1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Tính đặc thù của thị trường thuốc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 86 trang )


11
lượng thuốc trong lơ hàng. Khi đưa ra thị trưòng, thuốc phải đảm bảo chất lượng như trong phòng thí nghiệm, đảm bảo độ an toàn cho bệnh nhân sử dụng. Vì vậy, việc sản
xuất thuốc u cầu phải có sự đồng đều và chính xác cao. Thứ ba, việc nghiên cứu để đưa ra một loại thuốc mới đòi hỏi phải nghiên cứu lâu dài
và cẩn trọng. Vì thế chi phí nghiên cứu cho một loại thuốc mới là rất cao. Các công ty dươc ở Mỹ thông thường mất từ 8,5 đến 10 triệu USD cho một loại thuốc mới. Một
loại thuốc trước khi được đưa ra thị trường phải được nghiên cứu lâm sang trong một thời gian dài thử nghiệm lâm sang trên chuột, động vật trước, nếu thành cơng thì sẽ
tiến hành thử nghiệm trên bệnh nhân. Thứ tư, nhiều sản phẩm có chu kỳ đời sống rất dài và trong quá trình sử dụng có thể
phát hiện ra nhiều cơng dụng. Các sản phẩm khi mới được phát minh sẽ được đăng ký bảo hộ quyền sáng chế. Khi hết thời gian bảo hộ bản quyền sáng chế, các sản phẩm
này trở thành thuốc generic, các doanh nghiệp khác đều có quyền sử dụng hóa dược của sản phẩm để bào chế thuốc generic tương đương. Vì thế, thị trường dược phẩm trở
nên đa dạng và phong phú.

