây tốc độ phát triển của lĩnh
vực nuôi trồng thuỷ sản đạt bình quân từ 4-5năm, nhng chủ yếu do tăng diện tích nuôi. Điều này dẫn đến mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trờng. Việc
khoanh riêng bắt tôm ở tỉnh Cà mau đã tận dụng quá mức các yếu tố tự nhiên mà không có quy hoạch dẫn đến đất rừng bị nhập mặn, tôm chết hàng loạt. Vấn
đề này đặt ra: việc quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ sản cần có sự phối hợp giã ngành thuỷ sản với các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, hàng hải,... để tránh sự
chồng chéo trong việc phân định quyền quản lý.
Hiện nay, quyết định 2441998QĐ-TT của chính phủ về chơng trình phát triển lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản đang đợc triển khai. Theo phó vụ trởng vụ nghề
cá- Nguyễn Văn Thành việc triển khai nuôi trồng thuỷ sản ở các địa phơng cần phải gắn với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, trình độ công nghệ và nhu cầu thị
trờng. Nhng bên cạnh đó việc nuôi trồng thuỷ sản phải dựa vào hoàn cảnh cụ thể của từng địa phơng để tạo ra khung chính sách thích hợp.
Về chế biến và xuất khẩu: Thiếu quy hoạch phát triển các nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Hai phần ba số nhà máy đợc phát triển từ những năm 90 có
mặt hàng đơn điệu, phần lớn là bán chế phẩm, tiêu hao nguyên liệu cao, giá bán lại thấp, hệ thống kiểm tra chất lợng xuất khẩu thuỷ sản cha đòng bộ, chất lợng
sản phẩm cha ổn định dẫn đến uy tín thị trờng quốc tế cha cao.
Công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu các loại giống thuỷ, hải sản, thức ăn, công nghệ chế biến và các giải pháp xử lý các bệnh tôm cá còn yếu dẫn đến
hiệu quả của ngành cha cao.

III. Phơng hớng thực hiện mét sè chÝnh s¸ch.


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (37 trang)

×