Tải bản đầy đủ - 89 (trang)
Kết cấu của khóa luận

Kết cấu của khóa luận

Tải bản đầy đủ - 89trang

Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1. Cơ sở lý luận

1.1.1. Tổng quan về quản lý dự án đầu tư

1.1.1.1. Khái niệm về dự án và quản lý dự án

a. Có rất nhiều cách định nghĩa dự án. Tùy thuộc theo mục đích mà nhấn mạnh

một khía cạnh nào đó.

Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: Cách hiểu “tĩnh” và cách

hiểu “động”. Theo cách hiểu “tĩnh” thì dự án là hình tượng về một tình huống (một

trạng thái) mà ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu thứ hai: “ Dự án là một lĩnh vực hoạt

động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn

lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.”

Trên phương diện quản lý: “ Dự án là những nổ lực có thời hạn nhằm tạo ra một

sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.”

Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: (1) Nỗ lực tạm thời, nghĩa là mọi dự án

đầu tư đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự

án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ, (2) Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Sản phẩm

hoặc dịch vụ duy nhất là sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm

tương tự đã có hoặc dự án khác.

b. Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và

giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng

thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về

kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt

nhất cho phép.



SVTH: Trần Thủy Như



4



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều phối

thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám

sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định.

Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính

nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành

động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống

hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống.

Điều phối thực hiện. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn,

lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian.

Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự

án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bốtrí tiền vốn, nhân lực và

thiết bị phù hợp.

Giám sát. Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình

thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc

trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án

giữa kỳ cuối và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến

nghị các pha sau của dự án.

Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ

việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc tái lập

kế hoạch dự án.

1.1.1.2. Khái niệm về đầu tư và dự án đầu tư

a. Đầu tư theo nghĩa rộng, nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để

tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định

trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nguồn lực đó

có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.

Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện

tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các

nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó.



SVTH: Trần Thủy Như



5



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



b. Nếu xét về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một

cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được

những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.

Nếu xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên

quan với nhau được kế hoạch hóa nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc

tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các

nguồn lực xác định.

Nếu xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng

vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời

gian dài.

1.1.1.3. Các đặc điểm cơ bản của dự án đầu tư

- Dự án có mục đích, kết quả xác định. Tất cả các dự án đều phải có kết quả

được xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa nhà, một dây chuyền sản xuất hiện đại

hay là chiến thắng của một chiến dịch vận động tranh cử vào một vị trí chính trị. Mỗi

dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cụ

thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình

thành nên kết quả chung của dự án. Nói cách khác, dự án là một hệ thống phức tạp,

được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng

đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn

thành với chất lượng cao.

- Dự án có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án không

kéo dài mãi mãi. Mọi dự án đều có chu kì sống, nó bắt đầu khi một mong muốn hoặc

một nhu cầu của người yêu cầu và nếu mọi việc tốt đẹp nó sẽ được kết thúc sau khi

bàn giao cho người yêu cầu một sản phẩm hoặc dịch vụ như là một sự thỏa mãn cho

nhu cầu của họ.

- Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ). Khác với

quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản

xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy

nhất, hầu như không lặp lại như Kim tự tháp Ai Cập hay đê chắn lũ Sông Thames ở

London. Tuy nhiên, ở nhiều dự án khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn và dễ bị che đậy



SVTH: Trần Thủy Như



6



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



bởi tính tương tự giữa chúng. Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác

nhau, vị trí khác nhau, khách hàng khác… Điều ấy cũng tạo nên nét duy nhất, độc đáo,

mới lạ của dự án.

- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận

quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên

hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ

quan quản lý nhà nước… Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà

sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau. Giữa các bộ phận quản lý chức

năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp

thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau. Tính

chất này của dự án dẫn đến hai hậu quả nghiêm trọng: (1) không dễ các bên tham gia

có cùng quyền lợi, định hướng và mục tiêu; (2) khó khăn trong việc quản lý, điều phối

nguồn lực… Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần

duy trì thường xuyên mối liên hệ với các bộ phận quản lý khác.

- Môi trường hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau

cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các

hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị… Do đó, môi trường

quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động.

- Tính bất định và rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư

và lao động rất lớn để thực hiên trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời

gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro

cao. Tuy nhiên các dự án không chịu cùng một mức độ không chắc chắn, nó phụ thuộc

vào: Tầm cỡ của dự án, mức độ hao mòn của dự án, công nghệ được sử dụng, mức độ

đòi hỏi của các ràng buộc về chất lượng, thời gian, chi phí, tính phức tạp và tính không

thể dự báo được của môi trường dự án…

1.1.2. Khái niệm, vị trí, vai trò, sản phẩm của đầu tư xây dựng công trình

1.1.2.1. Khái niệm về đầu tư xây dựng

Đầu tư xây dựng là việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những

công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình

hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định.



