1. Trang chủ >
  2. Đại cương >
  3. Phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học >

Xe ôtô chạy điện nhỏ nhất thế giới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (795.33 KB, 55 trang )


Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



Sử dụng kính viễn vọng không gian Kepler, các nhà thiên văn học đã khám phá ra một

hành tinh thuộc hệ Mặt trời, có những điểm tương đồng với Trái đất, được đặt tên là

Kepler 22b, có kích thước gấp khoảng 2,4 lần kích thước Trái đất và cách chúng ta

600 năm ánh sáng, với nhiệt độ bề mặt ước tính khoảng 220C và 1 năm ở đó kéo dài

290 ngày. Quan trọng hơn hết là hành tinh này có thể chứa nước - thành phần quyết

định sự sống.

Graphene - siêu vật liệu thế kỷ 21

Năm 2011, Bộ Tài chính Anh đã đầu tư nhiều triệu bảng nhằm hỗ trợ 2 nhà khoa học

giành Giải Nobel Vật lý năm 2010 là Konstantin Novoselov và Andre Geim tiếp tục

nghiên cứu về siêu vật liệu Graphene. Loại vật liệu này sẽ được ứng dụng vào công

nghệ hiển thị và có thể thay thế các loại màn hình cảm ứng hiện nay với giá rẻ hơn và

lại có độ bền cao hơn.

Tay giả Stark Hand

Được sáng tạo bởi nhà sáng chế kỹ thuật Mark Stark, chiếc tay giả Stark Hand là một

liệu pháp y học được áp dụng công nghệ cao, thay thế cho những cánh tay giả vô cảm

làm từ nhựa hay silicon mà người khuyết tật cụt tay vốn vẫn dùng từ trước đến nay.

Chiếc tay giả này có thể thực hiện nhiều cử động linh hoạt và phức tạp như bắt bóng

hay cầm một ly rượu thủy tinh mỏng.

Pin cung cấp năng lượng và làm sạch nước

Các nhà khoa học Trung Quốc đã chế tạo một loại pin nhiên liệu đặc biệt làm sạch

nước và cung cấp năng lượng. Thế hệ pin này hiện mới chỉ ở dạng nguyên mẫu, hy

vọng khi đã hoàn thiện, sẽ rất có ích trong thời đại năng lượng thay thế cũng như việc

làm sạch nước hiện đang có nhu cầu cao.

Phát hiện về đệm lượng tử

Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Đại học Tel Aviv (Israel) đã thành công trong việc

thử nghiệm cho một vật bay lơ lửng trong không khí, bằng cách dùng kỹ thuật gọi là

"đệm lượng tử" (quantum levitation). Trong tương lai, khám phá mới này sẽ giúp hoàn

thiện các công nghệ đệm từ trường ứng dụng trong ngành đường sắt, giúp tàu chạy êm

ái hơn trong khi lại giảm thiểu được rủi ro và tai nạn.

Linh An (tổng hợp)

2. So sánh Nhà nước Cổ đại phương Đông và Nhà nước cổ đại phương Tây.

1. GIỐNG NHAU

a. Sự ra đời

Sự ra đời của Nhà nước cổ đại ở phương Đông và phương Tây đều tuân theo

một qui luật chung, đó là sự hình thành trên cơ sở những mâu thuẫn giai cấp đối

kháng không thể điều hòa được. Quy luật ( quá trình hình thành Nhà nước ) ấy được

diễn ra cụ thể như sau:

Trải qua hàng triệu năm sống thành bầy, con người đã bước vào xã hội có tổ chức cao

hơn là công xã nguyên thủy, cách đây khoảng 40.000 năm. Thị tộc, bào tộc, bộ lạc và

cao hơn là liên minh bộ lạc là những hình thức tổ chức xã hội vừa có mối quan hệ chặt

chẽ với nhau vừa có vai trò và tổ chức quản lí khác nhau. Trong phạm vi từng cộng

đồng, mọi thành viên đều có nghĩa vụ và quyền lợi như nhau, kể cả như các thủ lĩnh.

Việc thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi dựa trên cơ sở sự tự nguyện và áp lực của cộng

34



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



đồng. Quyền hạn của các thủ lĩnh, do cộng đồng trao cho, mang tính xã hội và chưa

phải là quyền lực chính trị.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất với sự ra đời của công cụ sản xuất bằng

kim loại đã tạo ra những chuyển biến lớn về sự phát triển Kinh tế - xã hội. Khoảng

thiên niên kỉ thứ IV - TCN, cư dân Lưỡng Hà, Ai Cập đã dùng nhiều công cụ đồng

trong sản xuất và đời sống. Nghề luyện sắt và công cụ sắt đã xuất hiện vào khoảng

nửa cuối thiên niên kỉ thứ II-TCN ở Tây Nam Á và Ai Cập. Cùng với kinh nghiệm sản

xuất của con người, sự ra đời của công cụ sản xuất mới đã tạo nên bước nhảy vọt về

trồng trọt và nghề thủ công. Ở một số vùng tại Bắc Phi và Châu Á, cư dân còn biết

làm những công trình thủy lợi để tưới tiêu nước. Trồng trọt phát triển đã thúc đẩy

nghề chăn nuôi. Do vậy dẫn đến sự phân công lao động trong xã hội lần thứ nhất:

nghề trồng trọt và nghề chăn nuôi tách rời nhau, có những bộ lạc chuyên về chăn nuôi

và những bộ lạc chuyên nghề trồng trọt. Các nghề thủ công phát triển mạnh dẫn đến

sự hình thành những nhóm người chuyên làm nghề thủ công. Từ đó thủ công tách

khỏi nông nghiệp. Sự chuyên môn hóa của các ngành sản xuất làm xuất hiện và phát

triển việc trao đổi sản phẩm giữa các bộ lạc, giữa các vùng từ Bắc Phi sang châu Á, từ

phương Đông sang phương Tây. Ngay trong một công xã cũng có sự trao đổi sản

phẩm. Hệ quả là:

