1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Sự gia tăng chủng loại thuốc, đặc biệt là nhóm thuốc đặc trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 86 trang )


39
STT Dạng sản phẩm Đơn vị
tính Năm 2006
Năm 2007 năm 2008
7 Thuốc nước lít 658.170 890.434 560.082 8 Thuốc cốm, bột tấn 249.066 792.039
746.699 9 Thuốc kem - mỡ kg 170.625
215.511 152.845
Nguồn : Dược Hậu Giang Có thể nói, sản lượng sản xuất của Nadyphar và Dược Hậu Giang đều tăng qua các
năm. Khủng hoảng tài chính cuối năm 2008 đã có ảnh hưởng làm sản lượng của các doanh nghiệp Dược có giảm đơi chút.
Tóm lại, ngành Dược đã gia tăng đầu tư mạnh để tăng cường khả năng cạnh tranh của mình. Đa số các doanh nghiệp Dược Việt Nam đã tích lũy được một số vốn khá lớn từ
việc gia tăng sản lượng tiêu thụ và cơng tác cổ phần hóa huy động nguồn vốn bên ngồi. Đây có thể được coi là một sự phát triển đáng ghi nhận của ngành Dược để
phục vụ việc chăm sóc sức khỏe của người dân, là một biểu hiện hết sức lạc quan cho ngành sản xuất Dược nói chung và nền kinh tế xã hội Việt Nam nói chung.

2.3.2 Sự gia tăng chủng loại thuốc, đặc biệt là nhóm thuốc đặc trị


Thị trường thuốc Việt Nam bao gồm 15 nhóm chính. Trong đó, có 5 nhóm chiếm gần 70 thị trường bao gồm: chuyển hóa dinh dưỡng, kháng sinh, hơ hấp, tim mạch và
thần kinh. Tuy nhiên, hiện nay thuốc sản xuất trong nước đa phần chi là kháng sinh, vitamin và thuốc bổ. Bên cạnh việc tăng trưởng vượt bậc về sản lượng sản xuất, các
doanh nghiệp sản xuất Dược trong nước cũng đã tăng cường việc đa dạng hóa các dòng sản phẩm cung cấp cho thị trường. Trong 3 năm trở lại đây, mỗi năm có khoảng
2.000 loại thuốc mới đăng ký và được cấp phép đăng ký lưu hành, riêng trong năm
40
2008, có 1.970 thuốc trong nước được cấp Số đăng ký so sánh với thời điểm năm 2003 mỗi năm chỉ có khoảng 700 sản phẩm mới được đăng ký mới.
Bảng 2.6: Số liệu SĐK thuốc trong nước theo nhóm Dược lý tính đến 3132009 Nhóm Dược lý
Số lượng SĐK
Các loại khác Đơng Dược + không phân loại được 2539
Chống nhiễm khuẩn - ký sinh trùng 2306
Hạ nhiệt - giảm đau - chống viêm phi steroid 1221
Vitamin và thuốc bổ 1111
Thuốc đường hô hấp 433
Thuốc tác dụng trên dạ dày, ruột 424
Thuốc tim mạch 251
Chống dị ứng 216
Thuốc ngoài da ngứa, nhiễm khuẩn, viêm ngứa 200
Thuốc tác dụng đến máu 194
Hormon và cấu trúc hormon 150
Thuốc vè mắt 140
Thuốc gan - mật 119
Thuốc tâm thần, an thần 94
Thuốc dãn cơ và ức chế Cholinesterase 66
41
Nhóm Dược lý Số lượng SĐK
Dung dịch điều chỉnh nước và điện giải 52
Thuốc tai mũi họng và răng 31
Chống động kinh 30
Thuốc lợi tiểu 25
Chống đau nửa đầu 14
Chống độc 9
Thuốc sát trùng, tẩy uế 6
Tê – mê 4
Thuốc chống ung thư 2
Huyết thanh Globulin miễn dịch 1
Nguồn: Cục Quản lý Dược So với những năm trước đây, các loại thuốc sản xuất trong nước ngoài những danh
mục hoạt chất generic, đã bắt đầu xuất hiện các nhóm thuốc thuốc chuyên khoa như : thuốc tim mạch, tiểu đường, thần kinh, nội tiết, hormon, thuốc tê mê, thuốc tác dụng
đến máu.... Các dạng bào chế cũng được phát triển hơn như : thuốc tác dụng kéo dài, thuốc tiêm đông khô, thuốc sủi bọt, .... Đây có thể được coi là một chuyển hướng rất
cần khuyến khích. Tuy nhiên, thuốc kháng sinh, hạ nhiệt giảm đau và vitamin vẫn chiếm tỷ lệ rất cao so với số lượng ít ỏi của thuốc chuyên khoa. Việc nghiên cứu và
phát triển các nhóm thuốc đáp ứng mơ hình bệnh tật ở Việt Nam trong những năm tới đây cần được các nhà sản xuất tập trung đầu tư nhiều hơn nữa.
42
Việc sản xuất và cung ứng thuốc ở Việt Nam đã có những tăng trưởng đáng kể trong vòng những năm gần đây. Tuy nhiên nhu cầu sử dụng thuốc chữa bệnh trong nước
cũng không ngừng tăng qua các năm với tỉ lệ gần tương đương. Riêng năm 2008 trong khi nhu cầu thuốc trong nước tăng 25 thì số lượng thuốc sản xuất được chỉ tăng
19. Số lượng thuốc sản xuất trong nước hiện nay chỉ đáp ứng được khoảng 50 nhu cầu chữa bệnh của người dân, nghĩa là hằng năm nước ta phải chi ra một khoảng tiền
lớn để nhập khẩu thuốc chữa bệnh từ nước ngoài. Sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn hàng nhập khẩu ở một ngành quan trọng là ngành Dược cũng sẽ một phần gây ra
những rủi ro tiềm tàng trong sự phát triển ổn định của xã hội.

2.3.3 Chất lượng của các cơ sở sản xuất thuốc GMP-WHO,GLP


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

×