SVTH: Trần Thủy Như



7



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



Vị trí, vai trò và sản phẩm của đầu tư xây dựng trong nền kinh tế

Vị trí và vai trò: Đầu tư xây dựng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình

phát triển của bất kỳ hình thức kinh tế nào, nó tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật,

những nền tảng vững chắc ban đầu cho sự phát triển của xã hội.

Đầu tư xây dựng cơ bản hình thành các công trình mới với thiết bị công nghệ

hiện đại; tạo ra những cơ sở vật chất hạ tầng ngày càng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu

phát triển của đất nước và đóng vai trò quan trọng trên mọi mặt kinh tế; chính trị - xã

hội; an ninh - quốc phòng.

Đối với một nước đang phát triển như nước ta hiện nay, quản lý hiệu quả các dự

án xây dựng là cực kỳ quan trọng nhằm tránh gây ra lãng phí thất thoát những nguồn

lực vốn đã rất hạn hẹp.

Sản phẩm đầu tư xây dựng: Là các công trình xây dựng đã hoàn thành (bao gồm

cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong). Sản phẩm xây dựng là kết tinh của các

thành quả khoa học - công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất

đinh. Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực lượng tham gia

chế tạo sản phảm chủ yếu: các chủ đầu tư, các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp, các

doanh nghiệp tư vấn xây dựng, các doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghệ, vật tư

thiết bị xây dựng, các doanh nghiệp cung ứng, các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài

chính, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.

1.1.3. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

1.1.3.1. Khái niệm quản lý dự án đầu tư xây dựng

Quản lý đầu tư trong xây dựng là tập hợp những tác động của nhà nước, chủ đầu

tư đến toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng kể từ bước xác định dự án đầu tư xây dựng

đến khi thực hiện dự án tạo ra công trình bàn giao đưa vào sử dụng để đạt được mục

tiêu đầu tư đã xác định.

1.1.3.2. Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng

- Quản lý lập báo cáo đầu tư để xin phép đầu tư.

- Quản lý lập, thẩm định, quyết định đầu tư cho các dự án hoặc báo cáo kinh tế

kỹ thuật xây dựng công trình.



SVTH: Trần Thủy Như



8



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



- Quản lý việc điều chỉnh dự án đẩu tư xây dựng công trình.

- Quản lý lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công

trình.

- Quản lý về cấp phép xây dựng công trình

- Quản lý lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng

- Quản lý thi công xây dựng công trình

- Quản lý khối lượng thi công xây dựng

- Quản lý môi trường xây dựng

- Quản lý bảo hành công trình xây dựng.

1.1.3.3. Nguyên tắc quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình

a. Đối với các dự án sử dụng mọi nguồn vốn:

Việc đầu tư xây dựng công trình phải được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm

quyền cho phép đầu tư. Dự án đầu tư xây dựng phải phù hợp với quy hoạch phát triển

kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, hoạch xây dựng được duyệt và các quy

định khác của pháp luật có liên quan.

b. Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:

Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương

đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây

dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng.

c. Đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước:

- Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh,

vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp

Nhà nước thì Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư. Doanh nghiệp có

dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định.

- Đối với dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước, Nhà

nước chỉ quản lý về chủ trương đầu tư. Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ

chức thực hiện và quản lý dự án theo quy định của pháp luật.

1.1.3.4. Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng

Quá trình quản lý đầu tư và xây dựng của một dự án có sự tham gia của nhiều



SVTH: Trần Thủy Như



9



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



chủ thể khác nhau. Khái quát mô hình các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư

như sau:

CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG

Người có thẩm quyền

Quyết định đầu tư



CHỦ

ĐẦU TƯ



Nhà thầu tư vấn

Nhà thầu xây lắp



Sơ đồ 1: Các chủ thể tham gia quản lý dự án.

Trong cơ chế điều hành, quản lý dự án đầu tư và xây dựng nêu trên, mỗi cơ quan,

tổ chức có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được quy định cụ thể trong Luật xây

dựng Việt nam.

a. Người có thẩm quyền quyết định đầu tư.

Là người đại diện pháp luật của tổ chức, cơ quan nhà nước hoặc các doanh

nghiệp tuỳ theo nguồn vốn đầu tư. Người có thẩm quyền quyết định đầu tư ra quyết

định đầu tư khi đã có kết quả thẩm định dự án. Riêng dự án sử dụng vốn tín dụng, tổ

chức cho vay vốn thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ để chấp thuận

cho vay hoặc không cho vay trước khi người có thẩm quyền quyết định đầu tư ra quyết

định đầu tư (được quy định trong Nghị định 12/2009/NĐ-CP).

b. Chủ đầu tư.