- Xuất hiện tài sản tư hữu : Năng suất lao động được nâng cao làm cho sản

phẩm xã hội tăng nhanh, dẫn tới dư thừa sản phẩm. Trong các cộng đồng, những

người có địa vị chiếm được nhiều của cải dư thừa của tập thể. Các gia đình nhỏ một

vợ một chồng hình thành. Mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế có tài sản riêng như công

cụ sản xuất, tư liệu lao động và những thứ đó được truyền lại cho con cái từ đời này

qua đời khác, củng cố thêm chế độ tư hữu. Bên cạnh đó, của cải và tù binh trong chiến

tranh cũng là một nguồn tài sản quan trọng bị những người có địa vị trong bộ lạc

thắng trận chiếm đoạt thành của riêng mình.

- Công xã nông thôn xuất hiện thay thế công xã thị tộc phụ hệ đang dần tan rã.

Sự phân hóa tài sản và địa vị giàu nghèo trong xã hội đã dẫn đến tình trạng những

người giàu có muốn từ bỏ bà con thân thuộc túng thiếu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với

họ hàng mình, tránh ảnh hưởng đến việc tích lũy. Những người nghèo khó phải di dời

đến vùng khác để sinh sống, đa số họ không thể tồn tại được. Mối quan hệ huyết

thống gắn kết các thành viên trong thị tộc bộ lạc bị phá vỡ, ranh giới của thị tộc bộ lạc

bị xáo trộn, phá vỡ và thay vào đó, hình thành một hình thức tổ chức cộng đồng mới.

Đó là cộng đồng công xã láng giềng bao gồm những người ở chung một vùng đất, có

cùng một số lợi ích chung về kinh tế, có mối quan hệ láng giềng là chủ yếu. Như thế,

công xã nông thôn là hình thái tổ chức cuối cùng của công xã nguyên thủy, nó vừa có

chế độ tư hữu tài sản (công cụ sản xuất, vật nuôi, nhà ở ) vừa có chế độ sở hữu chung

của công xã (phần lớn ruộng đất, rừng núi, sông ngòi )

Quá trình phát triển của chế độ tư hữu diễn ra mạnh dẫn đến sự phân hóa tất yếu:

35



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



Xã hội hình thành ba giai cấp: giai cấp chủ nô (gồm các quý tộc thị tộc trong công xã,

bộ lạc, liên minh bộ lạc; những thương nhân tích lũy được nhiều của cải và bắt người

sản xuất phải phụ thuộc họ về kinh tế; những tăng lữ nắm cả vận mệnh tinh thần và

vật chất của cư dân; một số ít là nông dân, bình dân hoặc một số ít thợ thủ công do

tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất đã dần dần giàu lên); giai cấp nông dân, thị

dân nghèo, họ có chút ít tài sản; giai cấp nô lệ (tù binh chiến tranh và nông dân, thị

dân nghèo bị phá sản).

Những lợi ích căn bản giữa chủ nô và nô lệ đối lập nhau, vì thế mâu thuẫn giai

cấp hết sức gay gắt tới mức không thể điều hòa được., đấu tranh giai cấp diễn ra quyết

liệt. Các hình thức tổ chức xã hội trong xã hội nguyên thủy không thể giải quyết được

thực trạng đó và nó không còn phù hợp để tồn tại. Giai cấp chủ nô cần phải có một tổ

chức mới để củng cố và tăng cường địa vị của mình. Đó là bộ máy bạo lực, gồm các

quan chức hành chính, tòa án, nhà tù, quân đội, cảnh sát để đàn áp người lao động. Tổ

chức đó gọi là Nhà nước

b. Cơ sở Kinh tế - xã hội, bản chất, đặc trưng và chức năng của Nhà nước:

- Cơ sở Kinh tế của NNCHNL là nền kinh tế được đặc trưng bởi chế độ chiếm

hữu của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và người lao động là nô lệ. Cơ sở xã

hội của NNCHNL là một kết cấu giai cấp phức tạp trong đó có hai giai cấp cơ bản và

đặc trưng là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp chủ nô tuy là thiểu số dân cư

trong xã hội nhưng chiếm toàn bộ tư liệu sản xuất và cả người lao động – nô lệ, do đó

giữ vai trò chi phối toàn bộ đời sống. Giai cấp nô lệ là bộ phận quan trọng của xã hội

nhưng không có tư liệu sản xuất, không có tài sản và vì vậy phải phụ thuộc hoàn toàn

vào chủ nô cả về thể xác lẫn tinh thần, bị coi như thứ tài sản biết nói của chủ nô, có

thể đem bán, cho tặng hoặc giết. Ngoài hai giai cấp trên là những thành phần khác

cùng thuộc một giai cấp như nông dân tư hữu, các thành viên công xã nông thôn, thợ

thủ công, những người làm các nghề tự do, Họ có thân phận gần như nô lệ, tuy ở

chừng mực nào đó họ vẫn được tự do hơn.

- Cùng mang bản chất là Nhà nước chủ nô: “ Nhà nước chủ nô là công cụ bạo

lực để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp chủ nô ”( V.I. Lênin) nhằm duy trì sự

thống trị mọi mặt của chủ nô, duy trì tình trạng bất bình đẳng trong xã hội và để đàn

áp bóc lột nô lệ cùng những người lao động khác. Nhận xét về tính chất giai cấp ấy,

V.I. Lênin nhấn mạnh : “ NNCHNL bao giờ cũng là một bộ máy đem lại cho chủ nô

quyền lực và khả năng cai trị tất cả những người nô lệ là bộ máy để duy trì những

người nô lệ trong địa vị phụ thuộc và cho phép một bộ phận này của xã hội (giai cấp

chủ nô ) cưỡng bức và đàn áp bộ phận kia (giai cấp nô lệ)”. Nhà nước trong khi phục

vụ cho một giai cấp đồng thời cũng bắt buộc phải phục vụ toàn xã hội để có thể tồn

tại, đây là bản chất ( vai trò ) xã hội của Nhà nước.

