1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Tổng quan về thị trường thuốc Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 86 trang )


28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ PHÂN PHỐI THUỐC CỦA CÁC CƠNG TY DƯỢC VIỆT NAM
Chương 1 đã trình bày những cơ sở lý thuyết vể thuốc và ngành Dược. Tống quan ngành Dược Việt Nam về lịch sử hình thành, và các yếu tố tác động đến ngành để có
cái nhìn tổng quan trước khi bước vào nghiên cứu sâu hơn ở chương này. Trong chương 2 này sẽ tập trung nghiên cứu về thị trường thuốc Việt Nam, nhu cầu và chi
tiêu cho Dược phẩm của người tiêu dùng, xác định nguồn nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp Dược Việt Nam, phân tích hoạt động sản
xuất và phân phối của các doanh nghiệp Dược hiện nay, đây cũng là hai phần nghiên cứu chính của chương.

2.1 Tổng quan về thị trường thuốc Việt Nam


Trong những năm gần đây ngành Dược nước ta phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, càng ngày càng thể hiện rõ nét vị thế là một trong những ngành quan trọng của đất
nước. Sự tăng trưởng của ngành gắn liền sự gia tăng không ngừng cả về số lượng lẫn chất lượng trong nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
Cùng với sự gia tăng dân số và thu nhập đầu người, các khoản chi tiêu cho dịch vụ y tế, đặc biệt là chi tiêu cho Dược phẩm không ngừng gia tăng, là động lực thúc đẩy
ngành sản xuất Dược trong nước phát triển mạnh mẽ. Trong giai đoạn từ năm 2001- 2008, giá trị tiêu thụ thuốc đạt mức bình quân khoảng 19.
Bảng 2.1: Tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong năm Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tổng trị
giá
472.356 525.807 608.699 707.535 817.396 956.353 1.136.353 1.425.657
Cục quản lý Dược
29
Nếu như năm 2002 giá trị tiền thuốc sử dụng là 525.807 triệu đô, tăng khoảng 15 so với năm 2001 thì những năm tiếp theo đã co bước tăng vượt bậc. Năm 2005 giá trị sản
xuất trong nước là 395,157 triệu đô, đến năm 2006 giá trị này tăng lên 475,403 triệu đô, đạt tỉ lệ tăng 20. Đến năm 2007 con số này tiếp tục tăng lên 600.63 triệu đô, tăng
26.34 so với năm 2006. Từ năm 2007 đến 2008 giá trị sản xuất thuốc trong nước đạt 715.435 triệu đơ, tăng số lượng thuốc sử dụng là 25.
Hình 2.1: Bình quân tiền thuốc trên đầu người trong năm USD
Nguồn: Cục Quản lý Dược Nếu như năm 2001 việc chi tiêu cho tiền thuốc theo đầu người mới chỉ ở mức 6 đơ la
Mỹ, thì năm 2008 con số này đã lên tới 16,45 đô la Mỹ, tăng gần gấp 3 lần năm 2002. Như vậy có thể kết luận rằng việc gia tăng lượng thuốc sử dụng không chỉ do dân số
tăng cao mà còn do chi tiêu tiền thuốc trên đầu người tăng lên trong những năm gần đây. Điều này càng chứng tỏ một cách rõ nét sự quan tâm nhiều hơn của người dân
đến việc chăm sóc sức khỏe của bản thân và gia đình. Nếu so sánh với phần thu nhập tăng thêm, chúng ta cũng nhận thấy rằng người dân đang có xu hướng chi tiêu ngày
càng nhiều hơn cho Dược phẩm. Và tính cho đến nay, cứ mỗi USD thu nhập tăng thêm
30
khoảng 17.000 VND thì người Việt Nam đã trích ra thêm khoảng 1 cent khoảng 170 đồng cho tiền thuốc - tức khoảng 1 phần tăng thêm của thu nhập.