Tuỳ theo đặc điểm tính chất công trình, nguồn vốn mà CĐT được quy định cụ

thể như sau: (Trích điều 3 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP).

- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì CĐT xây dựng công

trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công

trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước cụ thể như sau:

- Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì CĐT là một trong

các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan

khác ở Trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố



SVTH: Trần Thủy Như



10



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước.

- Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân

dân các cấp quyết định đầu tư thì CĐT là đơn vị quản lý, sử dụng công trình.

Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn

vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm CĐT thì người quyết định

đầu tư lựa chọn đơn vị có đủ điều kiện làm CĐT. Trong trường hợp đơn vị quản lý,

sử dụng công trình không đủ điều kiện làm CĐT, người quyết định đầu tư giao

nhiệm vụ cho đơn vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham

gia với CĐT để quản lý đầu tư xây dựng công trình và tiếp nhận, quản lý, sử dụng

khi công trình hoàn thành.

Các dự án sử dụng vốn tín dụng thì người vay vốn là CĐT.

Các dự án sử dụng vốn khác thì CĐT là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện

theo quy định của pháp luật.

- Đối với các dự án sử dụng vốn hỗn hợp thì CĐT do các thành viên góp vốn

thoả thuận cử ra hoặc là người có tỷ lệ góp vốn cao nhất.

c. Tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng.

Là tổ chức nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn

đầu tư và xây dựng theo quy định của pháp luật. Tổ chức tư vấn chịu sự kiểm tra

thường xuyên của CĐT và cơ quan quản lý nhà nước.

d. Doanh nghiệp xây dựng.

Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh

doanh về xây dựng. Doanh nghiệp xây dựng có mối quan hệ với rất nhiều đối tác khác

nhau nhưng trực tiếp nhất là CĐT. Doanh nghiệp chịu sự kiểm tra giám sát thường

xuyên về chất lượng công trình xây dựng của CĐT, tổ chức thiết kế, cơ quan giám

định Nhà nước theo phân cấp quản lý.

e. Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng.

Ngoài các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng như: Bộ Kế hoạch

Đầu tư; Bộ Xây dựng; Bộ Tài chính; Ngân hàng Nhà nước Việt nam; các Bộ ngành

khác có liên quan: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ; uỷ ban nhân

dân cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); thì Bộ quốc phòng cũng có



SVTH: Trần Thủy Như



11



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



những cơ quan chức năng quản lý quá trình đầu tư và xây dựng như: Cục Kế hoạch

Đầu tư; Cục Doanh trại; Cục Tài chính; đại điện cơ quan quản lý nhà nước quản lý quá

trình triển khai thực hiện dự án.

f.



Mối quan hệ của CĐT đối với các chủ thể liên quan.



CĐT là chủ thể chịu trách nhiệm xuyên suốt trong quá trình hình thành và quản

lý dự án đầu tư xây dựng, có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan tổ chức tham gia

quản lý và chịu sự quản lý của nhiều Bộ, ngành, các cơ quan liên quan mà trực tiếp là

người quyết định đầu tư.

Các dự án đầu tư xây dựng thuộc Bộ Tổng tham mưu, có thể làm rõ một số mối

quan hệ sau:

- Đối với Bộ quản lý ngành: Bộ quản lý ngành quyết định CĐT và quy định

nhiệm vụ, quyền hạn và chỉ đạo CĐT trong quá trình quản lý. CĐT có trách nhiệm báo

cáo với Bộ quản lý ngành về hoạt động của mình.

- Đối với tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng: Ngoài việc tuân thủ các quy định,

quy chuẩn, tiêu chuẩn của chuyên ngành, lĩnh vực mà mình đang thực hiện, tư vấn còn

có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ mà CĐT giao thông qua hợp đồng.

- Đối với doanh nghiệp xây dựng: Đây là mối quan hệ CĐT điều hành quản lý,

doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện các nội dung trong hợp đồng đã ký kết.

- Đối với các cơ quan quản lý cấp phát vốn: CĐT chịu sự quản lý giám sát về

việc cấp phát theo kế hoạch.

1.1.4. Đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ

1.1.4.1. Khái niệm công trình giao thông đường bộ

Công trình giao thông đường bộ gồm đường bộ, nơi dừng xe, đỗ xe trên đường

bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông, dải

phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm

thu phí và các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác.

1.1.4.2. Vai trò, đặc điểm của đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ

* Vai trò của đầu tư xây dựng các công trình GTĐB

- Đẩy mạnh phát triển kinh tế.