- Đặc trưng của Nhà nước:

+ Thống trị dân cư theo khu vực hành chính, đập tan cơ sở huyết thống của xã

hội

thị

tộc;

+ Hình thành bộ máy quyền lực công cộng, một bộ máy quan liêu ở trung ương

36



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



và ở địa phương, một lực lượng quân sự to lớn để trấn áp nhân dân và tiến hành chiến

tranh

xâm

lược

hoặc

chống

xâm

lược.

- Các chức năng của Nhà nước : gồm 2 chức năng cơ bản

+ Chức năng đối nội:

· Chức năng bảo vệ, củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất

và nô lệ: Chế độ sở hữu của chủ nô không những đối với tư liệu sản xuất mà cả đối

với nô lệ - là cơ sở tồn tại của xã hội CHNL. Vì vậy, đây là chức năng đặc trưng, thể

hiện rõ nhất bản chất giai cấp của Nhà nước chủ nô. Nhà nước thừa nhận ở mọi lúc

mọi nơi quyền sở hữu tuyệt đối của chủ nô và tình trạng vô quyền của nô lệ, công khai

sử dụng mọi biện pháp để bảo vệ và hoàn thiện chế độ sở hữu này. Nhà nước thông

qua pháp luật để “chính thức hóa” quyền lực vô hạn của chủ nô đối với nô lệ và gia

đình của họ.

Chức năng trấn áp nô lệ và các tầng lớp bị bóc lột khác : Mọi sự phản kháng

của nô lệ và dân nghèo đều bị NNCHNL đàn áp bằng các biện pháp bạo lực, đây là

một hoạt động cơ bản và thường xuyên nhất của các NNCHNL. Nhà nước sử dụng

rộng rãi bộ máy quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù để đàn áp dã man những cuộc khởi

nghĩa của nô lệ cũng như mọi sự phản kháng. Bên cạnh trấn áp bằng bạo lực,

NNCHNL còn trấn áp cả về tinh thần đối với nô lệ và dân nghèo bằng công cụ Thần

quyền.

· Chức năng kinh tế - xã hội : NNCHNL đứng ra giải quyết một số vấn đề kinh

tế - xã hội thiết yếu như xây dựng đường sá, cầu cống, phân chia đất đai, điều chỉnh

giá cả thị trường, đề ra các chính sách kinh tế, ngoại giao, xây dựng và quản lí các

công trình thủy lợi ( ở phương Đông )

+ Chức năng đối ngoại:

Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược : Chiến tranh là phương tiện tốt nhất

để thực hiện mục đích của giai cấp chủ nô là làm giàu nhanh chóng bằng tài sản cướp

bóc được và bằng việc biến các tù binh thành nô lệ. Vì vậy đây là chức năng đối ngoại

cơ bản của nhà nước CHNL. Điển hình của việc thực hiện chính sách đối ngoại hiếu

chiến là nhà nước La Mã cổ đại. Từ thế kỉ V đến thế kỉ III TCN nhà nước La Mã

không ngừng tiến hành các cuộc chiến tranh qui mô lớn thôn tính và cướp bóc các

quốc gia khác, kết quả là La Mã trở thành đế chế hùng mạnh nhất châu Âu thời bấy

giờ. Chiến tranh xâm lược làm cho quan hệ giữa các nhà nước chủ nô luôn trong tình

trạng căng thẳng và là nhân tố làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giai cấp trong xã hội, là

nguyên nhân bùng nổ nhiều cuộc khởi nghĩa trong nội bộ đất nước.

· Chức năng phòng thủ, bảo vệ đất nước và tiến hành các hoạt động ngoại giao,

buôn bán với các quốc gia khác: Đồng thời với tiến hành chiến tranh xâm lược các

nhà nước chủ nô cũng phải tổ chức phòng thủ bảo vệ đất nước, thể hiện ở hàng loạt

các hoạt động như xây dựng quân đội mạnh, xây dựng các pháo đài thành lũy, chuẩn

bị cơ sở vật chất, tiến hành các hoạt động quân sự khi cần thiết .

c. Trình độ văn minh:

37



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



Trong thời kì của mình, NNCHNL phương Đông và phương Tây đã đạt được

những thành tựu lớn về văn minh. Đó là những thành tựu về khoa học tự nhiên, khoa

học xã hội, nghệ thuật mà cho đến nay vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong

nền văn minh nhân loại nói chung.

2. KHÁC NHAU

a. Thời gian và con đường hình thành

· Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi (nằm gần lưu vực các con sông lớn

với lượng phù sa dồi dào màu mỡ, có nhiều đồng bằng lớn ), các quốc gia cổ đại

phương Đông đã sớm phát triển một nền kinh tế nông nghiệp trồng trọt, đặc biệt là

trồng lúa nước. Trong quá trình phát triển đó, trị thủy là một nhiệm vụ quan trọng và

bức thiết nên Nhà nước ra đời sớm để đôn đốc, chỉ đạo nhân dân thực hiện NNCHNL

phương Đông ra đời sớm hơn ( khoảng 4000-3000 năm TCN) so với phương Tây

(khoảng thế kỉ VIII – thế kỉ VI. TCN).

