1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Những vấn đề tồn tại trong ngành dược Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 86 trang )


58
CHƯƠNG 3: BÀN VỀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DƯỢC NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU TRONG NƯỚC
Chương này gồm 3 phần: những vấn đề tồn tại trong ngành dược Việt Nam và những giải pháp cụ thể cho sự phát triển ngành dược. Ở phần đầu, nhóm nghiên cứu đưa ra
các nhận xét về ngành dược Việt Nam được rút ra từ những phân tích ở chương II nhằm giải thích lý do tại sao ngành dược Việt Nam chưa phát triển. Ở phần tiếp theo,
nhóm nghiên cứu đưa ra các nhóm giải pháp cụ thể dựa trên tình hình thực tiễn của Việt Nam và kinh nghiệm phát triển ngành dược của một số nước trên thế giới. Ở phần
cuối, nhóm nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị với các cơ quan ban ngành liên quan.

3.1. Những vấn đề tồn tại trong ngành dược Việt Nam


Sản phẩm của ngành công nghiệp dược Việt Nam hiện nay chủ yếu là thuốc generic và các loại thuốc đông dược. Tuy nhiên, nguyên liệu cho việc sản xuất thuốc generic lại
chủ yếu là nhập khẩu. Nguồn nguyên liệu trong nước chỉ cung cấp được khoảng 20 nhu cầu, còn lại các doanh nghiệp vẫn phải nhập tới 80 lượng nguyên liệu cần thiết.
Nguyên liệu chính cho ngành dược là các loại hóa dược. Để bào chế các loại hóa dược cần phải có các máy móc kỹ thuật hiện đại. Hiện nay, ở Việt Nam, có 2 cơng ty có nhà
máy bào chế hóa dược Saokim pharma và Domesco nhưng số lượng hóa dược còn hạn chế. Bên cạnh đó, Việt Nam lại có một lợi thế là trồng được rất nhiều loại dược
liệu. Tuy nhiên, việc trồng dược liệu chưa được quy hoạch cụ thể, các loại dược liệu sau khi thu hoạch hầu hết đều được sấy khô để xuất khẩu hoặc làm nguyên liệu cho
thuốc đơng dược. Bên cạnh đó, cơng nghiệp bao bì dược chủ yếu gia cơng từ ngun liệu bao bì nhập khẩu và chưa đạt nhà thuốc thực hành sản xuất tốt GMP.
Ngành công nghệ sinh học là một ngành tạo tiền đề cho sự phát triển của công nghệp bào chế thuốc dược phẩm. Tuy nhiên, ngành công nghệ sinh học của Việt Nam chưa
phát triển.
59
Việc phát minh sáng chế thuốc mới của các công ty dược Việt Nam còn q ít. Theo số liệu từ Cục Sở hữu trí tuệ thì từ năm 2000 đến năm 2008, cả nước có 13 bằng độc
quyền sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm, trong khi nước ngồi có tới 1.198 bằng độc quyền sáng chế được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ.Việc đầu tư nghiên cứu phát triển
dược ở Việt Nam còn q thấp, các cơng ty chủ yếu đầu tư sản xuất các loại thuốc generic.
Ngành công nghiệp dược là một ngành đòi hỏi những tiêu chuẩn khá cao về chất lượng máy móc cũng như cơng nghệ và trình độ lao động. Hiện nay, cả nước có 92 nhà máy
đạt chuẩn GMP, trong đó, thành phố Hồ Chí Minh có 23 nhà máy. Lượng cơng nhân tay nghề cao còn ít so với nhu cầu, thừa dược sĩ nhưng lại thiếu dược sĩ có chun
mơn giỏi. Thuốc được phân phối đến tay người tiêu dùng thông qua các quầy thuốc bán lẻ, hệ
thống nhà thuốc. Tuy nhiên, trên thực tế, còn thiếu các doanh nghiệp phân phối thuốc với tính chuyên nghiệp thực thụ. Mạng lưới phân phối thuốc chưa được thiết lập. Các
doanh nghiệp phải tự tổ chức phân phối thông qua các nhà thuốc đại lý của doanh nghiệp, đấu thầu thuốc với bệnh viện, bảo hiểm y tế. Cách làm tự phân phối này khiến
chi phí của doanh nghiệp bị tăng cao, đội ngũ lao động cồng kềnh. Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ngoài chuyên về phân phối thuốc đã thấy được tiềm năng của thị
trường Việt Nam. Khi họ tham gia vào thị trường Việt Nam thì thị phần của các doanh nghiệp phân phối cũng như sản xuất đều bị thu hẹp.

3.2. Các giải pháp cụ thể nhằm phát triển ngành dược Việt Nam


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

×