1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Lịch sử hình thành và phát triền ngành cơng nghiệp dược Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 86 trang )


22
giúp trả lại cho cộng đồng một lực lượng lao động lớn, giảm nguồn chi tiêu lớn cho trợ cấp.

1.3. Lịch sử hình thành và phát triền ngành cơng nghiệp dược Việt Nam


Ngành Dược Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ khi còn sản xuất thủ công cho đến khi hội nhập công nghiệp Dược thế giới Từ đầu Thế chiến 2 1940 -
1945, để thay thế thuốc ngoại, một số nhà thuốc đã bắt đầu sản xuất biệt Dược bằng phương tiện thủ cơng của phòng pha chế theo đơn, thuốc sản xuất theo phương pháp
cổ truyền dân tộc cũng đã được biết trong cả nước. Trong kháng chiến chống Pháp, đã hình thành các xưởng Dược quân dân từ Việt Bắc đến Khu III-IV, Khu V và Nam Bộ,
và trong kháng chiến chống Mỹ đã được tái lập lại tại miền Trung, miền Ðông và miền Tây Nam Bộ và tiếp tục hoạt động cho đến khi hết chiến tranh 1975.
Các giai đoạn phát triển của ngành Dược Việt Nam: -
Giai đoạn 1975 – 1990: Ngành Dược Việt Nam trong giai đoạn thời bao cấp.
Ngành dượ c Việt Nam giai đoạn này chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, sản xuấtkhơng đáng kể. Mức tiêu thụ bình qn thuốc trên đầu người thời kỳ này đạt
vào khoảả1USDnăm. Do thuốc trong thời kỳ này khan hiếm nên tiêu chuẩn chất lượng thuốc trong sử dụng chưa được chú trọng.
- Giai đoạn 1991-2005: Ngành Dược bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện sự
chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Các xí nghiệp, cơng ty nhà nước trong ngành được thay đổi cơ cấu tập trung, cổ phần hóa đầu tư sản xuất, đầu tư vào
chiều sâu, nâng cấp để thực hiện các quy định về thực hành tốt sản xuất GMP. Số lượng thuốc được sản xuất ngày càng nhiều, từ 175 hoạt chất năm 1997 lên đến 384
hoạt chất năm 2002. Cơ quan quản lý cấp cao của ngành Dược là Cục Quản Lý Dược thành lập. Luật Dược cũng được ban hành, làm cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh toàn
23
bộ hoạt động trong lĩnh vực Dược để ngành Dược Việt Nam được hoạt động trong một môi trường pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ.
- Giai đoạn 2006-2007: Ngành Dược tiếp tục phát triển với tốc độ cao, khoảng
20năm. Việt Nam gia nhập WTO mang lại những thuận lợi cũng như khó khăn cho ngành Dược. Năm 2006 -2007, ngành Dược đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong bối
cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển. Đây cũng là giai đoạn mà các công ty Dược phẩm đã đạt được chứng nhận GMP ASEAN đẩy mạnh đầu tư GMP-WHO.
Việt Nam gia nhập WTO có những ảnh hưởng nhất định đến ngành Dược. Bên cạnh những thuận lợi về môi trường đầu tư, tiếp cận công nghệ mới, đón một lượng vốn đầu
tư lớn, có cơ hội lựa chọn nguồn nguyên liệu đa dạng với chi phí hợp lý,…, ngành Dược phải đối đầu với khơng ít khó khăn như: năng lực cạnh tranh yếu, thiếu hiểu biết
các quy định về sở hữu trí tuệ; thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ; đối mặt với các doanh nghiệp Dược phẩm nước ngồi trên một sân chơi bình đẳng khi chính phủ cam kết
giảm thuế suất thuế nhập khẩu; nới lỏng chính sách với các doanh nghiệp nước ngồi.
- Giai đoạn 2008-2009: Ngành Dược Việt Nam có những chuẩn bị và chủ động
hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm đảm bảo cung cấp đủ thuốc có chất lượng và an tồn. Ngành dượ c Việt Nam đang bước vào thời kỳ cạnh tranh
theo các nguyên tắc cạnh tranhcơ bản kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc “đổi mới”, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá - tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường và
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng. Sau hơn 20 năm phát triển trong mơi trường cạnh tranh, có thể khẳng định thị trường
Dược Việt Nam đã cơ bản vận hành theo cơ chế thị trường với các đặc thù riêng của một ngành kinh doanh đặc biệt. Điều này cũng có nghĩa là các nguyên tắc và quy luật