Do ở mỗi vùng có những đặc điểm về địa lý, kinh tế hay ngoại cảnh khác nhau

mà sự xuất hiện nhà nước diễn ra không hoàn toàn giống nhau.:

- Ở phương Đông các nhà nước được hình thành ở lưu vực các con sông lớn.

Điều kiện thiên nhiên không chỉ tạo ra những thuận lợi mà còn sẵn có những thử

thách. Bất cứ cộng đồng dân cư nào cũng phải tiến hành công cuộc trị thủy và thủy

lợi. Do tính cấp bách thường xuyên và yêu cầu quy mô lớn của công cuộc trị thủy,

thủy lợi nên công xã nông thôn với chế độ sở hữu chung về ruộng đất được bảo tồn rất

bền vững. Chế độ tư hữu về ruộng đất lúc đầu hầu như không có và sau đó hình thành,

phát triển rất chậm chạp. “ Trong hình thức Á châu (ít ra cũng trong hình thức chiếm

ưu thế), không có sở hữu mà chỉ có việc chiếm dụng của cá nhân riêng lẻ, kẻ sở hữu

thực tế, thực sự là công xã, do đó sở hữu chỉ tồn tại với tư cách là sở hữu chung về

ruộng đất mà thôi ”( Các Mác – Bàn về xã hội tiền tư bản ). Như vậy, nguyên nhân

của thực tế lịch sử ở phương Đông đó là việc không có chế độ tư hữu ruộng đất: sự

phân chia xã hội thành kẻ giàu người nghèo diễn ra rất chậm chạp, chưa thật sâu sắc

và mức độ phân hóa chưa cao lắm so với lịch sử quá trình hình thành nhà nước ở

phương Tây. Bởi vậy ở phương Đông, quá trình hình thành, định tính và định hình của

các giai cấp cũng diễn ra chậm chạp và không sắc nét, mâu thuẫn đối kháng chưa phát

triển đến mức gay gắt không thể điều hòa được. Nhưng dù trong hoàn cảnh như vậy,

nhà nước vẫn phải ra đời bởi chính công cuộc trị thủy - thủy lợi, không chỉ duy trì chế

độ công hữu về ruộng đất mà còn là yếu tố thúc đẩy nhà nước ra đời sớm. Bên cạnh

đó còn có một số tác nhân khác, ví dụ nhu cầu tự vệ. Có thể khẳng định rằng nhân tố

trị thủy - thủy lợi và tự vệ tuy bản thân chúng không thể sản sinh ra nhà nước nhưng

có thể thúc đẩy quá trình hình thành nhà nước trên cơ sở phân hóa xã hội đã ở một

mức độ nhất định.

- Ở phương Tây, Ăngghen đã chỉ ra ba hình thức cơ bản của sự xuất hiện nhà

nước : Một là, nhà nước Aten – hình thức thuần túy và cổ điển nhất – ra đời hoàn toàn

do những nguyên nhân nội tại của xã hội. Nhà nước Aten là kết quả trực tiếp của sự

phân hóa tài sản và phân chia giai cấp rõ nét, đòi hỏi nhất thiết phải có thay thế cơ

38



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



quan thị tộc giàu có. Hai là, nhà nước Giéc-manh – hình thức được thiết lập sau chiến

thắng của người Giéc-manh đối với đế chế La Mã cổ đại – ra đời dưới ảnh hưởng của

văn minh La Mã và do nhu cầu phải thực hiện cai trị trên đất La Mã, chứ không phải

do đòi hỏi bức thiết của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Giécmanh. Khi nhà nước

thành lập, dấu hiệu của sự phân hóa giai cấp còn mờ nhạt. Cùng với quá trình củng cố

và hoàn thiện bộ máy nhà nước thì xã hội Giecmanh mới chuyển sang xã hội có giai

cấp. Ba là, nhà nước Rôma cổ đại. Ở đây, quá trình xuất hiện của nhà nước được thúc

đẩy bởi cuộc đấu tranh của những người bình dân sống ngoài các thị tộc Rôma chống

lại giới quý tộc của các thị tộc Rôma.

b. Cơ sở kinh tế - xã hội

b.1. Cơ sở kinh tế : Kinh tế phương Đông cổ đại là nền kinh tế nông nghiệp. Ở

các quốc gia CHNL phương Đông, do Nhà nước xuất hiện sớm khi lực lượng sản xuất

và kinh tế phát triển chưa cao nên ruộng đất – thứ tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã

hội – vẫn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước mà thực chất là của nhà vua. Giai cấp chủ

nô trong xã hội chiếm hữu nô lệ phương Đông chiếm hữu tư liệu sản xuất và nô lệ

đồng thời thực hiện sự bóc lột kinh tế đối với xã hội dưới danh nghĩa nhà nước. Còn

tại các quốc gia cổ đại phương Tây, nền kinh tế phát triển theo hướng thương nghiệp

thị trường, nhà nước được hình thành muộn hơn trên cơ sở chế độ tư hữu phát triển

triệt để nên các chủ nô trực tiếp chiếm hữu những điền trang lớn, những xưởng thủ

công, những đoàn thương thuyền và đông đảo những người nô lệ. Sự ra đời sớm và

phát triển triệt để của chế độ tư hữu đã phá vỡ nhanh chóng các công xã nông thôn,

thúc đẩy kinh tế công thương nghiệp phát triển, các yếu tố kinh tế hàng hóa cũng được

xác lập ở những mức độ nhất định. Như vậy, có thể thấy chế độ công hữu chiếm ưu

thế hơn ở phương Đông, còn ở phương Tây, chế độ tư hữu chiếm ưu thế hơn.

b.2. Cơ sở xã hội:

