1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Thực trạng RD của các doanh nghiệp Dược Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 86 trang )


45
- Công ty cổ phần Dược phẩm Viễn Đông DVD: Tháng 12- 2009, DVD công bố quyết định đầu tư xây dựng Office Building bao gồm văn phòng và Kho GSP cho
cơng ty với diện tích 888m2 tại Quận Tân Phú, TP.HCM và dự kiến đưa vào hoạt động trước tháng 6 2010. Năm 2010 DVD đã khởi động chiến lược MA với việc ký
thỏa thuận hợp tác toàn diện và mua 20,74 cổ phần của Công ty cổ phần Dược phẩm Savi Savipharm. Ngồi ra, DVD cũng có kế hoạch dành trên 60 tỷ đồng để mua lại
cổ phần của các doanh nghiệp khác trong nước. Sự thành công của các sự án này dự kiến sẽ mang lại doanh thu và lợi nhuận đột biến cho DVD trong năm 2010. -
OPC:Đầu tư 160 tỷ đồng vào dự án nhàmáy Dược phẩm mới tại Bình Dương. Trong đó nhà máy sản xuất cồn tinh luyệnđã được đưa vào hoạt động; nhà máy sản xuất
Dược phẩm dự kiến hoạt động đầu năm 2012. Có thể thấy, các doanh nghiệp Dược Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư xây dựng nhà
máy để tăng cường chất lượng sản phẩm và mở rộng các chủng loại sản phẩm sản xuất. Điều này hứa hẹn những tiềm năng phát triển vượt bậc trong thời gian sắp tới.

2.3.5 Thực trạng RD của các doanh nghiệp Dược Việt Nam


- Trong năm 2008, có 1.970 thuốc trong nước được cấp SĐK. Đăng ký thuốc trong nước vẫn tập trung đăng ký các thuốc nhóm hạ nhiệt- giảm đau Paracetamol, kháng
sinh. Chỉ với 20 hoạt chất đã chiếm 16,34 số thuốc được cấp đăng ký. Ngoài ra một số hoạt chất khác như: Tadalafil, Fexofenadil cũng được nhiều nhà máy sản xuất. Với
20 nhà sản xuất có nhiều số đăng ký nhất chiếm 45,3 tổng SĐK thuốc sản xuất trong nước được cấp. So với những năm trước đây, thuốc sản xuất trong nước đã xuất hiện
nhóm thuốc tim mạch, tâm thần, chống ung thư, thuốc hormon, thuốc tê mê, thuốc tác dụng đến máu, ... là một chuyển hướng rất cần khuyến khích. Tuy nhiên, thuốc kháng
sinh, hạ nhiệt giảm đau và vitamin vẫn chiếm tỷ lệ rất cao so với số lượng ít ỏi của thuốc chuyên khoa. Việc nghiên cứu và phát triển các nhóm thuốc đáp ứng mơ hình
bệnh tật ở Việt Nam trong những năm tới đây cần được các nhà sản xuất tập trung đầu tư nhiều hơn nữa.
46
Dự án sản xuất nguyên liệu kháng sinh Cephalosporin của Tổng Công ty Dược Việt Nam tại công ty Mekophar và một số đơn vị đang chuẩn bị triển khai là một nỗ lực
lớn đóng góp cho Ngành Dược và đang được Chính phủ rất quan tâm. Bộ Y tế sẽ xem xét đề nghị của các doanh nghiệp trình Chính phủ và các Bộ, ngành những ưu đãi thiết
thực, hỗ trợ cho những dự án mang tính chiến lược, làm giảm sự lệ thuốc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ nước ngoài.
Riêng tại doanh nghiệp Hậu Giang trong vòng 3 năm gần đây số lượng đăng ký thuốc mới mỗi năm là khoảng 2000 mặt hàng, trong khi trong năm 2003 doanh nghiệp này
chỉ có 700 mặt hàng thuốc đăng ký mới mỗi năm. Như vậy, số lượng đăng ký mới so với năm 2003 đã tăng gần gấp 3 lần thể hiện sự tiến bộ vượt bậc trong hoạt động
nghiên cứu sản xuất của doanh nghiệp.
