1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (314.39 KB, 38 trang )


Như vây, sản phẩm của công ty rất đa dạng, trước đây công ty chỉ sản xuất những mặt hàng truyền thống để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nhưng
khi nhu cầu tiêu dùng tăng lên và thay đổi, công ty cũng đã thay đổi cơ cấu sản phẩm cuả mình cho phù hợp với nhu cầu thị trường. So với các đối thủ cạnh tranh như:
Công ty cổ phần Sơn Hà, công ty Linax, công ty Tồn Mỹ,….. Thì sản phẩm của cơng ty đa dạng hơn nhiều, Công ty không chỉ dừng lại ở các sản phẩm truyền thống
có thế mạnh của mình mà còn mở rộng ra cả thị trường mới là sơn trang trí nội ngoại thất dùng cho nội địa và dùng cho xuất khẩu, mở rộng thị trường ... phục vụ cho mọi
đối tượng tầng lớp dân cư. Hiện nay cơng ty còn đang đầu tư vào việc sản xuất đồ inox chất lượng cao, mẫu mã đẹp dành cho đối tượng có thu nhập cao. Về tính đa
dạng của sản phẩm thì cơng ty Tân Á đang có thế mạnh hơn các cơng ty còn lại
Bảng 8: Tỷ trọng sản phẩm
Sản phẩm 2006
2007 2008
2009 Truyền thống
91.16 81.55
89.44 78.3
Mới + cải tiến 8.84
8.45 10.56
21.7
Trước năm 2005, công ty chưa có dây chuyền sản xuất sơn và sản phảm làm từ nhựa nên tỷ trọng các sản phẩm chủ yếu phân bổ vào các sản phẩm truyền thống.
Nhưng từ khi có đưa dây chuyền mới vào thì tỷ trọng sản phẩm mới và cải tiến có sự tăng mạnh từ 8.84 tăng lên 21.7 và tỷ trọng sản phẩm truyền thống trong sản
phẩm của công ty giảm. Tuy nhiên , trong cơ cấu sản phẩm của Tân Á so với Sơn Hà thì tỉ trọng sản phẩm truyền thống của Tân Á nhiều hơn của Sơn Hà. Điều này dẫn
đến một nguyên nhân là mặc dù sản lượng tiêu thụ của Tân Á cao hơn của Sơn Hà nhưng lợi nhuận mang lại lại thấp hơn , do sản phẩm truyền thống có giá trị trên một
đơn vị thấp. Và điều này đã ảnh hưởng không tốt đến năng lực cạnh tranh của Tân Á.
2.1.2. Giá bán sản phẩm
Bảng 9: Giá của công ty so với đối thủ cạnh tranh. Đơn vị : 1000 vnđ
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
18
Sản phẩm Công ty
Tân Á Sơn Hà
Linax Bồn đựng nước inox
5800-7200 5200-7000
5400-6800 Bồn rửa inox
4600-5300 4400-5100
4300-5700 Bình nước nóng
4100-5300 4000-4900
Khơng có sản phẩm Vòi hoa sen
1500-2500 1400-2200
1500-2700
Trong nền kinh tế thị trường , giá cả là một nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến sức mạnh cạnh của doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp cung cấp ra thị trường
những sản phẩm có cùng tính năng, cơng dụng và chất lượng thì sản phẩm của doanh nghiệp nào có giá rẻ hơn sẽ được người tiêu dùng chấp nhận và tiêu dùng nhiều hơn.
Nhìn bảng giá của các cơng ty ta nhận thấy khoảng giá mà công ty Tân Á đưa ra là rộng hơn và linh hoạt hơn so với các đối thủ cạnh tranh, điều này là một lợi thế ,
nhưng giá bán sản phẩm của Tân Á lại luôn cao hơn giá của các đối thủ cạnh tranh và điều này là một điểm yếu trong năng lực cạnh tranh của công ty. Để trở nên mạnh
hơn trong nền kinh tể như hiện nay, Tân Á cần xem xét lại chiến lược giá cả của mình.
