1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Quản lý >

Những đóng góp mới của luận văn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (526.73 KB, 94 trang )


4



NỘI DUNG

Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1. Một số khái niệm về tái sinh và phục hồi rừng

- Canh tác nương rãy: Thường được hiểu là chặt cây đốt rừng làm nương

trồng cây nông nghiệp. Sau một chu kì canh tác, đất được bỏ hóa để phục hồi

thảm thực vật và độ phì của đất đáp ứng cho một chu kì canh tác tiếp theo.

Theo Phùng ngọc Lan (1986) [22] tái sinh rừng tái hiểu theo nghĩa hẹp,

là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ.

Theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng.

Theo Nguyễn Xuân Lâm (2000) [21] tái sinh rừng là sự xuất hiện một

thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở dưới tán rừng hoặc trên đất rừng (sau

khi làm nương rãy), thế hệ cây tái sinh này sẽ lớn dần lên thay thế thế hệ cây

gỗ già cỗi.

- Phục hồi rừng: Theo Trần Đình Lý (1995) [25] phục hồi rừng là quá

trình sinh địa phức tạp, gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một

thảm thực vật cây gỗ (tre nứa) bắt đầu khép tán. Nói cách khác, phục hồi rừng

là quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó cây

gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu, nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo.

Theo Trần Đình Lý (1995) [26], rừng non thứ sinh phục hồi đối với rừng gỗ

phải có chiều cao từ 3m trở lên và độ tàn che đạt 0,3.

1.1.2. Nghiên cứu về tái sinh

1.1.2.1.Thế giới

Tái sinh rừng trên thế giới đã được nhiều nhà khoa học các nước nghiên

cứu từ lâu. Nhưng với rừng nhiệt đới chỉ được nghiên cứu vào khoảng những

năm 30 của thế kỉ XX trở lại đây.



5

Vấn đề tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là

hiệu quả của các phương thức xử lí lâm sinh đến tái sinh rừng của các loài cây

có mục đích trong các kiểu rừng. Các tác giả tiêu biểu bàn đến như Kenedy

(1935), Lancaster (1953), Taylor (1854).

Nghiên cứu về cây tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Châu Phi, A.

Oobrevin (1938) đã đưa ra lí luận bức khảm tái sinh ( còn gọi là lí luận tuần

hoàn tái sinh). (Dẫn theo Phùng Ngọc Lan, 1986 [23]).

Nghiên cứu về cây tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới, đáng chú ý là

công trình nghiên cứu của P.W. Richards (1952), đã nhận xét ở rừng nhiệt đới

sự phân bố số lượng cá thể của các loài cây trong các lớp là rất khác nhau.

Phần lớn các loài cây ưu thế ở tầng trên trong rừng nguyên sinh thường có rất

ít thậm chí vắng mặt ở những tầng thấp hay cấp thể tích nhỏ. Ngược lại ở

những rừng đơn ưu như rừng Mora gonggijipi ở Guana, rừng Mora exelsa ở

Guana và Trinidat, rừng Eusdezoxylon ở Borneo… lại có đầy đủ đại diện ở

các lớp kích thước. Theo tác giả thì sự phân bố này là do đặc tính di truyền

của các loài cây được thể hiện ở khả năng sinh sản và tập tính của chúng

trong các giai đoạn phát triển. Ở Châu Phi trên cơ sở dữ liệu thu thập được

Tatlor (1954), Barnard (1955), đã xác định ở rừng nhiệt đới ẩm Châu Phi có

số lượng cây là thiếu hụt. Ngược lại Bava (1954), Budowski (1956), Antinot

(1965), lại cho rằng dưới tán rừng nhiệt đới, nhìn chung có đủ số lượng cây

tái sinh có giá trị kinh tế (Dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995 [13] ).

Căn cứ vào đặc điểm tái sinh của rừng mưa nhiệt đới Van Stenis (1956)

đã phân biệt được hai kiểu tái sinh phổ biến đó là tái sinh phân tán, liên tục

của các loài cây chịu bóng và đặc điểm tái sinh khá phổ biến ở rừng mưa

thích hợp với loài cây ưa sáng là kiểu tái sinh theo vệt trên các lỗ trống.