-Ở các quốc gia cổ đại phương Tây (điển hình như các quốc gia thành bang của Hi

Lạp, La Mã cổ đại), nô lệ là lực lượng chính trong việc sản xuất ra của cải vật chất của

xã hội. Những biểu hiện của quyền sở hữu nô lệ và mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ hết

sức rõ rệt. Nó là tài sản riêng của chủ nô, mối quan hệ bóc lột diễn ra chủ yếu giữa

chủ nô và nô lệ. Trong mỗi điền trang nông nghiệp, chủ nô đã sử dụng hàng nghìn nô

lệ lao động; trong các xưởng thủ công, trong các gia đình chủ nô, quan lại, trong cung

đình đều sử dụng nô lệ. Các-mác gọi đó là chế độ nô lệ điển hình. Trong khi đó, ở các

quốc gia cổ đại phương Đông, giai cấp chủ nô gồm chủ yếu là chủ nô quý tộc giữ vai

trò chủ đạo trong đời sống chính trị, tầng lớp chủ nô công thương ra đời muộn với số

lượng ít ỏi. Nô lệ ở phương Đông không phải là lực lượng lao động tạo ra của cải cho

xã hội mà chủ yếu được sử dụng vào những công việc phi sản xuất như xây dựng đền

đài, lăng tẩm, hầu hạ trong các gia đình chủ nô . Lực lượng tiến hành các hoạt động

lao động sản xuất chủ yếu của xã hội là các thành viên công xã nông thôn. Chính vì

vậy quan hệ giai cấp và bóc lột trong xã hội chiếm hữu nô lệ phương Đông diễn ra

giữa giai cấp chủ nô và nông dân – thành viên công xã nông thôn. Chế độ nô lệ ở

phương Đông cổ đại, do vậy, được gọi là chế độ nô lệ gia trưởng.

39



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



- Chủ nô phương Đông chỉ có một tầng lớp là chủ nô nông nghiệp. Còn ở phương Tây,

có hai tầng lớp: chủ nô nông nghiệp và chủ nô công thương. Tầng lớp chủ nô nông

nghiệp xuất thân từ các quan chức của xã hội nguyên thủy nên còn được gọi là quí tộc

thị tộc. Tầng lớp chủ nô công thương do sản xuất, buôn bán mà giàu có nên được gọi

là quí tộc mới. Chủ nô nông nghiệp có xu hướng chính trị thiết lập nhà nước quân chủ.

Chủ nô công thương có xu hướng thiết lập nhà nước cộng hòa.

c. Thiết chế chính trị

- Sự khác nhau đầu tiên và rất rõ ràng giữa các quốc gia cổ đại phương đông và

các quốc gia cổ đại phương tây là ở thể chế nhà nước, trong khi các quốc gia cổ đại

phương đông theo chế độ tập quyền chuyên chế thì ở phương tây thể chế nhà nước

của họ là chế độ dân chủ chủ nô. Đây là 2 hình thức nhà nước cơ bản mà dựa vào nó

các quốc gia phong kiến, hiện đại dùng để tổ chức bộ máy nhà nước. Ở các quốc gia

phương đông “vua có quyền lực tuyệt đối. Tên của các ông vua được gọi theo cá cách

khác nhau ở Ai Cập gọi vua là Pharaông, ở Lưỡng Hà gọi là Patêxi hay Enxi… Vua

được coi là con của thần hay thượng đế” nói chung vua các quốc gia phương đông có

quyền lực vô hạn. Trái với các quốc gia phương đông các quốc gia phương tây cổ đại

theo chế độ dân chủ chủ nô. Hội đồng nhân dân giữ vai trò quyết định, vua được chọn

chỉ nhằm tổ chức nhà nước quyền lực của vua bị giới hạn bởi các cơ quan như “viện

nguyên lão”, “đại hội công dân”… hay thậm chí bởi một ông vua khác(chế độ của

thành bang Xpác)

- Sự khác nhau giữa các quốc gia phương đông và phương tây còn ở thời điểm

ra đời của nhà nước cổ đại các quốc gia cổ đại phương đông là những nhà nước đầu

tiên của nhân loại theo một số tài liệu như “Lịch sử thế giới cổ trung đại” do Nghiêm

Đình Vỳ chủ biên hay “Lịch sử thế giới cổ đại” của Chiêm Tế thì các quốc gia cổ đại

phương đông hình thành từ khoảng thiên niên kỉ IV – III TCN, tức là khi nhà nước

của họ thành lập thì con người còn đang ở thời kì đá- đồng và dĩ nhiên chưa có sự

xuất hiện của công cụ bằng sắt. “Thậm chí người Ai Cập mới chỉ biết đến công cụ

bằng đá và gỗ”(Lịch sử thế giới cổ trung đại). Trong khi đó các quốc gia cổ đại

phương tây bước vào quá trình hình thành nhà nước muộn hơn nhiều theo một số tài

liệu thì đó là vào khoảng thế kỉ VIII- VII TCN. Đây cũng là sự khác nhau về chính trị

giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương tây.

- Điểm khác nhau tiếp theo về chính trị giữa các quốc gia cổ đại phương đông

và phương tây là: các quốc gia cổ đại phương đông tồn tại một cách khá cách biệt với

thế giới bên ngoài nên họ tồn tại và phát triển một cách khá độc lập liên tục mà không

chịu ảnh hưởng của nền văn minh nào khác từ bên ngoài nếu bị xâm lược thì thường

giành lại độc lập sau đó. Trong khi đó chính trị, xã hội của các quốc gia cổ đại phương

tây chịu ảnh hưởng khá lớn từ các lực lượng bên ngoài. Họ thường phải chịu những

cuộc xâm lược của các bộ tộc khác tiêu biểu là cuộc xâm lược của người Giecmanh

cuộc xâm lược này đã làm sụp đổ đế chế La Mã đồng thời cũng chấm dứt lịch sử cổ

đại châu Âu mở ra thời kì phong kiến.