2.1.3. Công nghệ sản xuất
Trong cùng một nghành nghề kinh doanh, cơng nghệ đóng vai trò rất lớn đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào nắm bắt được dây truyền
cơng nghệ hiện đại hơn sẽ có nhiều ưu thế hơn trong cạnh tranh , do khi có dây truyền cơng nghệ hiện đại, daonh nghiệp sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn, chất
lượng sản phẩm sản xuất ra sẽ cao hơn và đồng đều hơn, với nhiều mẫu mã đa dạnh phong phú…Và điều này giúp doanh nghiệp có nhiều điều kiện để giảm giá thành ,
tạo lợi thế cạnh tranh về giá, hay doanh nghiệp có thể tăng sức mạnh cạnh tranh nhờ đa dạng hóa sản phẩm…Nói tóm lại, doanh nghiệp sẽ có rất nhiều lợi thế cạnh tranh
nhờ nắm giữ công nghệ hiện đại. Hiện nay, mặc dù Tân Á luôn chú trọng đầu tư dây truyền công nghệ hiện đại nhằm phục vụ sản xuất, năng cao chất lượng sản phẩm đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng này càng cao nhưng thực trạng công nghệ sản xuất của Tân Á
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
19
có phần yếu hơn của Sơn Hà, do Sơn Hà đang có chiến lược đầu tư vào sản phẩm mới có giá trị cao ,nên đang tiến hành lắp đặt dây truyền sản xuất mới hiện đại hơn .
Còn Tân Á mới chỉ chú trọng phát triển sản phẩm truyền thống nên chưa chú trọng phát triển dây truyền công nghệ mới. Điều này đã tạo cơ hội cho Sơn Hà gia tăng sức
mạnh cạnh tranh bằng công nghệ sản xuất.
2.1.4. Năng suất lao động
Để giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của mình, Cơng ty phải thực hiện giảm chí phí sản xuất cho một đơn vị sản
phẩm. Để làm được điều đó thì việc nâng cao năng suất lao động và một yếu tố cần thiết trong sản xuất. Năng suất lao động là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất
và khả năng cạnh tranh, thông qua năng suất lao động ta có thể đánh giá được trình độ quản lý, trình độ lao động và trình độ cơng nghệ của Doanh nghiệp.
Việc tăng năng suất lao động sẽ làm tăng năng lực sản xuất trong một đơn vị thời gian, do đó sẽ dẫn tới sản lượng tăng, chi phí cho một đơn vị sản phẩm giảm.
Bảng 10 : Năng suất lao động của các công ty qua các năm
Công ty Thực hiện
sản phẩm giờ 2009-2008
2008 2009
Cty Tân Á 281
327 46
Cty Sơn Hà 305
269 -36
Cty Linax 203
247 44
Qua bảng trên ta thấy rằng: tốc độ tăng năng suất của Tân Á đang cao hơn Sơn Hà rất nhiều. Nguyên nhân là do Sơn Hà đang trong quá trình đầu tư thay thế cơng
nghệ mới để sản xuất sản phẩm mới, có lọi nhuận cao. Trong khoảng thời gian này, do máy móc hoạt động chưa nhịp nhàng, ăn khớp, và người lao động chưa làm chủ
hết được dây truyền công nghệ nên năng suất lao động bị giảm, và đây là một cơ hội rất lớn cho Tân Á chiếm lĩnh thị trường truyền thống. Nhưng song song với đó cũng
là một thử thách rất lớn trong tương lai, do khi Sơn Hà đã ổn định sản xuất thì năng
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
20
xuất có khả năng sẽ cao hơn vì lợi thế cơng nghệ mới. Chính vì vậy, ngay từ bây giờ Tân Á phải có chiến lược đầu tư công nghệ mới để cạnh tranh với Sơn Hà trong
tương lai.