cạnh tranh đã từng bước phát huy tác dụng và ngày càng đóng vai trò chi phối trên thị trường.
24
1.4. Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp dược của một số nước trên thế giới
Dược phẩm là một ngành cơng nghiệp khơng những đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của một đất nước mà còn mang một ý nghia đặc biệt đối với
việc đảm bảo sự phát triển xã hội. Vì vậy mà ở rất nhiều các quốc gia trên thế giới, xây dựng chiến lược phát triển ngành công nghiệp dược luôn là mối quan tâm được đặt lên
hàng đầu, đặc biệt là các hoạt động nghiên cứu và triển khai với mui nhọn là công nghệ sinh học.
Một trong những quốc gia có thể nói là đáng chú ý nhất với vị thế dẫn đầu thế giới về các thành tựu trong linh vực y học chính là Mỹ. Đất nước này có ngành cơng nghiệp
hóa dược rất phát triển và dẫn đầu thị trường dược phẩm thế giới nhờ vào khả năng sáng tạo và những nguồn đầu tư khổng lồ cho việc nghiên cứu, phát triển ra những loại
thuốc mới. Những thống kê gần đây cho thấy, Mỹ nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ của một tỷ lệ rất lớn các loại thuốc mới và chiếm hơn 80 hoạt động nghiên cứu phát triển
hóa dược trên thế giới. Ngoài ra, hiện nay, họ đang tiến hành thử nghiệm lâm sàng nhiều loại thuốc mới tiềm năng hơn tất cả các quốc gia trên thế giới cộng lại.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, ngành công nghiệp dược thế giới cũng đã chứng kiến những thay đổi bởi đóng góp đáng kể của các quốc gia khác bên cạnh Mỹ như
Trung Quốc và Ấn Độ. Điển hình là, trong năm 2006, hơn 5 phần trăm của tất cả các ứng dụng bằng sáng chế dược phẩm toàn cầu mang tên một nhà phát minh hoặc nằm ở
Ấn Độ ... và nhiều hơn 8 phần trăm mang tên một nhà phát minh hoặc tại Trung Quốc. Những con số này có thể nhỏ, nhưng họ đại diện cho một sự gia tăng gấp bốn lần từ
năm 1995. Ngành dược phẩm Trung Quốc hiện nay
luôn phải đối mặt với thách thức chủ yếu đó là áp lực về giá thành sản xuất lớn do gía các loại nguyên liệu tăng và căng thẳng về
nguồn cung cấp năng lượng. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của các chính sách trong nước, ngành cơng nghiệp này đã bắt đầu hồi phục từ năm 2007. Theo số liệu của Hiệp Hội
25
thương mại dược phẩm Trung quốc CAPC giá trị công nghiệp dược phẩm năm 2007 đạt 693 tỷ NDT tăng 25,1 so với năm 2006, doanh thu đạt 639 tỷ NDT, tăng 29.9
và lợi nhuận đạt 63 tỷ NDT, tăng 55,6. Trong 6 tháng đầu năm 2008 ngành công
nghiệp này tiếp tục tăng trưởng mạnh với sản lượng tăng 18,7 so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra Trung Quốc còn có thế sản xuất nhiều loại nguyên liệu làm thuốc có
thế mạnh cạnh tranh trên thị trường thế giới. Sản xuất các loại nguyên liệu hóa dược đạt 1,13 triệu tấn, tăng 6,2, các loại thuốc pha chế đạt 0,61 triệu tấn, tăng 21,7 so
với 2007. Có thể nói, Trung Quốc đạt được những tiến bộ và thành tựu như hiện nay là do có chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài mạnh mẽ, đẩy mạnh nghiên cứu triển khai
và hơn hết là định hướng phát triển ngành công nghiệp dược với sự hỗ trợ chặt chẽ của công nghệ sinh học. Công nghệ sinh học có thể trở thành ngành cơng nghiệp phát triển
nhanh nhất tại Trung Quốc trong vòng 15 năm tới, với các khoản đầu tư ngày càng được mở rộng. Trung Quốc hiện có 200 phòng thí nghiệm chun về nghiên cứu công
nghệ sinh học do ngân sách nhà nước tài trợ, cùng 500 cơng ty có liên quan đến lĩnh vực này.Trong nhiều thập kỷ qua, chính quyền Trung Quốc đã đầu tư 15 tỷ nhân dân tệ
1,8 tỷ USD vào phát triển cơng nghệ sinh học, trong đó sẽ dành ưu tiên để thúc đẩy các hoạt động sáng tạo trong thời gian dài. Ý nghĩa của lĩnh vực này gắn liền với các
đột phá trong nghiên cứu gen, thực phẩm biến đổi gen, vaccine và hiện đại hoá nền y học truyền thống của Trung Quốc. Bên cạnh đó, sự chuyển dịch sản xuất của các cơng
ty đa quốc gia cũng đang hỗ trợ cho sự phát triển của ngành dược phẩm Trung quốc. Nhiều công ty nước ngoài đã bắt đầu tin tưởng vào các đối tác Trung quốc. Pfizer đã