2.2 Nguyên vật liệu sản xuất thuốc 2.2.1 Những nguồn nguyên vật liệu cho sản xuất Dược trong nước
2.2.1.1 Nguồn nguyên vật liệu trong nước Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên Việt Nam có nguồn tài
nguyên thực vật phong phú và đa dạng với khoảng 10.350 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn hai nghìn lồi tảo. Kết quả điều tra, cả nước ghi nhận
được 3.948 lồi thực vật và nấm lớn có thể sử dụng làm thuốc, trong đó có hàng chục loại có giá trị chữa bệnh cao. Tổng sản lượng Dược liệu ở Việt Nam hằng năm ước
tính khoảng từ ba đến năm nghìn tấn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đến nay các vùng phân bố tự nhiên của cây thuốc bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác một cách cạn
kiệt. Nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú nay đã hoàn toàn bị phá bỏ, như khu vực núi Hàm Rồng Sa Pa, Lào Cai; Cao nguyên An Khê thuộc hai tỉnh Gia Lai và
Bình Ðịnh... Nguồn Dược liệu thiên nhiên bị khai thác kiệt quệ, nhiều loại có nguy cơ tuyệt chủng. Bên cạnh đó, nhiều địa phương có đầy đủ các điều kiện để trồng trọt
Dược liệu có giá trị cao, nhưng do cách làm manh mún, tự phát, thiếu liên kết và thị trường Dược liệu không ổn định nên việc phát triển các vùng Dược liệu hiện nay gặp
nhiều khó khăn. Chính sách bảo tồn nguồn gien, nhất là các cây q còn q ít. Hiện nay, chỉ một số cơ sở sản xuất Dược liệu mới sử dụng nguồn ngun vật liệu có
sẵn trong nước. Còn đa phần các doanh nghiệp sản xuất tân Dược chỉ sử dụng một số lượng ít ỏi lượng nguyên vật liệu được trồng và chế biến trong nước. Các loại nguyên
liệu này chỉ là những nguyên liệu phụ dùng để bổ sung và giá trị rất thấp so với nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài.
31
Để hạn chế sự phục thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, nước ta cũng đã có một số cơ sở trồng trọt Dược liệu đạt tiêu chuẩn VietGAP, nhiều đơn vị đang triển khai áp
dụng nguyên tắc thực hành tốt trồng trọt, thu hái cây thuốc. Bên cạnh đó cũng có những cơ sở chế biến thực hiện việc thu mua Dược liệu, lo đầu ra cho các hộ trồng
trọt, kết hợp các hoạt động tập huấn quy trình kỹ thuật, cung cấp giống cây trồng, phân bón cho nhà nơng, hình thành các vùng Dược liệu trọng điểm... nhằm phục vụ cho việc
sản xuất thuốc trong nước và tạo tiềm năng phát triển cho ngành Dược trong thời gian tới.
Ngoài nguồn nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất thuốc, còn phải kể đến nhà cung cấp bao bì trong nước. Ngành sản xuất bao bì ngày càng phát triển giúp đảm bảo
chất lượng thuốc sản xuất trong một thời gian dài, tránh những hư hại từ môi trường gây mất tác dụng hoặc gây tác dụng phụ cho người tiêu dùng. Hiện nay, các doanh
nghiệp Dược rất quan tâm lựa chọn nhà cung cấp bao bì chất lượng cao. Một số doanh nghiệp Dược còn tự xây dựng cơ sở sản xuất bao bì cho mình nhằm đáp ứng nhu cầu
sản xuất của doanh nghiệp. 2.2.1.2 Nguồn nguyên vật liệu nước ngoài
Do ngành cơng nghiệp hóa Dược của Việt Nam còn hạn chế, nên đến 90 - 95 nguyên liệu cho sản xuất thuốc hiện nay phải nhập khẩu. Trong thời gian gần đây, nhà
nước đã đẩy mạnh nhiều biện pháp hỗ trợ, khuyến khích để thúc đẩy việc sản xuất thuốc của các doanh nghiệp nhằm phục vụ tốt cho nhu cầu thị trường, hạn chế lượng
thuốc thành phẩm vào nước ta. Trong khi các doanh nghiệp đầu tư nâng cao dây chuyền sản xuất, trang thiết bị hiện đại để gia tăng số lượng và chất lượng thuốc phục
vụ thị trường, nhưng nhà nước ta lại chưa chú trọng quan tâm phát triển các khu vực trồng và nhà máy chế biến nguyên vật liệu khiến nguồn cung ứng thiếu thốn. Do đó,
các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài gây nhiều bất lợi trong việc cạnh tranh về chất lượng và giá cả với các doanh nghiệp nước ngoài đồng
thời gây nhiều rủi ro cho nền kinh tế và đời sống xã hội do phải phụ thuộc phần lớn
32
vào lượng đầu vào nhập khẩu này. Có thể nói, doanh nghiệp sản xuất Dược hiện nay đa phần chỉ là doanh nghiệp “nấu cao”, nghĩa là nhập khẩu các nguyên phụ liệu làm
thuốc từ nước ngồi về, sau đó trộn với nhau, bổ sung thêm một số tá Dược thông thường rồi dập viên hoặc vô nang để bán ra thị trường.