2.4 Thực trạng hoạt động phân phối thuốc trên thị trường 2.4.1 Mạng lưới phân phối của ngành Dược:
Ngành Dược là một trong những ngành có mạng lưới phân phối mạnh và rộng khắp tất cả các khu vực, tỉnh thành trên cả nước, từ các công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên
phân phối cho đến các bệnh viện, các nhà thuốc lớn và cả các nhà thuốc lẻ nhỏ ở các trạm y tế xã. Nhờ có mạng lưới phân phối trải dài như vậy nên dù chịu nhiều sức ép từ
biến động kinh tế thị trường, ngành Dược Việt Nam vẫn ổn định và tăng trưởng. Xét về cơ bản, việc phân phối thuốc của các công ty Dược thường sẽ đi theo hệ thống
sau:
47
Hình 2.5: HỆ THỐNG PHÂN PHỐI SẢN PHẨM DƯỢC
Nguồn: Cơng ty Dược Bến Tre Ngành Dược tiếp cận người tiêu dùng qua hệ thống phân phối thương mại kênh thứ
nhất và hệ thống điều trị kênh thứ hai.
Kênh 1: Thông qua hệ thống phân phối thương mại Sau quá trình sản xuất, sản
phẩm Dược sẽ được nhập kho chờ vận chuyển đến các chi nhánh của doanh nghiệp. Sau đó, các sản phẩm Dược được hệ thống chi nhánh của công ty phân phối cho hệ
thống các đại lý của họ tùy theo yêu cầu. Ở các chi nhánh luôn có những khi bảo quản đặc biệt dành cho những sản phẩm yêu cầu điều kiện lưu kho lạnh, độ ẩm … Tùy theo
chính sách từng cơng ty mà ở hệ thống đại lý của họ có trang bị kho bảo quản đặc biệt hay khơng. Nếu như có trang bị những kho bảo quản đặc biệt thường các công ty sẽ
cho vận chuyển tất cả các mặt hàng từ hệ thống chi nhánh đến các đại lý, nếu như các đại lý khơng có kho bảo quản đặc biệt thì họ chỉ nhận những mặt hàng thơng thường
đòi hỏi điều kiện bảo quản bình thường, khi có những đơn hàng yêu cầu các loại sản phẩm bảo quản đặc biệt họ mới yêu cầu các chi nhánh giao hàng. Khách hàng của đại
lý là các hiệu thuốc bán lẻ, các hiệu thuốc này có thể là thuốc sở hữu của doanh nghiệp, cũng có thể là các hiệu thuốc bán lẻ bên ngồi. Sau đó, các sản phẩm sẽ được
bán lại cho khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng. NHÀ
SẢN XUẤT
HỆ THỐNG CHI NHÁNH
BỆNH VIỆN, TRÌNH
DƯỢC VIÊN HỆ THỐNG
ĐẠI LÝ HIỆU THUỐC
BÁN LẺ
NGƯỜI TIÊU DÙNG
48
Hiện nay các doanh nghiệp Dược trong nước đang nỗ lực xây dựng kênh phân phối thương mại để giảm bớt sự phụ thuộc vào kênh phân phối điều trị vốn đang bị cạnh
tranh ngày càng khốc liệt. Hệ thống phân phối này chủ yếu đang là sân chơi của các nhà phân phối nội địa trong khi chỉ có ba nhà phân phối nước ngoài ở thị trường là
Zeullig Pharma, Diethelm, Megaproduct. Với kênh phân phối thương mại, các doanh nghiệp Dược ít bị chiếm dụng vốn hơn do thời gian thu tiền khá nhanh; bên cạnh đó,
thương hiệu sản phẩm được người tiêu dùng nhận diện tốt hơn nhất là trong điều kiện thị trường của Việt Nam khi mà sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước chủ yếu là
thuốc phổ thông generic. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng đang đối mặt với những thách thức khi muốn phát triển mạnh qua kênh phân phối này. Để mở rộng chi nhánh,
các doanh nghiệp phải xây dựng được kho đạt chuẩn GSP, cơ sở bán thuốc đạt chuẩn GPP. Điều này đòi hỏi năng lực về tài chính của các doanh nghiệp do chi phí đầu tư
khá lớn, bình qn khoảng 5 tỷ VNĐ cho mỗi chi nhánh. Việt Nam hiện có rất ít các nhà thuốc, đại lý đạt tiêu chuẩn GPP. Kể từ năm 2011, tiêu chuẩn này sẽ là bắt buộc và
các nhà thuốc không đạt chuẩn sẽ không được phép tiếp tục bán các loại thuốc đặc trị prescription.