40



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



- Về mặt tổ chức nhà nước thì các quốc gia cổ đại phương đông lãnh thổ của họ

thường khá rộng lớn và là một nhà nước thống nhất ví dụ như Ai Cập, Trung Quốc,

Lưỡng Hà. Lịch sử Ấn Độ, Ai Cập, Trung Quốc cũng có một số thời kì bị chia cắt

nhưng các vùng chia cắt thường không khác nhau lắm về chính trị, xã hội, hơn nữa thì

chúng thường được nhanh chóng thống nhất trở lại. Nhưng ở các quốc gia cổ đại

phương tây đặc biệt là ở Hi Lạp cổ đại, nhà nước của họ tồn tại dưới hình thức thành

bang tức là trên lãnh thổ đó tồn tại nhiều tiểu quốc nhỏ với chế độ tổ chức nhà nước

khác nhau giữa các thành bang không có sự giống nhau ví dụ: thành bang Aten là

thành bang có hình thức hội đồng 500 và hội đồng công dân đứng đầu là 10 nhà chiến

lược kiệt xuất được bầu chọn, ở Xpác cũng có hội đồng nhân dân nhưng chủ chốt lại

là ở 2 vua và 5 quan giám sát. Ở Rôma thời kì đế chế tuy lãnh thổ mở rộng nhưng về

bản chất vẫn không có sự quản lý chặt chẽ thành một khối như ở các quốc gia cổ đại

phương đông.

d) Giải thích sự khác nhau đó

- Nguyên nhân hình thành chế độ tập quyền chuyên chế ở phương đông và nền

dân chủ chủ nô ở phương tây. Do ở phương đông nền kinh tế nông nghiệp tự túc, tự

cấp phát trỉển còn ở phương tây có nền kinh tế hàng hoá, công thương nghiệp phát

triển nên yêu cầu về chính trị, xã hội khác nhau. Ở phương đông với nền kinh tế nông

nghiệp thì thuỷ lợi là vấn đề hàng đầu, nhưng trị thuỷ phải có sự góp sức của nhiều

người vì thế chế độ tập quyền chuyên chế giúp vua có khả năng trong điều hành các

công việc chung dễ dàng hơn. Ngoài ra các vị vua phương đông thường mượn thần

quyền để tăng uy tín của mình. Trái lại ở phương tây họ hình thành các quốc gia cổ

đại muộn hơn nên có thể tiếp thu thành tựu phương đông. Trong các quốc gia phương

đông cổ đại Lưỡng Hà là nước dân chủ hơn cả cộng thêm với việc thương nghiệp ở

đây phát triển nên theo tôi các quốc gia phương tây đã học tập và hoàn thiện chế độ ở

Lưỡng Hà và lập ra các nhà nước dân chủ chủ nô nhằm hạn chế sự chuyên quyền của

vua đồng thời tạo tính dân chủ trong xã hội. Hơn nữa nền kinh tế công thương nghiệp

của họ không cần có một vị vua chuyên quyền để cai trị, nền kinh tế công thương coi

trọng sự công bằng hơn nữa họ muốn không chỉ có địa vị kinh tế mà còn có địa vị xã

hội nên đó cũng có thể là lý do hình thành nhà nước dân chủ chủ nô ở các quốc gia cổ

đạu phương tây.

- Nguyên nhân nhà nước chiếm hữu nô lệ phương tây phát triển một cách thuần

thục và điển hình trong khi ở các quốc gia phương đông thì không: do ở phương tây,

kinh tế công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ lực lượng dân tự do không đáp ứng

kịp từ đó nảy sinh nhu cầu cần một lực lượng chính chuyên môn hoá sản xuất, phục

vụ cho nhu cầu công thương nghiệp hơn nữa giữa các quốc gia cổ đại phương tây

thường sảy ra chiến tranh để cướp đoạt nô lệ, của cải vì thế số lượng bình dân giảm

nhưng số lượng nô lệ lại tăng vì thế bóc lột bình dân như ở các nước phương đông

không không còn phù hợp. Vì thế theo em ban đầu nô lệ ở phương tây cũng mang tính

41



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



gia trưởng như ở phương đông nhưng sau đó do nhu cầu phát triển kinh tế công

thương nghiệp nên xã hội chiếm nô ở đây ngày càng phát triển tới mức thành thục và

điển hình.

- Nguyên nhân của sự chênh lệch về thời gian hình thành giữa các quốc gia cổ

đại phương đông và phương tây: do ở phương đông có điều kiện tự nhiên thuận lợi khí

hậu phù hợp, đất phù sa màu mỡ… rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng

phải lo làm thuỷ lợi phòng lũ lụt nên từ rất sớm các công xã nông thôn đã hợp nhất

thành các liên minh bộ lạc lớn rồi từ đó hình thành các quốc gia cổ đại vì thế ngay cả

khi loài người còn đang ở thời kì đá - đồng, khi mà công cụ bằng sắt chưa xuất hiện

thì họ vẫn có thể thành lập các nhà nước cổ đại. Trái lại, ở phương tây đất canh tác

không màu mỡ bằng, khí hậu không phù hợp để canh tác nông nghiệp vì thế chỉ khi

công cụ bằng sắt ra đời từ khoảng giữa TNK I TCN thì các quốc gia cổ đại phương tây

mới hình thành. Ở đây ta lại có thắc mắc tại sao các quốc gia phương tây phát triển

công thương nghiệp lại cần sự phát triển nông nghiệp ở thời đồ sắt lý do rất đơn giản

vì nông nghiệp là cơ sở của mọi ngành kinh tế, là hình thức kinh tế giúp con người tồn