Các Dược liệu được nhập chủ yếu là nguyên liệu kháng sinh, vitamin và chiếm trên 80 giá trị nhập khẩu.Việc hầu hết các loại thuốc đặc trị trong nước phụ thuộc rất
nhiều vào nguồn nguyên liệu từ nước ngoài cũng là một rủi ro tiềm tàng cho nền kinh tế.
Hình 2.2: Các loại ngun liệu nhập
Nguồn: Tạp chí thương mại Các trong các nước thì Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia chiếm tỷ trọng xuất khẩu
nguyên liệu Dược nhiều nhất vào Việt Nam, với tỷ trọng tương ứng là 25 và 21 tính trong năm 2008. Trên thực tế các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn đang chủ
yếu sản xuất các dòng thuốc phổ thơng, do đó sử dụng nhiều các loại Dược liệu giá rẻ và vốn là mặt hàng chủ lực của hai quốc gia này.
33
Hình 2.3: Các quốc gia Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu dược
Nguồn: Tạp chí thương mại Với việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, ngành Dược Việt
Nam đang gặp một số rủi ro như rủi ro tỷ giá, rủi ro biến động giá cả nguyên liệu, rủi ro chất lượng nguyên liệu và rủi ro thương mại.
 Rủi ro tỷ giá: Năm 2008, hầu hết các doanh nghiệp Dược đều phải gánh chịu
những khoản lỗ do tỷ giá biến động tăng đột biến. Chúng tôi nhận thấy, cho đến nay hầu hết các doanh nghiệp Dược vẫn chưa có kế hoạch cụ thể nào để phòng tránh rủi ro
biến động tỷ giá trong tương lai. 
Rủi ro biến động giá nguyên vật liệu: Năm 2008, các nguyên liệu nhập khẩu chính như kháng sinh tăng trung bình 2 đặc biệt Cephalexin Bp có giá trị nhập khẩu
cao đã tăng giá đến 11,7, vitamin tăng 34 và nguyên liệu của thuốc giảm đau, hạ sốt tăng 80. Ðây là nguyên nhân chính gây ra những điều chỉnh mạnh về giá thuốc
trên thị trường Việt Nam năm qua.
34
 Rủi ro chất lượng Dược liệu: Thị trường Trung Quốc với hàng giá rẻ lại luôn
tiềm ẩn rủi ro về tình trạng hàng kém chất lượng; tuy nhiên đây là một rủi ro hồn tồn có thể phòng tránh được nếu các doanh nghiệp trong nước kiểm sốt và tn thủ chặt
chẽ các quy trình kiểm tra nghiệm thu chất lượng.