Kênh 2: thông qua hệ thống điều trị. Nhánh thứ hai của hệ thống phân phối sản
phẩm Dược là thơng qua các bệnh viện và trình Dược viên. Các nhà sản xuất Dược thường phải đấu thầu để giành lấy kênh phân phối này, đây là kênh phân phối tương
đối ổn định về số lượng, việc đấu thầu thường diễn ra mỗi năm giành quyền cung cấp thuốc cho bệnh viện trong năm tới. . Tuy nhiên trong một số trường hợp khan hiếm đột
xuất lượng thuốc thì bệnh viện cũng sẽ mua bổ sung thông qua đại lý và chi nhánh nhưng số lượng không nhiều. Tại bệnh viên, sản phẩm Dược sẽ được bán trực tiếp cho
người tiêu dùng cuối cùng. Đây là kênh phân phối mà hầu hết các công ty Dược luôn mong muốn và quan tâm phát triển do số lượng tiêu thụ rất lớn. Các doanh nghiệp
Dược tiếp cận và mở rộng thị trường thơng qua hình thức chi hoa hồng hoặc chiết khấu cho các bác sĩ và Dược sĩ của các bệnh viện. Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm doanh
49
số lớn mà kênh phân phối này đem lại, các công ty Dược trong nước cũng đang đối mặt với những khó khăn do chính hệ thống phân phối này tạo ra.
- Thứ nhất, bán hàng qua bệnh viện chiếm dụng nhiều vốn lưu động của các
công ty Dược do bệnh viện thông thường chỉ thanh tốn tiền hàng vào cuối năm. -
Thứ hai, các cơng ty Dược phẩm nước ngoài với lợi thế về nguồn tài chính, chi
trả tiền hoa hồng và chiết khấu mạnh hơn cho hệ thống điều trị nên đã tạo sức ép cạnh tranh rất lớn đối với các công ty trong nước. Trên thực tế, thuốc nội chiếm tỷ trọng
61 về số lượng bán nhưng chỉ chiếm 15 về giá trị tiêu thụ trong kênh phân phối điều trị, điều đó cho thấy cơ cấu thuốc nội chỉ đơn thuần là hàng thơng thường và có
giá trị thấp. Như vậy, để duy trì tỷ trọng về số lượng và nâng cao tỷ trọng về giá trị thuốc bán qua
kênh bệnh viện, các doanh nghiệp Dược Việt Nam sẽ phải nỗ lực rất nhiều để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài.
Tất cả các hoạt động truân chuyển ở các doanh nghiệp Dược đều được thực hiện bằng đội xe riêng của doanh nghiệp.
Mạng lưới phân phối của ngành không ngừng phát triển trong thời gian gần đây mang lại doanh thu và cơ hội quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp Dược Việt Nam.
Bảng 2.8: Mạng lưới cung ứng thuốc cả nước qua các năm
LOẠI HÌNH
2006 2007 2008 Số doanh nghiệp trong nước 1.163
1.330 1.336
Số doanh nghiệp có vốn đều tư nước ngồi đã triển khai hoạt động
15 22 37
Chi nhánh công ty tại các tỉnh 127 164 160 Tổng số khoa Dược và các trạm chuyên
khoa 976 977 1.012
50
Tổng số quầy bán lẻ 39.319 39.016
39.172 Nguồn: Tổng hợp số liệu từ báo cáo của các Sở Y tế
Điều tra tại công ty Dược Bến Tre có mạng lưới phân phối với 4 chi nhánh lớn đặt ở các thành phố lớn ở cả ba miền đất nước bao gồm: Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang,
Thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm phân phối thuốc cho cả nước. Bên cạnh đó, cơng ty có khoảng 30 hiệu thuốc bán buôn, trên 700 đại lý và nhà thuốc với hơn 1000
trình Dược viên. Riêng ở Bến Tre, cơng ty có 22 hiệu thuốc, 550 đại lý và nhà thuốc. Với doanh nghiệp lớn hơn là công ty cổ phẩn Dược Hậu Giang, mạng lưới phân phối
rộng hơn và vươn cả ra thị trường nước ngoài. Theo báo cáo của công ty cổ phần Dược Hậu Giang DHG doanh nghiệp có hệ thống phân phối sâu rộng khắp lãnh thổ Việt
Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Riêng tại Cần Thơ, mạng lưới này trải rộng đến 100 cơ sở y tế các xã và ấp.