1.2.4. Tính đặc thù của thị trường thuốc


Thị trường thuốc gần như bị chi phối bởi các cơng ty lớn, các tập đồn đa quốc gia như hãng dược Pfizer, Novartis và Eli Lilly,… Các doanh nghiệp này chủ yếu cạnh tranh
với nhau về các loại thuốc biệt dược độc quyền. Các công ty nhỏ chỉ cạnh tranh với nhau trên thị trường thuốc generic là chủ yếu.
Những loại thuốc mới được bào chế lần đầu tiên phải có bằng sáng chế. Bằng sáng chế không cho phép bất cứ ai khác sản xuất và bán thuốc này. Khi bằng sáng chế hết hiệu
lực, những cơng ty sản xuất thuốc khác có thể bắt đầu bán thuốc đồng dạng tương tự. Những loại thuốc này trở thành thuốc generic.
12
Việc đưa một loại thuốc biệt dược mới vào thị trường thuốc đòi hỏi các cơng ty phải đầu tư nghiên cứu trên 80 triệu USD1 thuốc, tiến hành thử nghiệm trên động vật,
sau đó là trên người tình nguyện. Thơng thường, để đưa ra một loại thuốc biệt dược mới cần từ 10 đến 12 năm. Như vậy, việc nghiên cứu đưa ra thuốc biệt dược thường
được tiến hành bởi các công ty thuộc các quốc gia phát triển. Việt Nam là một nước đang phát triển nên chưa có khả năng đầu tư nghiên cứu thuốc
biệt dược mà chỉ có khả năng đầu tư vào việc nghiên cứu và phát triển thuốc gerenic. Bên cạnh đó, tham gia thị trường thuốc Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, chủ
yếu là các công ty dược của nhà nước và thị trường thuốc trở thành thị trường độc quyền.
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất và phân phối thuốc của doanh nghiệp
1.2.5.1. Các yếu tố từ môi trường vĩ mô 
Kinh tế
Ngày 11012007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế WTO. Sự kiện kinh tế này đã đem lại những cơ hội và cũng như thách thức
cho nền kinh tế VN nói chung và ngành dược nói riêng. Khi gia nhập vào tổ chức thương mại WTO thì các hàng rào thuế quan sẽ bị hạ thấp, các doanh nghiệp sản xuất
có quyền lựa chọn nguyên liệu đầu vào đa dạng hơn với mức chi phí và chất lượng hợp lý hơn. Hiện nay, theo thống kê, 90 nguyên liệu sản xuất thuốc đều phải nhập
khẩu. Vì vậy, việc gia nhập WTO đã làm cho mức chi phí đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất thuốc giảm xuống, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất và phát
triển trong nước. Bên cạnh đó, khi gia nhập WTO, thì các doanh nghiệp trong nước có nhiều thuận lợi khi tiếp cận với các đối tác kinh doanh để hợp tác chuyển giao công
nghệ. Với việc chuyển giao cơng nghệ dễ dàng này này có 2 khía cạnh để nói. Thứ
13
nhất, việc chuyển giao này cũng sẽ phụ thuộc rất nhiều vào tiềm lực tài chính của mỗi cơng ty mạnh yếu như thế nào mà nó sẽ trở thành một cơ hội hay một nguy cơ cho mỗi
cơng ty. Nếu tiềm lực tài chính mạnh, thì cơng ty sẽ có khả năng chuyển giao những cơng nghệ mới, tăng khả năng cạnh tranh cho mình nhưng nếu tài chính của cơng ty
yếu, thì đây là một mối đe dọa cho các công ty. Khi gia nhập WTO, các nhà sản xuất thuốc trong nước sẽ phải đáp ứng các tiêu chuẩn gắt gao hơn. Các doanh nghiệp không
đáp ứng được các tiêu chuẩn, quy định nghiêm ngặt về thuốc sẽ bị đào thải theo quy luật thị trường.
Bên cạnh đó, thu nhập bình qn đầu người lien tục tăng qua các năm. Theo đánh giá của Phòng Phân tích Cơng ty chứng khốn Bản Việt VCSC cho thấy, cùng với tốc độ
tăng trưởng GDP, chi tiêu bình quân đầu người tăng lên hàng năm dẫn đến nhu cầu chi tiêu cho y tế và chăm sóc sức khỏe cũng tăng theo. Trong khoảng thời gian 5 năm, chi
tiêu y tế bình quân mỗi người tại Việt Nam đã tăng hơn gấp đôi, từ 6 USDngười năm 2001 lên đến 13 USDngười năm 2007. Dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình của
ngành là 15năm khơng tính yếu tố lạm phát và giá trị tiêu thụ đạt 1,6 tỷ USD năm 2010. Vì vậy, ngành dược ở Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng rất lớn.
Có thể nói đối với những cơng ty hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu nói chung và nhập khẩu dược liệu nói riêng thì tỷ giá hối đối và xu hướng biến đổi của tỷ giá trên
thị trường luôn là điều mà các nhà nhập khẩu rất quan tâm. Đặc biệt đối với ngành dược phẩm, một thách thức là 90 nguyên liệu sản xuất thuốc phải nhập khẩu, vì vậy
việc theo dõi sự biến động của tỷ giá là điều không thể thiếu . 
Các yếu tố về chính trị pháp luật
Cơng nghiệp dược là một ngành đặc biệt và nhạy cảm đối với một quốc gia nhằm bảo đảm an ninh và quyền lợi của người tiêu dùng. Do đó chính trị-luật pháp cùng với
những quy định chặt chẽ cũng là những nhân tố lớn tác động đáng kể dến hoạt động kinh doanh của ngành và các doanh nghiệp trong lĩnh vực dược phẩm.
Từ trước đến nay, chính trị của Việt Nam tương đối ổn định hơn so với nhiều nước
14
trong khu vực do đó đã tạo một điều kiện vơ cùng thuận lợi cho việc đầu tư phát triển ngành dược Việt Nam. Bên cạnh đó, Nhà nước đang có chủ trương tăng cường quản lí
đối với ngành dược đồng thời chú trọng phát triển ngành Dược thành một ngành kinh tế- kỹ thuật mũi nhọn theo hướng cơng nghiệp hố- hiện đại hoá, chủ động hội nhập
khu vực và thế giới, phục vụ sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Mặt khác, trong thời gian gần đây, trước bối cảnh nền kinh tế đất nước đang phát triển
mạnh mẽ nói chung và ngành dược đang có những bước chuyển biến tích cực nói riêng thì việc sửa đổi và hoàn thiện các bộ luật như luật thương mại, luật cạnh tranh, luật sở
hữu trí tuệ… đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự đi lên của tất cả các ngành các doanh nghiệp.