2.2.2 Thực trạng sử dụng nguồn nguyên vật liệu ở các công ty Dược Việt Nam Theo kết quả báo cáo, doanh nghiệp Dược phẩm 29 nguồn cung ứng nguyên vật liệu
dùng cho sản xuất thuốc chủ yếu được nhập khẩu từ các nhà sản xuất lớn từ các nước như: Anh, Pháp, Mỹ, Đức, CH Sec, Trung Quốc, Ấn Độ đạt tiêu chuẩn GMP, ISO và
có uy tín trên thế giới như: Johson Matthey Anh, Givaudan, Aventis, Rhodia, SPI Pharm, Orgasyth, Roquette Pháp, The Nutrasweet Mỹ, DSM Nutritional Đức,
Western Drugs, Sri Krishna, Amoli organics, Vasudha Pharm, Virchows, Jayco chemicals, Supriya Ấn Độ, Precheza CH Sec, Shanghai, Zhejiang Tianxin,
Hangzhou minshang, Sichuan Xieli, Jiangxi Ganjiang, Zhejiang Jingan, Zhejiang Zhenyan, Formstand, Dong Gang, North China, Hubei, Hubei Tianmen, Xiang fan
goto, Shandong Xinhlia, North East, Jiangsu Jiangshan Trung Quốc. Ngoài ra, nguồn nguyên liệu trong nước được cung cấp bởi các cơng ty có uy tín trong
ngành Dược trong nước như: Cơng ty Dược Sài Gòn, Cơng ty cổ phần đường Biên Hòa, Cơng ty cổ phần Y Dược phẩm VIMEDIMEX, công ty cổ phần Dược phẩm Cửu
Long, Công ty TNHH Nam Long Phát, Công ty TNHH Oai Hùng, cơng ty cổ phần Bao Bì Sài Gòn, cơng ty cổ phần Thủy tinh Hưng Phú...Đối với nguyên vật liệu sản
xuất trong nước tại công ty 29 chỉ chiếm khoảng 15 nguyên vật liệu tạo ra sản phẩm, bao gồm:
Bảng 2.2: Danh mục nguyên vật liệu trong nước chính Nguyên liệu Nhà
sản xuất
35
BỘT DIỆP HẠ CHÂU Trung tâm nghiên cứu bảo tồn Phát triển Dược
liệu Đồng Tháp Mười BỘT NADYGAN
Trung tâm nghiên cứu bảo tồn Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười
KALI CLORID Công ty cổ phẩn Hóa Dược Việt Nam
CHẾ PHẨM VK LACTIC TTCN Sinh học NN
Bột cao khô Actiso, râu mèo Công ty cổ phẩn BV Pharma
Bột cao mềm Actiso Công ty cổ phần Dược Lâm Đồng
LADOPHARM Nguồn: NADYPHAR
Tại doanh nghiệp Dược Hậu Giang, nguyên vật liệu dùng cho sản xuất cũng được
nhập khẩu là chủ yếu. Nguồn nguyên liệu này được nhập từ các nhà sản xuất lớn, đạt tiêu chuẩn GMP và ISO và có uy tín trên thế giới như: Mallinckrodt INC Mỹ, ACS
Dobfar Italia, Antibioticos SA Tây Ban Nha, Moehs Catalana SA Tây Ban Nha, ... và các nhà cung cấp nổi tiếng khác ở các nước Châu Âu, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc. Hiện
nay, Dược Hậu Giang là đối tác tiêu thụ Paracetamol lớn nhất tại Việt Nam của Công ty Mallinckrodt INC - nhà cung ứng Paracetamol của Mỹ lớn nhất thế giới.
Bảng 2.3: Nguồn cung cấp nguyên liệu, hoạt chất chính NGUYÊN LIỆU, HOẠT
CHẤT NHÀ SẢN XUẤT NƯỚC SẢN XUẤT
Acetyl cysteine Moehs Catalana SA
Tây Ban Nha Alimemazine tartrate
Pcas Site De Seloc Pháp
Antibioticos SA Tây Ban Nha
Amoxycillin trihydrate DSM Tây
Ban Nha
Cefalexin monohydrate DSM Tây Ban
Nha
36
NGUYÊN LIỆU, HOẠT CHẤT
NHÀ SẢN XUẤT NƯỚC SẢN XUẤT
ACS Dobfar Italia
ACS Dobfar Italia
Cefuroxime axetil Antibioticos Tây
Ban Nha
Codein base, phosphate Sanofi Chimie
Pháp Paracetamol Mallinckrodt
INC Mỹ Tetrahydrozolin HCL
Zentiva Cộng hòa Séc
Nhóm Vitamin BASF
Đức, Nhật Nguồn: Dược Hậu Giang
Ngoài ra, để đảm bảo cung ứng bao bì kịp thời, đúng yêu cầu cho các loại sản phẩm của Công ty với kỹ thuật và chất lượng cao, mẫu mã đa dạng, giá thành thấp và nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty, Dược Hậu Giang đã tổ chức xây dựng Xưởng Bao bì cho riêng mình. Xưởng Bao bì của Công ty được đầu tư với quy mô lớn
không chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất của Công ty mà còn in gia cơng cho khách hàng bên ngồi góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho Cơng ty. Doanh thu từ in gia cơng
bao bì mỗi năm trên 1,3 tỷ đồng, mang lại lợi nhuận trung bình 430 triệu đồngnăm.