2.1.5. Thương hiệu
Ngày nay, trên thị trường tràn ngập những hàng hóa và dịch vụ cùng loại, và người mua chỉ có thể phân biệt chúng bằng thương hiệu , và người mua có xu hướng
mua sản phẩm của những thương hiệu được biết đến rộng rãi và nổi tiếng , bởi họ tâm niệm rằng sản phẩm của những thương hiệu này có chất lượng cao hơn và an
toàn hơn sản phẩm của những thương hiệu ít người biết tới hơn. Và như vậy có thể nhận thấy rằng thương hiệu là một công cụ cạnh tranh hữu hiệu của các doanh
nghiệp, chiến lược phát triển thương hiệu là một trong những chiến lược càn được ưu tiên và phát triển trong doanh nghiệp nếu doanh nghiệp muốn trở thành người đứng
đầu thị trường. Theo một cuộc điều tra nhỏ do bản thân thực hiện thì hiện nay cứ 10 người được hỏi câu hỏi là “ Khi bạn mua bình chứa nước, bạn chọn mua sản phẩm
của thương hiệu nào?” thì có khoảng 7 người trả lời rằng “ Chọn Tân Á” , và câu hỏi thứ hai là “ Khi bạn mua bình nước nóng , bạn chọn mua của thương hiệu nào?” thì
coa khoảng 6 người có câu trả lời là “ chọn Rose” Rose là một thương hiệu sản phẩm của Tân Á , cuộc điều tra được thực hiện trên 1000 người được hỏi, tại các
của hàng và siêu thị trên Hà Nội . Như vậy có thể nhận thấy rằng, ở hai phân khúc thị trường là bình chứa nước và bình nước nóng, Tân Á đã có vị trí trong tâm trí
người tiêu dùng, hay cũng có thể nói sức mạnh cạnh tranh bằng thương hiệu của Tân Á mạnh hơn của Sơn Hà và Linax trong phân khúc thị trường này. Đây là một lợi thế
và cũng là một điều đáng tự hào của Tân Á. Tuy nhiên ở phân khúc bình nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời thì lại khác hồn tồn, người tiêu dùng gần như chỉ biết
đến thương hiệu Thái Dương Năng của Sơn Hà chứ ít người biết đến thương hiệu Hướng Dương của Tân Á. Và điều này cũng lặp lại ở phân khúc bồn rửa mặt và nội
thất nhà vệ sinh, trong đoạn phân khúc này thì thương hiệu Linax mạnh hơn hẳn hai thương hiệu là Tân Á và Sơn Hà. Như vậy, có thể đưa ra một nhận xét sau : thương
hiệu Tân Á được nhiều người biết đến thơng qua hai sản phẩm là bình chứa nước và
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
21
bình nước nóng, còn trong những đoạn thị thị trường còn lại, sức mạnh cạnh tranh của thương hiệu Tân Á còn yếu. Do đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh cho cơng ty,
Tân Á cần có chiến lược phát triển thương hiệu ở những đoạn thị trường còn yếu.
2.1.6. Thị phần
Để đánh giá một cơng ty có năng lực cạnh tranh mạnh hay yếu thì chỉ tiêu thị phần là chỉ tiêu thể hiện rõ nét nhất và quan trọng nhất. Thị phần mà công ty giành
được là biểu hiện tổng hợp của tất cả các điểm mạnh yếu của từng chỉ tiêu kể trên. Công ty càng giành được nhiều thị phẩn trên thị trường thì điều đó càng chứng tỏ
năng lực cạnh tranh càng mạnh và ngược lại. Chúng ta cùng tìm hiểu và phân tích thị phần mà cơng ty Tân Á giành được qua các năm qua biểu đồ biểu diễn thị phần của
các công ty và các bảng thể hiện sản lượng tiêu thụ, doanh thu và lợi nhuận của các công ty dưới đây.