tại, không ở đâu là không cần nông nghiệp phát triển kể cả các quốc gia phương tây vì

nông nghiệp là cơ sở để duy trì sự tồn tại của xã hội

- Nguyên nhân sự khác nhau về giai cấp đối kháng giữa các quốc gia cổ đại

phương đông và phương tây:lý do sự khác nhau đó đến từ thể chế chính trị, xã hội. Ở

các quốc gia phương đông cổ đại hình thức chính trị xã hội chủ yếu của họ là hình

thức tập quyền chuyên chế vì thế mâu thuẫn giai cấp chủ yếu sảy ra giữa nông dân

công xã và quý tộc, quan lại trong khi đó ở các quốc gia cổ đại phương tây nền dân

chủ chủ nô phát triển mâu thuẫn chủ yếu là giữa chủ nô và nô lệ nhưng trong xã hội cổ

đại phương tây lại có sự phức tạp hơn phương đông ở chỗ ngoài hai giai cấp đối

kháng chủ yếu là chủ nô và nô lệ còn xuất hiện giai cấp bình dân họ không bị bóc lột

như nô lệ nhưng cũng không bóc lột trực tiếp đối với nô lệ họ sống nhờ vào phúc lợi

xã hội (giai cấp vô sản ăn bám) . Giai cấp này hình thành trên cơ sở sự phát triển của

chế độ chiếm nô khi của cải trong xã hội đã tích luỹ 1 lượng của cải đủ nuôi sống cả

xã hội. Họ sống nhờ vào chính quyền chiếm nô nên có quan hệ lệ thuộc vào giai cấp

trên, nhưng họ vẫn là dân nghèo nên cũng có những mâu thuẫn nhất định với giai cấp

trên.

- Nguyên nhân lãnh thổ của các quốc gia phương đông cổ đại lại rộng lớn và

thường xuyên ở tình trạng thống nhất hơn các quốc gia phương tây: Do ở phương

đông có nhu cầu chung sức trị thuỷ các dòng sông lớn nên các tiểu quốc thường có xu

hướng hợp nhất với nhau vì thế các quốc gia phương đông cổ đại thường có lãnh thổ

rộng lớn và thống nhất lãnh thổ hơn các quốc gia phương tây cổ đại(trừ đế chế Rôma).

Còn ở các quốc gia cổ đại phương tây tiêu biểu là Hi Lạp các quốc gia thường mang

tính chất thành bang diện tích nhỏ và không có sự thống nhất về lãnh thổ là do không

có nhu cầu trị thuỷ các dòng sông lớn, sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp

42



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



không đòi hỏi nhu cầu thống nhất lãnh thổ nhưng về cơ bản vẫn là do bị địa hình chia

cắt bởi núi cao, sông dài. Chính sự chia cắt về tự nhiên và việc các thành bang không

thống nhất với nhau đã khiến lãnh thổ Hi Lạp cổ đại chưa từng có 1 vương triều thống

nhất có chăng chỉ là một số thành bang mạnh vươn lên làm “minh chủ” một thời gian

rồi sau này lại trở về cục diện ban đầu.

=>Sự khác biệt chủ yếu giữa các quốc gia cổ đại phương đông và phương

tây là về xã hội kinh tế, chính trị, điều kiện tự nhiên giống nhau đến mấy cũng

không rõ ràng bằng nhà nước đó dựa vào nô lệ hay nông dân công xã là lực

lượng chính lao động để làm ra của cải vật chất. Theo tôi đó là cái thước đo xem

nhà nước cổ đại này thuộc các quốc gia cổ đại phương đông hay phương tây

5. Đôi nét về bộ sử thi của Ấn Độ và của Hi Lạp – La Mã cổ đại

5.1. Bộ sử thi của Ấn Độ

a) Rāmāyaṇa (Devanāgarī: रररररर) là một sử thi cổ đại viết dưới dạng

trường ca tiếng Sanskrit và là một phần quan trọng của bộ kinh Ấn Độ giáo (smṛti).

Đây là bộ sử thi bằng tiếng Phạn nổi tiếng thứ hai của Ấn Độ cổ đại. Người ta cho

rằng tác giả của Ramayana là nhà thơ Valmiki.

Tên gọi Rāmāyaṇa là một từ ghép tatpurusha của Rāma và ayana "đi đến, tiến

đến", được dịch ra là "những cuộc du hành của Rāma". Rāmāyaṇa bao gồm 24.000

câu[1] trong bảy tập (kāṇḍas) và kể về câu chuyện của một hoàng tử, Rama của xứ

Ayodhya, vợ là Sita bị bắt đi bởi vua quỷ (Rākshasa) vua xứ Lanka, Rāvana. Trong

dạng hiện tại của nó, Valmiki Ramayana có niên đại có thể từ 500 TCN đến 100 TCN,

hay là khoảng cùng thời với những bản đầu tiên của sử thi Mahabhārata.[2]

Nguồn gốc

Ramayana được cho là sáng tác bởi Vanmiki và được viết bằng văn vần vào khoảng

thế kỷ thứ 3-4 TCN, sau bộ Mahabharata nhưng lại kể về chuyện xảy ra trước thời đại

của Mahabharata.

Nội dung

Sử thi này gồm 24.000 câu thơ đôi, tức 48.000 dòng thơ, chưa bằng 1/4 khối

lượng dòng thơ của bộ Mahabharata nhưng bố cục chặt chẽ hơn. Chủ đề của tác phẩm

là câu chuyện tình duyên giữa hoàng tử Rama và người vợ chung thủy Sita.

