1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

Ý nghĩa của TDTD

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (423.64 KB, 58 trang )


Chuyên đề tốt nghiệp
sỏt tớn dng.
Ngoi nhng u im trờn còn tồn tại một số nhược điểm: - Với phương thức này ngân hàng thường khó tăng doanh số cho vay.
- Ngân hàng khó mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng vì ngân hàng phải
trực tiếp tiếp xúc với khách hàng mà cán bộ tín dụng của ngân hàng khó có thể đáp ứng đủ số lượng.
- Với những lý do trên TDTD có chi phí cao.

1.1.3. Ý nghĩa của TDTD


Tín dụng tiêu dùng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, và là loại hình có cơ cấu dư nợ tương đối đáng kể trong tổng dư nợ tín
dụng của các NHTM ngày nay. Xuất phát từ đặc điểm trên của tín dụng tiêu dùng, có thể thấy được tín dụng
tiêu dùng đóng một vai trò rất quan trọng.Cụ thể:
- Đối với ngân hàng:
• TDTD giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả
năng huy động các loại tiền gửi cho ngân hàng. •
Tạo điều kiện giúp ngân hàng đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
- Đối với người tiêu dùng
• TDTD tạo điều kiện đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu đặc biệt là những
nhu cầu chi tiêu mang tính cần thiết, kịp thời. Nhờ đó người tiêu dùng được hưởng những tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền.
• TDTD là phương thức cải thiện mức sống của người tiêu dùng khi họ
chưa có đầy đủ khả năng thanh toán ở hiện tại.
- Đối với nền kinh tế.
• TDTD góp phần cải thiện đời sống dân cư
• Góp phần giảm chi phí giao dịch xã hội qua việc tiết kiệm chi phí và thời
gian cho cả ngân hàng và người sử dụng. •
Tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. •
Do nếu TDTD nhằm tài trợ cho những chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ trong nước thì nó sẽ tạo điều kiện tốt cho việc kích cầu.
1.1.4.
Sự cần thiết của việc phát triển sản phẩm tín dụng tiêu dung - Đối với người tiêu dùng
Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, cùng với nó là sự cải thiện
Phan Thïy Tâm - KTPT 48A
14
Chuyên đề tốt nghiệp
ỏng k trong mc sống của dân cư, thì nhu cầu tiêu dùng của phần lớn bộ phận dân cư đặc biệt là dân cư thành thị đang tăng lên rất nhiều với nhiều hình thức tiêu dùng
khác nhau. Thơng qua nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng, các ngân hàng đã đáp ứng phần nào nhu cầu chi tiêu của người dân, giúp cho họ được hưởng những tiện ích trước khi
tích luỹ đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn nó rất cần thiết cho những trường hợp khi cá nhân có các nhu cầu chi tiêu mang tính cấp bách.
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển đời sống ngày càng được nâng cao thì con người càng có quyền đòi hỏi cao hơn trong việc cải thiện cuộc sống của mình.
Nếu trước kia, chỉ cần ăn no, mặc ấm thì ngày này chúng ta ai cũng mong muốn được ăn ngon, mặc đẹp. Đây là một yêu cầu chính đáng và là tất yếu trong điều
kiện cuộc sống bây giờ.
Nắm bắt được nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng nhưng khả năng thanh tốn thì có hạn , các NHTM ln tìm mọi cách để thoả mãn nhu cầu cho khách
hàng, thực hiện phát triển thị trng sn phm TDTD sẽ giúp ngân hàng thoả mãn tối đa các yêu cầu hợp lý của khách hàng về khối lợng tín dụng tiêu dùng.
Rõ ràng vic phỏt triển thị trường TDTD vẫn sẽ đem đến lợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng.
- Đối với các NHTM
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều khơng thể tránh khỏi. Để có thể đứng vững và tồn tại trong một môi trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt đòi hỏi
mỗi NHTM phải có chiến lược kinh doanh phù hợp , một mặt tận dụng các thời cơ, mặt khác phải tạo ra ưu thế so với đối thủ cạnh tranh của mình.
Chính vì lý do trên, mỗi NHTM ln tìm cách đa dạng hố hoạt động kinh doanh và tín dụng tiêu dùng được xác định là một trong những nghiệp vụ tạo ưu thế
cạnh tranh cho ngân hàng. Với phương châm hoạt động khách hàng là thượng đế , các NHTM ln tìm
mọi cách để thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng cũng như tăng cường các mối quan hệ với khách hàng. Điều này có thể được thực hiện một cách hiệu quả khi các
NHTM phát triển thị trường sản phẩm tÝn dụng tiêu dùng.
Một lý do nữa khiến cho việc phỏt triển thị trường sản phẩm tín dụng tiêu dùng là cần thiết, đó là vì hoạt động kinh doanh ngân hàng ln chứa đựng nhiều rủi
ro. Để có thể giảm thiểu rủi ro, các NHTM ln tìm mọi cách để đa dạng hoá hoạt động kinh doanh cũng như đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách
hàng. Từ đó giúp ngân hàng tăng sức mạnh trong cnh tranh.
Phan Thùy Tâm - KTPT 48A
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Cui cùng, một điều dễ dàng nhận thấy là cùng với việc phát triển thị trường sản phẩm TDTD, các NHTM khơng chỉ tối đa hố lợi ích của khách hàng mà còn