Kết cấu của quần tụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng. I.D.

Yurkevich (1960) đã chứng minh được độ tàn che tối ưu cho sự phát triển



6

bình thường của đa số các loài cây gỗ là 0,6- 0,7. (Dẫn theo Phạm Ngọc

Thường, 2003 [43] ).

A.W. Ghent (1969) cho rằng thảm mục, chế độ thủy nhiệt, tầng đất mặt

quan hệ với tái sinh rừng cũng cần được làm rõ. V.G. Karpov (1969), trong

công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây non và quần tụ đã chỉ ra

rằng đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng, đất,

ánh sáng, ẩm độ và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các

thực vật tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của

quần thể thực vật.

I.N. Nakhteenko (1973) cho rằng sự trùng hợp cao của sự hấp thụ dinh

dưỡng giữa hai loài có thể gây cho nhau sự kìm hãm sinh trưởng và làm tăng

áp lực cạnh tranh giữa hai loài. Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta đều

nhận thấy rằng tầng cỏ và tầng cây bụi qua thu nhận ánh sáng, ẩm độ và các

nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con

tái sinh của các loài cây gỗ. Những quần tụ kín tán, đất khô và nghèo dinh

dưỡng khoáng. Do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của

nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể. Ngược lại, những lâm phần thưa,

rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều

kiện chúng là nhân tố gây trở ngại lớn cho tái sinh rừng ( Xannikov, 1967;

Vipper, 1973). Mibbre-ad (1930), Richards (1933; 1939), Aubréville (1938),

Beard (1946), Lebrun và Gilbert (1954), Joné (1955-1956), Schultz (1960),

G.N. Baur (1964), Rollet (1969) đều có chung quan điểm thống nhất là: Hiệu

quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi,

chất lượng cây con, đặc điểm phân bố và độ dài của thời kì tái sinh rừng.

(Dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003 [43] ).

G.N. Baur (1976) [1] khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên đã nhận

định thảm cỏ và cây bụi đã ảnh hưởng tới tái sinh của cây gỗ đã tổng kết các



7

biện pháp lâm sinh tác động vào rừng, nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi

khi nghiên cứu tái sinh rừng mưa. Trong “ Cơ sở sinh thái học của kinh

doanh rừng mưa” ông đã tổng kết chi tiết các bước và hiệu quả của từng

phương thức tái sinh.

G.I. Vorobiep (1981) [50] trong “ Những vấn đề lâm nghiệp thế giới”

cho rằng chúng ta có thể áp dụng một cách khôn khéo và thận trọng các

phương thức chặt và tái sinh tự nhiên khác nhau để tái tạo các rừng nguyên

sinh từ các rừng thứ sinh nhằm lợi dụng chúng với nhiều mục đích.

H. Lamprecht (1989) căn cứ nhu cầu sử dụng ánh sáng của các loài cây

trong suốt quá trình sống đã phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa

sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng. (Dẫn theo Lê Ngọc

Công, 2004 [7]).

Để xác định mật độ cây tái sinh người ta dùng các phương pháp khác

nhau như : ô dạng bản theo hệ thống do Lowdermilk (1927) đề xuất (diện tích

1- 4m2), ô có kích thước lớn (10-100m2), điều tra theo dải hẹp với ô có kích

thước từ 10-100m2. Phổ biến nhất là bố trí theo hệ thống trong các diện tích

nghiên cứu từ 0,25- 1,0ha (Povarnixbun, 1934; Yurkevich, 1938). Để giảm sai

số trong khi thông kê, Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp “ điều tra

chẩn đoán” mà theo ông kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo thời

gian phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau. V.G.

Nexterov (1954, 1960) đề nghị dùng 15-26 ô kích thước từ 1-2m 2 thống kê

cây con tuổi nhỏ hơn 5 năm, 10-15 ô kích thước từ 4-5m 2 thống kê cây con

tuổi từ 5-10 năm. A.V. Pobedinxki (1961) đề nghị dùng 25 ô dạng bản 1x1m

cho một khu tiêu chuẩn 0,5-1,0ha, X.V. Belov (1983) nhấn mạnh phải áp

dụng thống kê toán học để điều tra và đánh giá tái sinh. Việc phân tích chi tiết

lý luận các phương pháp thống kê toán học trong điều tra và đánh giá tái sinh

rừng được trình bày rõ trong các công trình nghiên cứu của G. Smith (1967)

và V.I. Vasilevich. (Dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003 [43] ).