Sản phẩm của Dược Hậu Giang được phân phối thông qua các nhà thuốc bao gồm hệ thống nhà thuốc thuộc sở hữu của doanh nghiệp và các nhà thuốc khác bên ngồi,
bệnh viên, trung tâm y tế, phòng khám, các cơng ty thương mại, nhà bán sỉ, hệ thống siêu thị chủ yếu là siêu thị Coopmart, các đối tác nhượng quyền trong và ngồi nước.
Các sản phẩm của cơng ty nay đã có mặt trong 98 hệ thống bệnh viên đa khoa và các trung tâm y tế trên 64 tỉnh thành cả nước. Công ty trúng thầu các bệnh viện lớn như:
bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Nhi đồng 1, 2, Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM, Bệnh viện Bạch Mai, Viện Mắt Trung Ương, Bệnh viện 115….
Bên cạnh mạng lưới bán hàng mạnh trong nước, Dược Hậu Giang đã từng bước xây dựng mạng lưới bán hàng tại các thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp này ở
Ukraina, Nga, Mông Cổ, Rumani, Campuchia, Lào, Myanmar, Philippines, Hàn Quốc... Ngoài ra, doanh nghiệp này cũng đã ký kết một số hợp đồng cho phép phân
phối độc quyền sản phẩm của Dược Hậu Giang ở một số nước khác. Tuy đã có những bước phát triển vượt bậc, mạng lưới phân phối của các doanh nghiệp
Dược Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế: Mạng lưới phân phối và các hoạt động phân
51
phối của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn chưa chuyên nghiệp. Hoạt động của các cơng ty Dược còn dựa vào cơ chế ưu đãi của nhà nước nên chưa chủ động tích cực
đổi mới trong cơng tác phân phối của mình. Hệ thống phân phối còn chồng chéo, tranh giành thị trường, mua bán lòng vòng của các doanh nghiệp Dược trong nước trong khi
các doanh nghiệp Dược nước ngồi có một hệ thống hết sức bài bản và lợi thế cạnh tranh hơn.
Hiện nay, trên thị trường bán lẻ Dược phẩm nhà nước ta vẫn chưa cho phép các doanh nghiệp nước ngoài tham gia. Tuy nhiên trong xu thế tồn cầu hố và áp lực của hội
nhập WTO, đặc biệt là việc mở cửa thị trường xuất nhập khẩu cho thương nhân nước ngoài xuất nhập khẩu và quyền bán lẻ của thương nhân nước ngồi tại Việt Nam thì
trong thời gian khơng xa khi các doanh nghiệp nước ngồi tham gia sân chơi sẽ có sự cạnh tranh rất lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam. Do đó cần phải tận dụng thời gian
này để sắp xếp lại hệ thống lưu thông phân phối thuốc, nâng cao chất lượng của các cơ sở bán lẻ và tổ chức lại thành một hệ thống bán lẻ chuyên nghiệp có ảnh hưởng quan
trọng đến định hướng phát triển của Ngành Dược Việt Nam trong tương lai. Bên cạnh việc tiếp tục thúc đẩy q trình GSP và GDP trong mục tiêu hồn chỉnh hệ thống
5GP’s đảm bảo chất lượng thuốc từ nguyên liệu đầu vào- sản xuất- lưu thông- sử dụng, năm 2008 Bộ Y tế Cục Quản lý Dược đẩy mạnh việc triển khai thực hiện nguyên tắc,
tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc GPP. Ngày 25.01.2008 Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Chỉ thị số 012008QĐ-BYT về việc triển khai áp dụng lộ trình thực hiện nguyên
tắc, tiêu chuẩn GPP, đặc biệt với đối tượng là nhà thuốc bệnh viện. Theo báo cáo của 04 thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ
và 33 tỉnh triển khai thực hiện GPP, tính đến 31.3.2009: có 4449.066 nhà thuốc đạt GPP, gần bằng 5, trong đó nhà thuốc bệnh viện là 140437 đạt GPP, bằng 32,và 15
doanh nghiệp tổ chức hệ thống bán lẻ.
52

2.4.2 Hoạt động quảng bá thương hiệu:


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

×