Biểu đồ 1 : Thị phần của các công ty qua các năm
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
22
Bảng 11: Doanh thu và sản lượng của công ty Tân Á so với đối thủ cạnh tranh Công
ty 2007
2008 2009
Sản lượng
DT đồng
Sản lượng
DT đồng Sản
lượng DT đồng
Cty Tân Á
586 437 587.348.921.000 675 812 650.042.858.000 785 415 720.682.400.000 Cty
Sơn Hà 513 764 598.879.512.000 645 079 676.564.685.000 735 646 781.476.240.000
Cty Linax
397 653 421.657.342.000 486 465 506.856.723.000 594 584 535.576.391.000
Bảng 12: Tình hình lợi nhuận trước thuế của công ty Tân Á và
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
23
các công ty khác Đơn vị : 1000 vnđ
Công ty Thực hiện
2007 2008
2009
2008-2007 2009-2008
Cty Tân Á 358.208.572 438.473.510 540.069.670 80.264.938 101.596.160
Cty Sơn Hà 343.678.589 415.674.287 510.785.467 71.995.698 95.111.180
Cty Linax 265.378.532 235.642.786 297.584.675 -29735746
61.941.889 Thị phần của một công ty trên thị trường thể hiện sức mạnh cạnh tranh của
cơng ty đó. Thị phần càng nhiều thì cơng ty cang trở thành một đối thủ đáng gờm của các cơng ty còn lại. Nhìn vào biểu đồ 1 biểu diễn thị phần của các công ty qua các
năm ta nhận thấy thị phần của các công ty đều tăng trưởng qua các năm, điều này thể hiện sự lớn mạnh của các cơng ty trong thị trường. Trong ba cơng ty thì thị phần của
công ty Tân Á và công ty Sơn Hà có sự chênh lệch nhau khơng nhiều, năm 2007 thị phần của Tân Á là 15 thì của Sơn Hà là 16, năm 2008 thị phần của Tân Á là 16
thì của Sơn Hà là 17, năm 2009 thị phàn mà Tân Á chiếm lĩnh được là khá lớn 18 , nhưng nó vẫn nhỏ hơn thị phần của Sơn Hà là 20. Điều này thể hiện rằng
hai doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tương đối đồng đều và đang ở thế giằng co, chưa có một doanh nghiệp nào có năng lực cạnh tranh vượt trội để vươn lên trở thành
người đứng đầu thị trường. Mặc dù sự chênh lệch là không lớn 1 đến 2 nhưng điều này vẫn thể hiện rằng sức mạnh cạnh tranh của Tân Á còn yếu hơn Sơn Hà.
Nhìn vào bảng doanh thu và sản lượng của 3 công ty ta sẽ có một nhận xét sau : sản lượng tiêu thụ của Tân Á trong các năm luôn cao hơn sản lượng tiêu thụ của Sơn Hà,
tuy nhiên, doanh thu thì lại ngược lại, doanh thu của Sơn Hà lại cao hơn của Tân Á. Vậy đâu là nguyên nhân của vấn đề này? Chúng ta có thể thấy theo như phân tích ở
trên, trong cơ cấu sản phẩm của Tân Á tỉ trọng mặt hàng truyền thống có giá trị thấp còn cao, trong khi Sơn Hà đang gia tăng tiêu thụ các loại mặt hàng co giá trị cao
trong cơ cấu tiêu thụ của mình. Chính vì vậy nên mặc dù sản lượng tiêu thụ cao nhưng do giá trị trên một đơn vị sản phẩm thấp nên doanh thu của Tân Á vẫn nhỏ
hơn của Sơn Hà. Chúng ta tiếp tục tìm hiểu về lợi nhuận thu được của các công ty.
