1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Giải pháp về sản xuất

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.04 MB, 86 trang )


59
Việc phát minh sáng chế thuốc mới của các công ty dược Việt Nam còn q ít. Theo số liệu từ Cục Sở hữu trí tuệ thì từ năm 2000 đến năm 2008, cả nước có 13 bằng độc
quyền sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm, trong khi nước ngoài có tới 1.198 bằng độc quyền sáng chế được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ.Việc đầu tư nghiên cứu phát triển
dược ở Việt Nam còn quá thấp, các công ty chủ yếu đầu tư sản xuất các loại thuốc generic.
Ngành cơng nghiệp dược là một ngành đòi hỏi những tiêu chuẩn khá cao về chất lượng máy móc cũng như cơng nghệ và trình độ lao động. Hiện nay, cả nước có 92 nhà máy
đạt chuẩn GMP, trong đó, thành phố Hồ Chí Minh có 23 nhà máy. Lượng cơng nhân tay nghề cao còn ít so với nhu cầu, thừa dược sĩ nhưng lại thiếu dược sĩ có chun
mơn giỏi. Thuốc được phân phối đến tay người tiêu dùng thông qua các quầy thuốc bán lẻ, hệ
thống nhà thuốc. Tuy nhiên, trên thực tế, còn thiếu các doanh nghiệp phân phối thuốc với tính chuyên nghiệp thực thụ. Mạng lưới phân phối thuốc chưa được thiết lập. Các
doanh nghiệp phải tự tổ chức phân phối thông qua các nhà thuốc đại lý của doanh nghiệp, đấu thầu thuốc với bệnh viện, bảo hiểm y tế. Cách làm tự phân phối này khiến
chi phí của doanh nghiệp bị tăng cao, đội ngũ lao động cồng kềnh. Trong khi đó, các doanh nghiệp nước ngồi chun về phân phối thuốc đã thấy được tiềm năng của thị
trường Việt Nam. Khi họ tham gia vào thị trường Việt Nam thì thị phần của các doanh nghiệp phân phối cũng như sản xuất đều bị thu hẹp.

3.2. Các giải pháp cụ thể nhằm phát triển ngành dược Việt Nam


Dựa trên thực trạng về ngành công nghiệp dược Việt Nam đã được nghiên cứu ở trên, nhóm nghiên cứu đã đề ra các nhóm giải pháp cụ thể sau:

3.2.1 Giải pháp về sản xuất


3.2.1.1. Giải pháp về nguyên liệu đầu vào
60
Hiện nay, tới 80 nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp dược là nhập khẩu. Nguồn nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng 20 nhu cầu. Như vậy, ngành công nghiệp
nước ta phụ thuộc khá lớn vào các cơng ty cung cấp ngun liệu nước ngồi. Muốn phat triển ngành dược, trước tiên phải giảm bớt sự phụ thuộc này, cần phải có sự đầu
tư đúng đắn cho việc bào chế cơng nghiệp các loại hóa dược. Hiện nay, cả nước có 2 cơng ty có nhà máy sản xuất hóa dược, đó là SaoKim Pharma
và Domesco Đồng Tháp. Tuy nhiên, lượng hóa dược sản xuất được còn ít về số lượng và chủng loại. Để xây dựng được nhà máy sản xuất hóa dược, cơng ty phải đầu tư một
khoản tiền lớn để trang bị máy móc, nhà xưởng và nhân cơng. Như vậy, các công ty vẫn chưa khai thác triệt để các lợi ích của các nhà máy hóa dược. Nhà máy hóa dược
được xây dựng trước hết để phục vụ nhu cầu doanh nghệp và cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các cơng ty khác, sau đó sẽ tiến tới xuất khẩu. Nhưng hiện nay, các nhà
máy hóa dược mới chỉ sản xuất theo nhu cầu doanh nghiệp mà chưa quan tâm đến nhu cầu của các công ty khác, số lượng các hóa dược sản xuất được còn ít. Từ đó, chi phí
ngun liệu đầu vào của doanh nghiệp giảm không đáng kể so với việc nhập khẩu nguyên liệu.
Việc xây dựng một hệ thống các nhà máy sản xuất hóa dược là cần thiết cho việc phát triển ngành công nghiệp dược. Các nhà máy phải được phân bố hợp lý giữa các vùng
miền, tránh việc xây dựng các nhà máy này tập trung quá nhiều ở một nơi gây nên tình trạng thiếu ở khu vực này nhưng lại thừa ở khu vực khác. Bên cạnh đó, cần phải có
những dự án quy hoạch cụ thể khu trồng nguyên liệu thô cung cấp cho các nhà máy này. Tuy nhiên, xây dựng thêm nhiều nhà máy sản xuất hóa dược khơng có nghĩa là
xây dựng một các tràn lan. Khi lập dự án xây dựng các nhà máy sản xuất hóa dược, Nhà nước cần quản lý chặt chẽ, không nên giao cho các địa phương, các công ty thực
hiện đại trà. Cần phải xét đến những điều kiện mà địa phương đó hiện có có phù hợp khơng. Ngành dược là một ngành có những u cầu khá khắt khe, vì thế cần quản lý
chặt chẽ các nhà máy này để đảm bảo chất lượng của các hóa dược.
61
Nước ta có một lượng lớn các cây dược liệu quý, đây chính là nguồn nguyên vật liệu chính cho các nhà máy sản xuất hóa dược. Tuy nhiên, việc trồng dược liệu còn mang
tính manh mún, nhỏ lẻ, rải rác và tự phát nên chất lượng không đồng đều và số lượng không được ổn định qua các năm. Cần phải quy hoạch cụ thể khu vực trồng các loại
dược liệu này nhằm tạo lập một nguồn nguyên vật liệu ổn định cho các nhà máy sản xuất hóa dược. Cần tránh việc quy hoạch bất hợp lý như chuyển đổi quá nhiều đất
nông nghiệp trồng lương thực sang trồng dược liệu. Khu trồng dược liệu phải có giao thơng thuận tiện, tránh việc phá rừng lấy đất trồng dược liệu.
3.2.1.2. Giải pháp về sản xuất sản phẩm Hiện nay, trên cả nước có 92 nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP, trong đó
thành phố Hồ Chí Minh có 23 nhà máy sản xuất thuốc đạt chuẩn. Như vậy, vẫn còn một số lượng lớn các nhà may sản xuất thuốc chưa đạt chuẩn. Cần phải đầu tư, nâng
cấp các nhà máy sản xuất để đáp ứng các yêu cầu chất lượng trong sản xuất. Có nhiều nhà máy sản xuất vẫn sử dụng công nghệ kỹ thuật từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX.
Máy móc cũ kỹ, lạc hậu làm ảnh hưởng đến độ chính xác của dây chuyền sản xuất nhưng vẫn được sử dụng. Việc đầu tư nâng cấp máy móc, trang thiết bị, dây chuyền
sản xuất tiên tiến hiện đại cần được các doanh nghiệp quan tâm hơn. Việt Nam là một nước đang phát triển nên chưa có khả năng đầu tư nghiên cứu và sản
xuất các loại thuốc biệt dược. Thuốc được sản xuất ở Việt Nam chủ yếu là thuốc generic, loại thuốc thông thường. Muốn phát triển ngành công nghiệp dược cần phải
đầu tư sản xuất các loại thuốc biệt dược có hiệu quả tốt nhằm cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngồi.
Bên cạnh đó, nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ vốn, hỗ trợ lãi suất giúp doanh nghiệp đầu tư đúng đăn cho công nghệ, hỗ trợ công nghệ cho doanh nghiệp để các
doanh nghiệp dược Việt Nam phát triển hơn tiến tới hội nhập thị trường dược quốc tế.

3.2.2. Giải pháp về nghiên cứu và triển khai


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

×