8

Phân bố số cây theo đường kính là quy luật cấu trúc cơ bản của lâm

phần và đã được nhiều nhà lâm học quan tâm nghiên cứu. Đầu tiên phải kể

đến công trình nghiên cứu của Mayer (1952). Ông mô tả phân bố số cây theo

đường kính bằng phương trình toán học, mà dạng của nó là đường cong giảm

liên tục. Phương trình này gọi là phương trình Mayer hay hàm Mayer. Tiếp

đó, nhiều tác giả đã dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình của

đường cong phân bố. Naslunel (1936) đã xác lập phân bố Charlier- A đối với

phân bố N/D của lâm phần thuần loài đều tuổi. M. Prodan và A.I. Patatscase

(1964), Bill và K.A Rem Ken (1964) đã tiếp cận phân bố này bằng phương

trình logarit. Đặc biệt để tăng tính mềm dẻo, một số tác giả hay dùng các hàm

khác nhau. Loetsch (1973) dùng hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm.

J.L.F Batista và H.T.Z Docouto (1992), trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn

với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo- Brazil đã dùng hàm Weibull mô

phỏng phân bố N/D. (Dẫn theo Nguyễn Thanh Bình, 2003 [3]).

Tóm lại: Trong số các công trình nghiên cứu tái sinh trên thế giới mà

chúng tôi đã tham khảo chủ yếu tập trung vào các trạng thái rừng tự nhiên mà

chưa đề cập đến tái sinh ở trạng thái rừng thứ sinh nhân tác (rừng phục hồi

sau canh tác nương rãy).

1.1.2.2.Việt Nam

Theo nguyễn Văn Thêm (2002) [42] tái sinh rừng được hiểu là quá

trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng.

Ở miền Bắc nước ta từ 1962- 1969, Viện điều tra quy hoạch rừng đã

điều tra tình hình tái sinh tự nhiên theo các “loại hình thực vật ưu thế” rừng

thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn

(1969). Đáng chú ý là công trình điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu

(1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình. Kết quả điều tra đã được

Vũ Đình Huề (1975) tổng kết trong báo cáo khoa học “ Khái quát về tình

hình tái sinh tự nhiên ở rừng Bắc Việt Nam” theo báo cáo đó, tái sinh tự nhiên

ở rừng Bắc Việt Nam cũng mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới.



9

Khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác, Phùng Ngọc Lan

(1984) [22] đã nêu ra kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở Lâm

trường Hữu Lũng (Lạng Sơn). Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là nhân vật

đầu tiên gây ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ nảy mầm. Tiếp theo các đề tài trên,

tác giả đã nghiên cứu và nêu lên sự cần thiết của việc bảo vệ và phát triển Lim

xanh, đồng thời đề ra một số biện pháp kĩ thuật về xử lí hạt giống, gieo trồng

loài cây này. Theo tác giả không nên trồng thuần loài Lim xanh.

Nguyễn Trọng Đạo (1969) [14] đã đưa ra các biện pháp kĩ thuật xúc

tiến tái sinh tự nhiên dựa vào tiêu chuẩn phân loại rừng, theo ông rừng loại

một thì không tu bổ và xúc tiến tái sinh.

Thái Văn Trừng (1978) [46] trong “ Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã

nhấn mạnh một nhân tố sinh thái trong nhóm nhân tố khí hậu đã khống chế và

điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp trong thảm thực vật

rừng, đó là ánh sáng.

Công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Trương (1983) [45] đã đề cập

đến mối quan hệ giữa cấu trúc rừng với tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài.

Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở các rừng tái sinh tự nhiên vùng Hương Sơn- Hà

Tĩnh đã được Phạm Đình Tam ( 1987) làm sáng tỏ.