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
24
Một điều có thể thấy ngay là lợi nhuân của Sơn Hà đang đứng đầu tiên, sau đó đến Tân Á và cuối cùng là Linax. Mọi người đều biết rằng lợi nhuận được tính bằng cách
lấy doanh thu trừ đi chi phí. Việc Tân Á có lợi nhuận thấp hơn Sơn Hà có 2 Ngun nhân chính. Ngun nhân thứ nhất là Tân Á có doanh thu thấp hơn Sơn Hà và nguyên
nhân này đã được phân tích ở trên. Ngun nhân thứ hai là Tân Á có chi phí cao hơn Sơn Hà, có một số nguyên do dẫn tới việc này, ví dụ như Tân Á vẫn chưa thiết lập
được nhiều bạn hàng cung ứng nguyên vật lieu than thiết, vì vậy cơng ty vẫn phải nhập một lượng khá lón nguồn nguyên vật liệu đầu vào vói giá thành cao, khong
những giá thanh cao mà chất lượng, số lượng nguyên vật liệu cũng không đúng, thời gian và địa điểm giao hàng thường không cố định. Những điều này đã làn phát sinh
rất nhiều chi phí cho cong ty như chi phí thiệt hại rủi ro, chi phí lưu kho, chi phí vận chuyển…

2.2. Đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty


2.2.1 Kết quả đạt được
Trải qua nhiều năm hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty Tân Á không ngừng lớn mạnh, tạo được uy tín của mình với người tiêu dùng trong nước và nước
ngồi. Sản phẩm của cơng ty đã có sức cạnh tranh lớn ngay cả trong thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Đặc biệt trong những năm gần đây, với sự mở của của
nền kinh tế nước nhà, việc tìm ra những vận hội mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã mang lại nhiều thành công cho Công ty .
- Chất lượng sản phẩm của công ty ngày càng được nâng cao, kiểu dáng, mẫu mã ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Nhờ đó cơng
ty khơng chỉ tạo uy tín trên thị trường nội địa mà còn tạo uy tín trên thị trường thế giới.
- Cơng ty đã khơng ngừng đầu tư trang thiết bị máy móc, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất. Hiện nay cơng ty đã có một cơ sở sản vật chất vững mạnh nhờ vậy
đã nâng cao được sức cạnh tranh sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nâng cao sức cạnh tranh so với các sản phẩm của đối thủ.
- Đối với thị trường nội địa, công ty ln có chiến lược hoạch định đúng hướng. Đã có những chính sách hợp lý: Chính sách Mar, hệ thống phân phối, .. và
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
25
các chính sách này tỏ ra rất hiệu quả, đã tạo ra nhiều lợi thế của sản phẩm so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
- Thành công trong phát triển thương hiệu ở một số đoạn thi trường nhỏ như bình chứa nước Tân Á và bình nước nóng Rose.
- Năng suất lao động của Tân Á đã được nâng cao rõ rệt qua các năm, điều này chứng tỏ hiệu quả lao động đã được cải thiện, mang lại cho doanh nghiệp nhiều
lợi ích như giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng, giảm giá thành…Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Thị phần công ty chiếm lĩnh được ngày càng phát triển, và đến năm 2009 thị phần của công ty là 18 , điều này là một điều đáng tự hào vì trong năm 2009 tình
hình kinh tế trên thế giới đang gặp khó khăn do suy thoái, dẫn theo sự sụp đổ của rất nhiều tập đồn và các cơng ty lớn. Vậy mà Tân Á vẫn đứng vững và phát triển.
Công ty đã biết tận dụng mọi lợi thế của mình: Nguồn lực, uy tín, kinh nghiệm .. để đưa ra những sản phẩm có sức cạnh tranh cao, từng bước tạo lòng tin cho người
tiêu dùng, tìm chỗ đứng trên thị trường.
2.2.2 Những mặt còn tồn tại
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, năng lực cạnh tranh của cơng ty còn bộc lộ một số hạn chế như:
- Tuy mẫu mã sản phẩm và chất lượng có được nâng cao và cải tiến nhưng so với các đối thủ cạnh tranh thì mẫu mã của cơng ty con ít phong phú.
Đây là một trong những yếu tố làm giảm sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp.
-
Như chúng ta điều biết, giá cả là một công cụ cạnh tranh phổ biến và hữu hiệu. Những sản phẩm có cùng cơng dụng và chất lượng, thì sản phẩm nào
co giá thấp hơn sẽ được người tiêu dung mua nhiều hơn, từ đó tốc độ tiêu thụ tốt hơn, lợi nhuận mang lại nhiều hơn. Thế nhưng đây lại là nhược
điểm của Tân Á, giá bán của Tân Á thường cao hơn giá của các đối thủ cạnh tranh. Ngun nhân chính là do cơng tác định giá và quản trị chi phí
con yếu.
Trịnh Tuấn Nam _ CQ491866_QTKDTH49B
26

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (38 trang)

×