Các yếu tố văn hoá xã hội
Theo GS.TS Trương Việt Dũng, vụ trưởng Vụ Khoa học đào tạo, Bộ Y tế cho biết “Nếu kinh tế tăng trưởng một lần thì nhu cầu chăm sóc sức khoẻ tăng 1,5 lần”. Vì thế,
khi cuộc sống càng văn minh hiện đại, con người càng có nhu cầu chăm sóc bản thân. Người dân có nhiều nhận thức hơn, trình độ học vấn cao hơn, nên cũng quan tâm
nhiều hơn đến việc khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe bản thân so với khi còn nghèo thì khơng có điều kiện. Phần lớn cộng đồng Việt Nam hiện nay đã có ý thức cao hơn
về sức khỏe, họ đòi hỏi một cuộc sống chất lượng hơn, đòi hỏi các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn, bên cạnh đó là muốn nắm bắt, cập nhật các thông tin về Y tế và Sức
khỏe, việc sử dụng các loại dược phẩm chất lượng cao để duy trì và tăng cường sức khỏe cũng như hỗ trợ điều trị một số các loại bệnh cũng được nhiều người quan tâm.
Ngồi ra, khơng thể khơng nhắc đến tâm lý thích sử dụng hàng nhập ngoại của phần lớn người tiêu dùng Việt Nam, trong đó bao gồm cả các loại dược phẩm. Tại rất nhiều
nhà thuốc, các loại thuốc mang nhãn mác ngoại được bày bán nhiều hơn hẳn thuốc sản xuất trong nước. Tâm lý sính ngoại trong dùng thuốc chữa bệnh đã ảnh hưởng không
nhỏ đến việc sử dụng cơ cấu thuốc trong các bệnh viện. Trong nhiều năm qua, các bệnh viện thường xuyên nhập khẩu trực tiếp các loại thuốc ngoại với số lượng lớn,
15
thậm chí có bệnh viện đặt chỉ tiêu sử dụng thuốc ngoại cho bệnh nhân như một qui chế bắt buộc trong khi thuốc nội không được chú ý đến. Thuốc điều trị dùng trong các cở
sở khám chữa bệnh hiện chủ yếu vẫn là thuốc ngoại nhập, theo tin từ Bộ Y tế ngày 1542009. Thống kê cho thấy, tổng số tiền mua thuốc năm 2008 của hệ thống bệnh
viện là 7,6 nghìn tỷ đồng, tăng 26 so với năm 2007. Trong đó, tỷ lệ tiền mua thuốc ngoại nhập chiếm 63,3, tương đương hơn 4,8 nghìn tỷ đồng, cao gần gấp đôi tiền
mua thuốc nội. 
Môi trường dân số CẢ NƯỚC 86,2108 triệu người
DIỆN TÍCH 331150,4km
2
MẬT ĐỘ 260 ngườikm
2
Theo số liệu thống kê trên cùng với tỷ lệ tăng dân số trung bình cuả nước ta là 1.2 một năm cho thấy nhu cầu về dược phẩm sẽ ngày càng cao . Đồng thời cùng với tốc độ
tăng trưởng của GDP, chi tiêu bình quân theo đầu người tăng lên hàng năm dẫn đến chi tiêu cho y tế và sức khoẻ tăng. Chi tiêu y tế bình quân mỗi người tại Việt Nam đã
tăng hơn gấp hai, từ 6 USD năm 2001 lên 13 USD năm 2007. Con số này được đánh giá vẫn còn ở mức trung bình so với khu vực. Song song đó, một vấn đề rất đáng
lo ngại nữa là tuổi thọ bình quân khỏe mạnh của Việt Nam chỉ đạt 60,2 tuổi, xếp thứ 116174 nước trên thế giới. Như vậy, so với tuổi thọ trung bình khỏe mạnh của con
người là 72,2 tuổi thì mỗi người dân có tới 12 năm sống không khỏe mạnh. Với những biểu hiện trên, nếu nhìn theo góc độ là một cơ hội thì đây được coi là một thuận
lợi cho sản xuất dược phẩm mở rộng thị trường và lượng khách hàng. Tuy nhiên, nếu nhìn về sự thử thách thì nó cũng là một sức ép lớn bởi nhu cầu tăng cao và liệu rằng
việc sản xuất có thể đáp ứng đủ cả về chất và lượng hay không? Hiện nay, chất lượng cuộc sống chưa được đảm bảo, số lượng người bị tàn tật, khuyết
tật của cả nước khá lớn, khoảng 5,3 triệu người, chiếm tỷ lệ 6,3 dân số. Số trẻ em bị
16
khuyết tật, dị tật bẩm sinh, mắc các bệnh bẩm sinh lien tục tâng qua các năm. Số người bị khuyết tật do tai nạn giao thông, tai nạn lao động có chiều hướng gia tăng. Thêm
vào đó là sự phân bố dân cư khơng đồng đều, theo khảo sát thì có đến 71,89 dân số ở thành thị và 28,11 ở nông thôn. Một đặc điểm đáng chú ý là thông thường nhu