Nguyễn Văn Trương (1983) [45] trong “ Quy luật cấu trúc rừng gỗ

hỗn loài” đã cho rằng cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lí vừa

cung cấp được gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng. Muốn đảm bảo cho

rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên hoạt động

thì số lượng lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên.

Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp lâm sinh tới quá trình tái sinh

tự nhiên của quần xã thực vật còn được một số tác giả nghiên cứu, Hoàng

Kim Ngũ (1984), Phùng Ngọc Lan (1984), Nguyễn Ngọc Lung (1985),

Nguyễn Duy Chuyên (1995)…



10

Lê Mộng Chân (1994) [10] khi điều tra tổ thành loài cây ở vùng núi cao

vườn quốc gia Ba Vì, ông cho rằng tình hình tái sinh tốt là 4100- 7440 cây/ha.

Cây có triển vọng chiếm trên 60%, thành phần cây tái sinh phần lớn là những

cây chịu bóng.

Khi nghiên cứu vai trò của tái sinh rừng ở các vùng Tây Bắc, vùng

Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Trung tâm, Trần Xuân Thiệp (1996)

[44] đã nhận định rằng vùng Đông Bắc có năng lực tái sinh khá tốt với số

lượng từ 8000-12000 cây/ha, tỉ lệ cây có triển vọng cao đáp ứng được cho

việc phục hồi rừng.

Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam cho

thấy, phân bố N/D1.3 của tầng cây cao (D≥ 6cm) có 2 dạng chính như: Dạng

giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa, dạng một đỉnh hình chữ J.

Với mỗi dạng cụ thể, các tác giả chọn những mô hình toán học thích hợp để

mô phỏng.

Đồng Sỹ Hiền (1974) đã dùng hàm Mayer và đường cong Poisson để

nắn phân bố thực nghiệm số cây theo kích cỡ cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho

việc lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng rừng Việt Nam. Khi nghiên

cứu rừng tự nhiên, ông cho rằng phân bố số cây theo chiều cao N/H ở các lâm

phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu

tầng phức tạp của rừng chặt chọn. Các tác giả đã sử dụng nhiều phương trình

toán học khác nhau để biểu diễn tương quan này. Với rừng tự nhiên nước ta,

ông đề nghị sử dụng phương trình Logarit hai chiều hoặc hàm mũ. Đồng thời,

tác giả cũng chỉ ra khả năng sử dụng một phương trình chung cho nhóm loài

cây có tương quan H/D thuần nhất với nhau.

Đào Công Khanh (1996) [20] đã chọn phương trình Logarit hai chiều để

biểu diễn quan hệ H/D1.3 cho rừng tự nhiên hỗn loài ở Hương Sơn- Hà Tĩnh.

Vũ Nhâm (1988), Phạm Ngọc Giao (1989), Trần Văn Con (1991) đã áp

dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính ở các kiểu rừng khác nhau.



11

Vũ Tiến Hinh (1991) [16] đã thử nghiệm một số phân bố lí thuyết và

khẳng định phân bố Weibull là phân bố lí thuyết phù hợp nhất.

Nguyễn Hải Tuất (1981) [47] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân

bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ đường kính bắt đầu đo. Lê Minh

Trung (1991) đã thử nghiệm một số phân bố xác suất mô tả phân bố N/D 1.3 và

nhận xét là, phân bố Weibull là thích hợp nhất cho rừng tự nhiên ở Đắc Lắc.

Gần đây nhất, Trần Xuân Thiệp (1996) [31], Lê Sáu (1995) [25] cũng khẳng

định sự hơn hẳn của phân bố Weibull trong việc mô tả phân bố N/D cho tất cả

các trạng thái rừng tự nhiên, cho dù phân bố thực nghiệm có dạng giảm liên

tục hay một đỉnh.

Qua tham khảo các tài liệu liên quan cho thấy, việc nghiên cứu phân bố

N/D trong thời gian gần đây không chỉ dừng ở mục đích phục vụ công tác

điều tra như xác định tổng tiết diện ngang, trữ lượng, mà chủ yếu là xây dựng

cơ sở khoa học cho giải pháp lâm sinh trong nuôi dưỡng rừng. Bảo Huy

(1993), Đào Công Khanh (1996) [20], Lê Sáu (1995) [35], đã nghiên cứu

phân bố N/H để tìm tầng tích tụ tán cây.

