1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Lực lượng lao động

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (314.39 KB, 38 trang )


Với số lượng lao động trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn 75 trong lực lương lao động của công ty nên chất lượng lao động trực tiếp ảnh hưởng rất lớn đến năng lực
cạnh tranh của công ty. Phần lớn lực lượng lao động còn trẻ, tuổi chỉ mới từ 22-40 tuổi, là những người lao động với tinh thần trách nhiệm cao, có bề dày kinh nghiệm
trong lĩnh vực mà công ty sản xuất .Luôn tâm huyết với công việc, hăng say nghiên cứu để cải tiến quy trinh sản xuất công nghệ của công ty nhằm nâng cao chất lượng
sản phẩm, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Như vậy, với chất lượng nguồn lao dộng như trên cơng ty Tân Á có nhiều thuận lợi trong việc nâng cao năng
suất lao động , điều này tạo nên sức cạnh tranh lớn cho Tân Á trên thị trường.
Bảng 5: Trình độ lao động trong cơng ty
Trên đại học
Đại học 12
Cao đẳng, trung học 34
Khác
52
Nguồn:hồ sơ quản lý nhân sự Công ty luôn trú trọng nâng cao trình độ lao động tay nghề của cán bộ công
nhân viên và đời sống tinh thần của cán bộ nhân viên.Thu nhập bình quân của lao động tại công ty ngày càng cao
Bảng 6 : Bảng tiền lương qua các năm 2004~2009
Năm Lương đồng
Năm 2004 700000
Năm 2005 1200000
Năm 2006 1500000
Năm 2007 1800000
Năm 2008 2100000
Năm 2009 2300000
Nguồn:Bảng thanh toán tiền lương qua các năm 2004~2009
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
14
Qua bảng lương ta nhận thấy rằng mức lương cơ bản đều tăng nhanh qua các năm, với mức lương như vậy đã đảm bảo được đời sống của người lao động đồng
thời đã tạo động lực cho họ hồn thành cơng việc với chất lượng cao, năng suất lón. Chính điều này đã làm tăng sức cạnh tranh cho công ty. Người lao động của các
doanh nghiệp chuyển đổi đều nhận thức rằng mình là người làm chủ thực sự, mọi người cùng góp vốn tham gia kinh doanh, do vậy tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp chủ động trong sản xuất kinh doanh, chủ động về vốn không để lỡ thời cơ trong kinh doanh, hơn hẳn trước kia là khi có cơ hội kinh doanh nhưng lại chưa có
vốn, mọi người tự chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình Với hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng nên số lao động của công
ty không ngừng tăng cả về số lượng và chất lượng. Chính sự nâng cao về nguồn lực, cả về số và chất lượng đã mang lại sự thành công cho Doanh nghiệp trên cả lĩnh vực sản
xuất và kinh doanh, góp phần gián tiếp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.

1.3. Marketing và hệ thống phân phối


Là một công ty vừa hoạt động sản xuất vừa hoạt động kinh doanh, do đó việc tạo lập hệ thống Marketing và phân phối là hết sức cần thiết. Chính hệ thống này sẽ
giúp sản phẩm của Doanh nghiệp có sức cạnh tranh hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh. Điều này giúp Doanh nghiệp giải phóng được lượng hàng hố tồn động và giải quyết
nhanh chu kỳ quay vòng vốn. Để thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm công ty đã tạo lập ra hệ thống phân phối
rộng khắp thông qua các đại lý, các của hàng giới thiệu sản phẩm... trên khắp các thị trường trên tồn quốc. Đại lý của cơng ty được mở trên 32 tỉnh, thành phố trên cả
nước, đây là khu vực thị trường chính của cơng ty như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Nam Định, Thành phố Vinh, Buôn Mê Thuột, An Giang ..
Tuy nhiên công ty cần mở rộng hơn nữa các đại lý của mình ở khắp các tỉnh thành trong cả nước, chú ý tới các tỉnh thành phố đang có tốc độ phát triển nhanh như:
Quảng Ninh, Cần Thơ.. Như vậy, với một hệ thống phân phối rộng khắp trên thị trường nội địa đã tạo
ra cho công ty một lợi thế, tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận với nhanh nhất tới
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
15
sản phẩm của cơng ty. Chính điều này làm tăng thêm sức cạnh tranh sản phẩm của công ty so với các đối thủ khác trên thị trường trong nước.

1.4. Nhà cung ứng


Đối với một doanh nghiệp sản xuất thì yếu tố đầu vào là một nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến năng lực cạnh tranh của công ty. Nếu doanh nghiệp có mối
quan hệ tốt đẹp và bền chặt với nhà cung ứng thì sẽ được hưởng rất nhiều lợi ích từ mối quan hệ đó mang lại như sẽ được cung cấp nguồn nguyên vật liệu đầu vào với
chất lượng cao, đúng số lượng , đúng thời gian và đúng địa điểm, với giá cả hợp lý. Điều này là rất quan trọng đối với doanh nghiệp sản xuất, bởi khi được cung cấp
nguyên vật liệu đúng về số lượng, chất lương, thời gian và địa điểm thì doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí như chi phí lưu kho, chi phí vận chuyển, chi phí hu
hỏng… từ đó làm giảm chi phí đầu vào, và như vậy doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để giảm giá thành, và do đó sẽ có sức mạnh cạnh tranh về giá. Hiểu được điều này,
công ty Tân Á đang có gắng thiết lập mối quan hệ than thiết với các nhà cung ứng. Tuy có nhiều cố gắng song hiện tại số lượng bạn hàng than thiết của cơng ty vẫn còn
tương đối ít, Tân Á vẫn phải nhập nguồn nguyên liệu đầu vào của các nhà cung ứng khác, do đó giá cả nhập vào còn cao, điều này dẫn đến giá cả các sản phẩm bán ra của
Tân Á còn cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Như vậy đây là một nhân tố làm giảm sức mạnh cạnh tranh của Tân Á.

1.5. Đối thủ cạnh tranh chính


Trong nền kinh tế thị trường phát triển sôi động như hiện nay, bất kì cơng ty nào hoạt động trong bất kì ngành kinh doanh nào điều có đối thủ cạnh tranh. Số
lượng và sức mạnh của các đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp gồm có đối
thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ cạnh tranh gián tiếp và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn. Đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Tân Á là công ty Sơn Hà và công ty Linax, hai công
ty này hoạt động trên cùng một thị trường mục tiêu với Tân Á và cung cấp những sản phẩm có tính năng và cơng dụng giống với các sản phẩm của Tân Á. Hai công ty Sơn
Hà và Linax điều là những cơng ty có tên tuổi trên thị trường, có tiềm lực tài chính
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
16

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (38 trang)

×