Xưa kia ở vương quốc Kosala có ông vua già yếu tên là Dasaratha, có bốn

người con trai do bà vợ sinh ra. Con cả Rama hơn hẳn các em về tài đức. Vua có ý

định nhường ngôi cho chàng, nhưng vì bị trói buộc bởi lời hứa với bà vợ thứ hai

Kaikeyî xinh đẹp cho nên đã đày Rama vào rừng 14 năm và trao ngôi lại cho Bharata,

con của Kaikeyî.

Vợ Rama, nàng Sita, cùng em trai Laksmana tình nguyện theo Rama vào rừng

sống ẩn, luyện tập võ nghệ. Quỉ vương Rãvana ở đảo Lanka lập mưu cướp nàng Sita

đem về làm vợ. Hắn dụ dỗ và ép buộc nàng nhưng nàng đã kịch liệt chống cự. Mất

Sita, Rama đau buồn khôn xiết. Chàng quyết tâm cứu bằng được vợ trở về. Trên

43



Nguyễn Hữu Hoàng – KS12E biên soạn, năm 2012



đường đi, Rama gặp và giúp đỡ vua khỉ Xu-gri-va, sau đó chàng được tướng khỉ

Hanuman cùng đoàn quân khỉ giúp. Cuối cùng Rama cũng cứu được Sita.

Nhưng sau chiến thắng vẻ vang đó, Rama nghi ngờ tiết hạnh của Sita, nổi cơn

ghen dữ dội, không muốn nhận lại nàng làm vợ. Để Rama tin ở lòng chung thủy của

mình, Sita đã bước vào lửa. Thần lửa A-nhi biết được nàng trong sạch, đã cứu nàng.

Thấy vậy Rama vô cùng sung sướng, giang tay đón nàng. Hai người đưa nhau trở về

kinh đô trong cảnh chào đón nồng nhiệt của dân chúng.

Giá trị tác phẩm

Ramayana ngợi ca chiến công và đề cao đạo đức của hoàng tử Rama, ca ngợi

mối tình chung thuỷ của nàng Xita, đồng thời phản ánh sự phát triển của xã hội người

Arian. Tuy là một tác phẩm ca ngợi đẳng cấp quý tộc vũ sĩ nhưng đã khắc họa được

những gương mặt có tâm hồn trong sáng. Rama là nhân vật lí tưởng kiểu mẫu của đạo

Hinđu, của đẳng cấp vương công quý tộc đồng thời là khát vọng của nhân dân về một

vị minh quân, một anh hùng tài ba, đức độ, đem lại hạnh phúc cho xã hội. Sita thánh

thiện, là mẫu người phụ nữ Ấn Độ cổ đại, một người vợ tiết hạnh, một người con gái

nhân hậu, quả quyết, hi sinh quên mình. Tướng khỉ Hanuman có trái tim nóng bỏng

nhiệt tình, là hoá thân của lực lượng quần chúng nhân dân làm hậu thuẫn cho những

anh hùng chiến đấu cho tự do và công lý, giải phóng bảo vệ đất nước.. Tác phẩm cũng

đã nêu bật được khát vọng chiến thắng cái ác, đem lại nguồn an ủi cho quần chúng

nhân dân bị áp bức, do đó được nhân dân rất ưa chuộng. Vì thế, những câu chuyện và

những nhân vật trong Ramayana đã được nhiều văn nghệ sĩ khắc họa trong thơ ca và

trong các công trình mỹ thuật - điêu khắc ở Ấn Độ và các nước Đông Nam Á.

Đặc điểm nổi bật khiến Ramayana sống mãi trong lòng người đọc là sức gợi

cảm của nó, với sự kết hợp của yếu tố tưởng tượng kì ảo và việc phản ánh hiện thực

khách quan, nét hoang đường kì ảo và việc miêu tả tính cách con người trần tục,

những cảnh oai hùng và những cảnh bi tráng.

Ramayana đã song hành cùng lịch sử dân tộc Ấn Độ dẫu qua nhiều sự gọt giũa

của các thi sĩ vô danh, qua nhiều lời kể của các nghệ nhân dân gian, song vẫn là tiếng

ca bất hủ về lòng hướng thiện, tư tưởng yêu hòa bình, đề cao sự công bình bác ái; với

những triết lí mang tầm nhân loại có giá trị cho muôn đời: lẽ hài hòa, bổn phận, khát

vọng, đúng như Vanmiki đã nói: “chừng nào sông chưa cạn, đá chưa mòn thì anh hùng

ca Ramayana còn làm say mê lòng người và giải thoát họ ra khỏi vòng tội lỗi”.

b) Mahabharata

Là một trong hai cuốn Sử thi tiếng Phạn (Sanskrit) Ấn Độ cổ, cuốn thứ hai là

Ramayana. Mahabharata bao gồm hơn 74.000 câu thơ và những đoạn văn xuôi dài,

tổng cộng khoảng 1,8 triệu từ, và là cuốn thiên sử thi dài nhất trên thế giới, gấp bảy

lần tổng số câu thơ của hai bộ sử thi Hy Lạp cổ đại là Iliad và Odyssey cộng lại. Tác

phẩm này được coi là "Đại Bách khoa toàn thư" về văn hóa truyền thống, về các

truyền thuyết và về các thể chế chính trị - xã hội của Ấn Độ cổ xưa. Nó là tấm gương

phản chiếu toàn bộ đời sống con người Ấn Độ truyền thống như lời một câu ngạn ngữ

cổ: "Cái gì không thấy được ở trong Mahabharata thì cũng không thể nào thấy được ở

Ấn Độ." Cuốn sử thi này cũng chiếm vị trí quan trọng trong triết học và tôn giáo tại

Ấn Độ, do nó còn chứa Bhagavad Gita, một kinh văn quan trọng hàng đầu của Ấn Độ

giáo (đạo Hindu) dài chừng 700 câu thơ.

44



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (55 trang)

×