Các tác giả đều đi đến nhận xét chung là, phân bố N/H có dạng một đỉnh

chính và nhiều đỉnh phụ hình răng cưa và mô tả thích hợp bằng hàm Weibull.

Vũ Đình Phương (1987) [33] đã khẳng định giữa đường kính tán và

đường kính ngang ngực của cây rừng tự nhiên Việt Nam tồn tại mối quan hệ

mật thiết theo dạng đường thẳng. Tác giả đã thiết lập phương trình cho một số

loài cây lá rộng như: Ràng ràng, Vạng, Lim xanh, Chò chỉ trong lâm phần hỗn

giao khác tuổi để phục vụ công tác điều chế rừng.

Tóm lại: Các công trình nghiên cứu tái sinh ở Việt Nam chủ yếu tập

trung vào điều tra đánh giá tái sinh ở các trạng thái rừng trong điều kiện tự

nhiên. Còn những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên phục hồi rừng ở trạng thái

sau nương rãy còn ít, nhất là ở Bắc Giang.



12

1.1.3. Nghiên cứu về tái sinh sau nương rãy

1.1.3.1.Thế giới

Theo UNEP (1985) do rừng bị chặt phá và đất rừng bị sử dụng bừa bãi,

nên nạn sa mạc hóa đang lan rộng. Khí hậu đang thay đổi theo chiều hướng

xấu, đất đai bị xói mòn dẫn đến thoái hóa. Hoạt động nông nghiệp, thủy sản…

gặp khó khăn. Nhiều loài thực vật và động vật hoang dã rất quí đang có nguy

cơ bị tuyệt chủng. (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002 [42]).

F. A. Bazzaz (1968) khi nghiên cứu quá trình diễn thế phục hồi thảm

thực vật trên đất sau trồng trọt bỏ hoang ở vùng núi cao Shawnee, Illios (Mỹ)

đã đi đến kết luận rằng xói mòn đất có ảnh hưởng lâu dài đến diễn thế, ảnh

hưởng này thể hiện ở mật độ cây, tổng diện ngang của rừng đang phục hồi

(Dẫn theo Lê Đồng Tấn, 1999 [44]).

G.N. Baur (1976) [1] cho rằng kiểu làm nông nghiệp trên đất rừng mưa

biến đổi cực nhiều. Kiểu nguyên thủy nhất là trồng trọt du canh mà một số

dân tộc ở nhiều nước nhiệt đới vẫn còn tiến hành. Ở đó người ta định cư tạm

thời, chặt phá từng khoảnh rừng và đốt rồi trồng trọt trên đó một hay hai năm

cho tới khi độ phì nhờ thảm thực vật ban đầu mà có đã không còn nữa. Người

ta lại phát những khoảnh mới và đến khi ở quanh vùng không còn đất thích

hợp nữa hoặc vì nguyên nhân nào khác buộc phải thay đổi đi thì bộ lạc di

chuyển tới định cư ở một nơi ở mới, bỏ đất đã canh tác cho rừng mọc lại và

với thời gian rừng lại khôi phục độ phì của đất. Ông cho rằng gần gũi với du

canh là phương thức luân canh bỏ hóa cho cây bụi mọc. Như tên gọi cho thấy,

phương thức này cũng dựa vào tình hình rừng mưa mọc lại để khôi phục ít ra

là một phần độ phì nhiêu tự nhiên của đất, nhưng trong trường hợp các hoạt

động trồng trọt đều được tiến hành ở những khu định cư lâu dài.

H. Lamprecht et al (1989), Warner (1991), Rouw (1991) khi nghiên cứu

diễn thế đều cho rằng: đầu tiên đám nương rãy được các lào cỏ xâm chiếm,



13

nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ vùng lân cận hỗ

trợ cho việc hình thành quần tụ các loài cây gỗ, tạo ra kiểu hoàn cảnh thích hợp

cho việc sinh trưởng của cây con. Những cây gỗ tiên phong chết đi sau 5-10

năm và được thay thế dần bằng các cây rừng mọc chậm, ước tính phải mất

hàng trăm năm thì nương rãy cũ mới chuyển thành loại hình rừng gần với dạng

rừng nguyên sinh ban đầu. (Dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003 [43]).