giúp ngân hàng thực hiện được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận .
-
Đối với sự phát triển của nền kinh tế
Phát triển thị trường sản phẩm tín dụng tiêu dùng khơng chỉ đem lại lợi ích cho người tiêu dùng mà nó còn đem lại lợi ích cho nền kinh tế. Nếu TDTD được tài
trợ cho những nhu cầu chi tiêu về hàng hoá, dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng kích cầu, một mặt cải thiện đời sống dân cư, mặt khác tạo điều kiện thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Hơn nữa, nó còn góp phần giảm chi phí giao dịch trong tồn xã hội. Đó là chưa kể đến việc dịch vụ này với những tiện ích thanh tốn khơng dùng tiền
mặt sẽ cải thiện môi trường tiêu dùng, xây dựng nền văn minh thanh tốn, góp phần tạo cơ sở để Việt Nam hoà nhập với cộng đồng phát triển quốc tế.
Xuất phát từ những lý do trên, có thể thấy được rằng phát triển thị trường sản phẩm TDTD cũng là một yêu cầu khách quan của nền kinh tế. tÝn dụng tiêu dùng
cng là một yêu cầu khách quan của nÒn kinh tÕ.
1.2.
Lý luận về kế hoạch phát triển thị trường sản phẩm
1.2.1.
Khái niệm chung về kế hoạch hóa.
KÕ hoạch hoá là hoạt động có hớng đích của Chính phủ, của các doanh nghiệp hay hộ gia đình nhằm đạt đợc những mục tiêu đã định. Chức năng chủ yếu của kế
hoạch hoá là tính toán các nguồn tiềm năng, dự kiến khai thác các khả năng có thể huy động và phối hợp các nguồn tiềm năng ấy theo những định hớng chiến lợc đã
định để tạo nên một cơ cấu hợp lí, thúc đẩy tăng trởng nhanh và giữ cân bằng các yếu tố trên tổng thể. Trong nền kinh tế thị trờng có sự cạnh tranh gay gắt giữa các
đơn vị kinh tế thì hiệu quả kinh tế là mục tiêu hàng đầu, mục tiêu bao trùm lên các mục tiêu khác. Kế hoạch cho phép các doanh nghiệp biết đến hớng đi trong thời
gian sắp tới, nó là cơ sở để xem xét đến các hoạt động khác của doanh nghip nh: ti chớnh, vn, thị trường, khách hàng, moi trường kinh doanh… và với mỗi sự thay
đổi thì doanh nghiệp có cách ứng phó như thế nào với mỗi thay đổi đó. Do vậy hiện nay vai trò của kế hoạch hố khơng giảm đi mà càng được tăng cường như một công
cụ, một yếu tố để tổ chức và quản trị các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả.
Trong nền kinh tế quốc dân kế hoạch hố có thể chia làm hai loại: một là kế hoạch kinh tế – xã hội kế hoạch vĩ mô là kế hoạch của Chính phủ, đây là kế hoạch
định hướng, hướng dẫn cho sự phát triển và những cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân. Kế hoạch này phải vừa đảm bảo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, vừa đảm bo
Phan Thùy Tâm - KTPT 48A
16
Chuyên đề tốt nghiệp
thng nht giữ tăng trưởng kinh tế với công bằng, ổn định và tiến bộ xã hội. Hai là kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp kế hoạch vi mô, kế hoạch này do các doanh
nghiệp tự xây dựng và tự thực hiện trên định hướng của kế hoạch vĩ mô dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp và thị trường của doanh nghiệp. Kế hoạch vi mô phải đạt
mục tiêu: vừa đảm bảo nhu cầu về hàng hoá hoặc dịch vụ của xã hội vừa đảm bảo cho doanh nghiệp t c li nhun tỏi u t.
Cụ thể, căn cứ vào tiêu thức thời gian thì kế hoạch kinh doanh cã thĨ chia thµnh: kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch 1 năm
- KÕ ho¹ch dài hạn: Có thể coi đây nh là một chiến lợc kinh doanh của doanh
nghiệp. Nó định hớng cho mọi hoạt động của doanh nghiệp trong một thời gian tơng đối dài và bao gồm hệ thống những mục tiêu, chính sách, biện pháp thực hiện những
mục tiêu dó của doanh nghiệp.
- Kế hoạch trung hạn: Thòng có thời gian 2, 3 năm nhằm phác thảo chơng trình
trung hạn để thực hiện kế hoạch hoá dài hạn, tức là để đảm bảo tính khả thi lĩnh vực mục tiêu, chính sách và giải pháp đựoc hoạch điịnh trong chiến lợc đã chọn.
- Kế hoạch 1 năm: Kế hoạch này cụ thể những mục tiêu, phơng hớng hoạt động
của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch. Có thể nói, đây là kế hoạch điều hành, bao gồm cả việc thiết lập các cân đối, cụ thể trên cơ sở nghiện cứu, dự báo thị trờng mà
điều chỉnh các kế hoạch tiếp theo.
1.2.2.
C sở cho kế hoạch phát triển sản phẩm.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, mục tiêu của ngân hàng là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tối đa hố lợi ích của khách hàng. Chính vì lẽ
đó, trong q trình cung ứng sản phẩm, dịch vụ của mình cho khách hàng, một việc làm quan trọng và cần thiết là xác định được mục đích của việc cung ứng sản phẩm,
dịch vụ và đồng thời phải đánh giá được sản phẩm dịch vụ mà mình cung ứng thơng qua các chỉ tiêu đánh giá cụ thể.
Do đó, phát triển sản phẩm TDTD có thể được căn cứ dựa trên các chỉ tiêu sau:

1.2.2.1. Chỉ tiêu phản ánh doanh số TDTD


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

×