ký hợp đồng sản xuất các loại hóc mơn với Tập đồn dược phẩm Thượng Hải trong khi AstraZeneca đã dừng sản xuất nguyên liệu để mua từ Trung quốc và Ấn Độ. Một
số công ty nước ngoài khác như Merck và Daiichi cũng đã thiết lập quan hệ hợp tác với đối tác Trung quốc. Trong 5 đến 10 năm tới ngành dược phẩm Trung quốc sẽ chú
trọng đến các sản phẩm hóa dược cùng với sự bổ trợ của các loại thuốc cổ truyền dân tộc và các sản phẩm sinh học.
26
Ngoài ra sự phát triển nhanh chóng của ngành cơng nghiệp dược Ấn Độ cũng là một sự đáng chú ý.Ngành công nghiệp này đã tăng trưởng rất nhanh chóng từ doanh thu
chỉ có 0,3 tỷ USD năm 1980 lên 19 tỷ USD năm 2008 - 2009. Ấn Độ xếp 3 về sản xuất dược phẩm trên thế giới, chiếm 10 tổng sản lượng toàn cầu và xếp thứ 14 về trị giá,
chiếm 1,5 tổng trị giá toàn cầu. Sở dĩ trị giá của ngành này thấp so với sản lượng vì chi phí và giá bán sản phầm tại Ấn Độ thấp hơn từ 5 - 50 so với các nước phát triển.
Xuất khẩu là một trong những động lực chính thúc đẩy ngành này tăng trưởng mạnh trong những năm qua. Hiện nay, sản phẩm của Ấn Độ được xuất khẩu đến trên 200
nước trên thế giới, nhưng chủ yếu là các thị trường Mỹ và Tây Âu. Ngành công nghiệp sử dụng 340.000 lao động cùng với khoảng 400.000 bác sỹ và 300.000 dược sỹ. Có
khoảng 250 cơng ty lớn và khoảng 8.000 cơng ty quy mơ nhỏ là nòng cốt của ngành công nghiệp dược phẩm ở Ấn Độ bao gồm 5 đơn vị Trung ương khu vực cơng.
Trong đó, các đơn vị này sản xuất hồn chỉnh các cơng thức dược phẩm và thành phẩm thuốc sẵn sàng cho tiêu dùng. Có thể nói, các cơng ty quốc tế đóng vai trò vơ
cùng quan trọng trong việc kích thích, hỗ trợ cho ngành cơng nghiệp dược Ấn Độ phát triển năng động trong 53 năm qua và đưa Ấn Độ lên bản đồ dược phẩm thế giới. Bên
cạnh đó, dựa vào trình độ cơng nghệ phát triển mạnh mẽ và hoàn toàn tự lực cánh sinh, ngành cơng nghiệp dược phẩm ở Ấn Độ còn có các thuận lợi trên lĩnh vực này là chi
phí sản xuất thấp, chi phí R D thấp, nguồn nhân lực khoa học sáng tạo, các phòng thí nghiệm quốc gia hoạt động mạnh mẽ, hiệu quả và số dư cán cân thương mại ngày
càng tăng. Qua đó, có thể thấy ngành công nghiệp dược phẩm Ấn Độ, với tài năng khoa học phong phú và khả năng nghiên cứu, được hỗ trợ bởi chế độ sở hữu trí tuệ
cũng là một trong những động lực góp phần thiết lập vị trí Ấn Độ trên thị trường quốc tế.
27
Tổng kết chương 1
Như vậy, nội dung được đề cập đến trong chương 1 đã đưa ra một cách tổng quan những cơ sở lí luận về thị trường và dược phẩm nhằm tạo nền tảng logic cho những
nội dung được đề cập ở chương hai và ba. Qua đó, có thể thấy, dược phẩm là một ngành công nghiệp hết sức nhạy cảm và đặc biệt so với các ngành công nghiệp khác,
nó có những đặc thù riêng biệt, vai trò ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của cả nền kinh tế và xã hội. Đó là lí do tại sao mà việc tìm hiểu những bài học kinh
nghiệm của ngành công nghiệp dược các nước trên thế giới nói chung và sự hình thành phát triển cơng nghiệp dược ở Việt Nam nói riêng rất cần thiết đồng thời góp phần tạo
tiền đề cho việc nghiên cứu thực trạng ngành công nghiệp dược nước nhà, phân tích những tồn tại yếu kém và từ đó dưa ra những giãi pháp kiến nghị cho giai đoạn tương
lai.
28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ PHÂN PHỐI THUỐC CỦA CÁC CƠNG TY DƯỢC VIỆT NAM
Chương 1 đã trình bày những cơ sở lý thuyết vể thuốc và ngành Dược. Tống quan ngành Dược Việt Nam về lịch sử hình thành, và các yếu tố tác động đến ngành để có
cái nhìn tổng quan trước khi bước vào nghiên cứu sâu hơn ở chương này. Trong chương 2 này sẽ tập trung nghiên cứu về thị trường thuốc Việt Nam, nhu cầu và chi
tiêu cho Dược phẩm của người tiêu dùng, xác định nguồn nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp Dược Việt Nam, phân tích hoạt động sản
xuất và phân phối của các doanh nghiệp Dược hiện nay, đây cũng là hai phần nghiên cứu chính của chương.

2.1 Tổng quan về thị trường thuốc Việt Nam


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

×