Saldarraga (1991) khi nghiên cứu tại 24 điểm thuộc vùng rừng nhiệt đới

ở Colombia và Venezuela nhận xét: sau khi bỏ hóa số lượng loài thực vật tăng

dần từ ban đầu đến rừng thành thục. Thành phần các loài cây trưởng thành

phụ thuộc tỉ lệ các loài nguyên thủy mà nó được sống sót từ thời gian đầu của

quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số

canh tác của khu vực đó. (Dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003 [43]).

Katherine Warner (1991) cho rằng du canh thể hiện phản ứng của con

người khi gặp khó khăn trong việc xây dựng một hệ thống nông nghiệp sinh

thái ở rừng nhiệt đới. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của canh tác nương rãy

đến môi trường Brunig và cộng sự (1975), đã chứng minh canh tác nương rãy

ở Sabah- Malaysia trong thời gian canh tác đã gây ra mức độ xói mòn từ 0,52mm đất (10-40 tấn/ha) trên đất rừng tự nhiên. Nghiên cứu về ảnh hưởng của

canh tác nương rãy đối với chế độ thủy văn, lưu vực nước, xói mòn và độ phì

của đất tùy thuộc từng nơi nghiên cứu của Naprakabob et al (1975). (Dẫn theo

Phạm Ngọc Thường, 2003 [43]).

Long Chun và cộng sự (1993) khi nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ

sinh thái nương rãy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét:

Tại Baka thì nương rãy bỏ hóa được ba năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực

vật tái sinh tự nhiên với các loài ưu thế là Chromolaena odorata, Digitaria

sanguinalis, Melastoma polyanthum. Bỏ hóa 19 năm có 60 họ, 134 chi, 167

loài với các loài ưu thế là Phoebe lanceolata, Shima wallichii, Sclerophylum

wallichiana. (Dẫn theo Phạm Ngọc Thường, 2003 [43]).



14

Tóm lại: Các công trình nghiên cứu tái sinh sau nương rãy trên thế giới

chủ yếu tập trung vào đánh giá ảnh hưởng của canh tác nương rãy đến môi

trường. Còn những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên phục hồi rừng ở trạng thái

sau nương rãy còn ít.

1.1.3.2.Việt Nam

Nhân dân sống ở vùng đồi núi, đất rộng người thưa thường có tập quán

du canh, du cư đốt rãy làm nương làm cho tình trạng đất bị xói mòn và bạc

màu diễn ra rất nghiêm trọng. Tuy nhiên ở Việt Nam tài liệu nghiên cứu canh

tác còn rất ít. Có thể tổng quan như sau:

Đào Công Khanh (1965) [20] trong “ Trồng, bảo vệ rừng trong sản

xuất và khai hoang”. Tác giả tổng kết trồng và bảo vệ rừng trong sản xuất

nương rãy còn có tác dụng giữ vững màu đất nâng cao năng suất cây trồng,

tạo điều kiện tốt để định cư, định canh, góp phần cải thiện đời sống đồng bào

miền núi và ổn định cơ sở sản xuất ở các hợp tác xã khai hoang. Theo tác giả

để phục hồi rừng trong sản xuất nương rãy gồm các công tác cụ thể sau.

- Thực hiện thâm canh và định cư.

- Xây dựng quy hoạch phục hồi rừng, trồng rừng trong sản xuất nương rãy.

- Phục hồi rừng sau nương rãy.

- Phát triển ruộng nương bậc thang.

Trần Ngũ Phương (1970) [32] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới

mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “ Rừng tự nhiên dưới tác động

của con người khai thác hoặc làm nương rãy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết

quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. nếu chúng ta để thảm

thực vật hoang dã nó phát triển trở lại, thì sau một thời gian dài trảng cây bụi,

trảng cỏ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái

sinh tự nhiên và cuối cùng rừng có thể phục hồi dưới dạng gần giống trạng

thái rừng ban đầu”.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (94 trang)

×