cầu về thuốc men ở thành thị cao hơn ở nông thôn. Nguyên nhân không chỉ ở mức sống cao mà còn mơi trường ở các thành phố lớn thường bị ơ nhiễm do đó dẫn đến nhu
cầu khám chữa bệnh thường xuyên ngày càng tăng. Điều này cũng thể hiện cho sự phân bố rộng rãi hơn của các đại lý nhà thuốc tại thành phố. Thế nhưng ở nông thôn
vẫn rất cần nhiều loại dược phẩm và đây cũng là cơ hội cho các công ty dược quan tâm đến việc mở rộng thị trường thông qua các kênh phân phối tại các tỉnh lân cận.
1.2.5.2. Các yếu tố từ môi trường vi mô 
Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
 Đối thủ cạnh tranh:
Với dân số hơn 80 triệu người, Việt Nam là một thị trường dược phẩm có tiềm năng rất lớn. Hiện nay, có khá nhiều hãng dược phẩm lớn trên thế giới đã tham gia vào thị
trường Việt Nam như Mega Product Lmt, Helm AG, … Ưu thế của các hãng dược này khi tham gia thi trường thuốc Việt Nam là trình độ mảketing cao,chiến lược kinh
doanh thích hợp, có uy tín trên thị trường. Họ sản xuất thuốc biệt dược, thuốc gốc là chủ yếu.
Các hãng dược phẩm này cạnh tranh với nhau quyết liệt nhằm tranh giành thị phần. Cuộc cạnh tranh này đã có lúc trở thành cuộc chạy đua về quảng cáo. Vì thế, giá thuốc
giữa các hãng dược phẩm trên thị trường Việt Nam cũng rất khác biệt. Ngoài sự cạnh tranh của các hãng dược phẩm nước ngồi thì giữa các hãng dược trong
nước cũng có những sự cạnh tranh gay gắt.
17
Đối với thị trường ngồi nước, Việt Nam khơng có thế mạnh về các thuốc tân dược nên chưa thể cạnh tranh được với các cơng ty nước ngồi trên thị trường ngoài nước.
Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu tinh dầu thô và dược liệu. 
Khách hàng Các doanh nghiệp trong nước hiện nắm giữ trên 40 thị phần dược phẩm trong nước,
chủ yếu là các đối tượng có thu nhập thấp, thuốc thiết yếu chăm sóc sức khỏe ban đầu và thuốc y tế. Các doanh nghiệp này đang nhắm đến các đối tượng có thu nhập trung
bình và cao là khu vực do các hãng lớn chi phối. Khách hàng nước ngoài chủ yếu là các nước Đông Âu, khu vực Đông Nam Á,
Cuba,… và đang nhắm tới thị trường Tây Âu. 
Nguồn cung ứng Nguyên vật liệu phục vụ cho ngành dược bao gồm hóa dược, tá dược, chất phụ gia,
màu thực phẩm và các loại phụ liệu. Hiện nay,sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 20 nhu cầu về hóa dược và tá dược, 80 còn lại đều phải nhập khẩu. Sự phụ
thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu dẫn đến sự không ổn định trong sản xuất, giá thành. Ngành dược là một ngành có hàm lượng kỹ thuật cao nên yếu tố nguồn nhân lực có vai
trò rất quan trọng. Hiện nay, nguồn lao động đáp ứng cho nhu cầu này còn hạn chế, thiếu cơng nhân có trình độ, dược sĩ được đào tạo mang tính lý thuyết, chưa có thực tế,
thiếu các chuyên gia giỏi về dược. 
Các tổ chức hữu quan Ngành dược là một ngành đặc biệt, khá nhạy cảm nên chịu sự quản lý gắt gao của nhà
nước. Hiện nay, trong ngành dược còn khá nhiều rào cản pháp luật khiến các doanh nghiệp dược gặp khó khăn. Hoạt động của các doanh nghiệp này có mối quan hệ với
khá nhiều cơ quan chức năng như thuế, quản lý thị trường, quảng cáo, kiểm tra chất lượng, Viện kiểm nghiệm thuốc,…

Yếu tố bên trong doanh nghiệp
18
Hiện nay, các doanh nghiệp dược Việt Nam chưa có sự đầu tư đúng mức về kỹ thuật công nghệ. Kỹ thuật công nghệ lạc hậu, làm giảm chất lượng sản phẩm và giảm sức
cạnh tranh của sản phẩm cũng như doanh nghiệp. Nguồn nhân lực của ngành dược nói chung còn thiếu. Hàng năm, các trường đại học,
cao đẳng, trung cấp đào tao được một số lượng lớn dược sĩ, bác sĩ,… nhưng lại thiếu công nhân tay nghề cao. Như vậy, nguồn nhân lực cho ngành dược vừa thừa, vừa
thiếu.

1.2.6. Nhu cầu thuốc


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

×