2.3 Thực trạng hoạt động sản xuất của các công ty Dược Việt Nam 2.3.1 Sự tăng trưởng trong sản xuất thuốc
Trước nhu cầu sử dụng Dược phẩm ngày càng tăng của thị trường đã thúc đẩy ngành sản xuất Dược đẩy mạnh sản xuất và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
37
Hình 2.4: Tổng giá trị sản xuất trong nước
Nguồn: Cục Quản lý Dược Theo bảng số liệu thống kê từ năm 2001 đến năm 2008 tỉ lệ tăng hằng năm năm nay
cao hơn năm trước, từ năm 2001 đến 2002 tăng 17, năm 2003 tăng 21, năm 2004 tiếp tục tăng 26 và năm tiếp theo tăng 29, các năm tiếp theo vẫn giữ tố độ tăng trên
20năm. Tính đến cuối năm 2008 giá trị sản xuất Dược trong nước là 715,435 triệu đô tăng gấp 3 lần so với năm 2001. Sau đây là số liệu của công ty Dược Hậu Giang và
Dược 29 cho thấy sự tăng trưởng trong lượng sản xuất trong các năm
Bảng 2.4: Sản lượng sản phẩm sản xuất của công ty dược 29 NADYPHAR qua các năm
STT Dạng sản phẩm Đơn vị
tính Năm 2006
Năm 2007 2008
38
STT Dạng sản phẩm Đơn vị
tính Năm 2006
Năm 2007 2008
1 Viên nén viên
401.161.300 406.673.392
392.114.590 2 Thuốc bột kg 38.389 41.842
36.445 3 Thuốc cốm kg 84.045 96.802
80.746 4 Thuốc nước lít 8.458
9.029 9.411
5 Dầu xoa lít
1.420 926
1.290 6 Thuốc uống ống
ống 25.720.228 26.026.040 23.534.790 7 Cao
xoa Hộp 48.430 8 Thuốc mỡ kg 1.504
76 971
9 Thuốc bột dung
ngoài kg 5.164 5.081
6.025 Nguồn : Nadyphar
Bảng 2.5: Sản lượng sản phẩm sản xuất của công ty dược Hậu Giang
STT Dạng sản phẩm Đơn vị
tính Năm 2006
Năm 2007 năm 2008
1 Thuốc viên viên 1.802.121.109 1.572.175.651 626.703.194
2 Viên bao
đường viên 255.901.600 268.285.550 164.003.060 3
Viên bao phim viên
179.530.466 193.529.799
126.395.860 4
Viên nang cứng viên 444.838.293 368.276.436 278.631.522 5
Viên nang mềm viên 95.770.240 113.534.755 122.425.650 6 Thuốc ống
ống 24.466.050 16.515.269 4.171.620
39
STT Dạng sản phẩm Đơn vị
tính Năm 2006
Năm 2007 năm 2008
7 Thuốc nước lít 658.170 890.434 560.082 8 Thuốc cốm, bột tấn 249.066 792.039
746.699 9 Thuốc kem - mỡ kg 170.625
215.511 152.845
Nguồn : Dược Hậu Giang Có thể nói, sản lượng sản xuất của Nadyphar và Dược Hậu Giang đều tăng qua các
năm. Khủng hoảng tài chính cuối năm 2008 đã có ảnh hưởng làm sản lượng của các doanh nghiệp Dược có giảm đơi chút.
Tóm lại, ngành Dược đã gia tăng đầu tư mạnh để tăng cường khả năng cạnh tranh của mình. Đa số các doanh nghiệp Dược Việt Nam đã tích lũy được một số vốn khá lớn từ
việc gia tăng sản lượng tiêu thụ và cơng tác cổ phần hóa huy động nguồn vốn bên ngồi. Đây có thể được coi là một sự phát triển đáng ghi nhận của ngành Dược để
phục vụ việc chăm sóc sức khỏe của người dân, là một biểu hiện hết sức lạc quan cho ngành sản xuất Dược nói chung và nền kinh tế xã hội Việt Nam nói chung.

2.3.2 Sự gia tăng chủng loại thuốc, đặc biệt là nhóm thuốc đặc trị


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

×