SVTH: Trần Thủy Như



12



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



+ GTĐB góp phần thu hút đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài, rút

ngắn được khoảng cách địa lý giữa các tỉnh thành trong cả nước do đó làm chuyển

dịch cơ cấu kinh tế vùng, rút ngắn trình độ phát triển kinh tế giữa các địa phương, tạo

điều kiện phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương và thúc đẩy các địa phương

phát triển kinh tế. Hệ thống GTĐB phát triển sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động giao

lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các vùng và địa phương với nhau, giữa quốc gia này

với quốc gia khác từ đó sẽ tìm ra được những cơ hội đầu tư tốt và tiến hành đầu tư, các

hoạt động xúc tiến thương mại phát triển cùng với đó là thu hút các nguồn vốn trong

nước và ngoài nước cho mục tiêu phát triển kinh tế.

+ GTĐB góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua

kích thích tạo việc làm và tăng năng suất lao động. Sự phát triển của hạ tầng giao

thông đường bộ đã góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong

thời gian qua. Các công trình GTĐB sẽ thu hút một lượng lớn lao động do đó góp

phần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho quốc gia, mặt khác khi vốn đầu tư cho hệ thống

GTĐB lớn sẽ kích thích thu hút vốn đầu tư cho các ngành trực tiếp sản xuất sản phẩm

phục vụ cho sự phát triển của các công trình giao thông như sắt, thép, xi măng, gạch…

+ Hạ tầng GTĐB phát triển sẽ đóng góp tích cực vào việc tiết kiệm chi phí và

thời gian vận chuyển, từ đó tạo điều kiện giảm giá thành sản phẩm, kích thích tiêu

dùng và phát triển của các ngành khác. Trong các loại hình vận tải ở Việt Nam thì vận

tải bằng đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất do đó nếu hạ tầng GTĐB tốt sẽ tiết kiệm

được rất nhiều chi phí, và có thể lấy số chi phí tiết kiệm được để thực hiện phát triển

các ngành khác.

- Phát triển văn hoá-xã hội.

Phát triển văn hoá xã hội là phát triển đời sống tinh thần của người dân, điều nay

góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của quốc gia. Dân số Việt Nam tính đến năm

2008 là khoảng hơn 100 triệu người đến từ các dân tộc khác nhau và sống trong các vùng

không đồng đều về lịch sự, địa lý… do đó đời sống tinh thần cũng khác nhau đặc biệt là

giữa thành thị và nông thôn và các vùng xa xôi hẻo lánh. Nhờ có hạ tầng GTĐB phát triển

mà khoảng cách đó ngày càng được xoá bỏ, sự giao lưu văn hoá giữa các vùng ngày càng



SVTH: Trần Thủy Như



13



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Châu



đuợc tăng cường và làm phong phú thêm đời sống của người dân Việt từ đó kích thích

người dân hăng say lao động đóng góp vào sự phát triển của đất nước.

Hệ thống đường bộ phát triển sẽ nảy sinh các ngành nghề mới, các cơ sở sản xuất

mới phát triển từ đó tạo cơ hội việc làm và sự phát triển không đồng đều giữa các vùng

cũng được giảm, hạn chế sự di cư bất hợp pháp từ nông thôn ra thành thị, hạn chế

được sự phân hoá giàu nghèo và từ đó giảm được các tệ nạn xã hội góp phần tích cực

vào bảo vệ môi trường sinh thái.

- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Mục tiêu quan trọng của bất kì một doanh nghiệp nào khi hoạt động cũng đều là

lợi nhuận. Có nhiều cách để doanh nghiệp áp dụng để có được lợi nhuận tối đa và một

trong những cách đó là giảm chi phí một cách tối thiểu. Hạ tầng GTĐB sẽ đóng góp

đáng kể vào việc giảm chi phí của doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có chi

phí vận tải chiếm một tỷ trọng lớn. Khi hạ tầng GTĐB phát triển thì các doanh nghiệp

sẽ tiết kiệm được chi phí nhiên liệu, chi phí vận chuyển hàng hoá tới nơi tiêu thụ, chi

phí nhập nguyên liệu; ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể tiết kiệm được một số chi phí

khác như chi phí quản lý và bảo quản hàng hoá, chi phí lưu trữ hàng tồn kho…Nhờ đó

mà doanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm và nâng cao cạnh tranh của doanh

nghiệp trên thị trường. Hệ thống GTĐB phát triển cũng sẽ giúp các doanh nghiệp giao

hàng đúng nơi và đúng thời gian từ đó tạo được uy tín cho doanh nghiệp, trong kinh

doanh thì điều này là rất quan trọng. Mặt khác khi giao thông đường bộ phát triển thì

sản phẩm dễ dàng đến tay người tiêu dùng do đó hàng hóa sẽ được tiêu thụ nhanh hơn,

điều này sẽ rút ngắn thời gian quay vòng vốn và làm tăng hiệu quả sử dụng vốn cũng

như tăng hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp.

- Bảo đảm an ninh quốc phòng.

Hệ thống GTĐB đóng góp tích cực vào việc giữ gìn trật tự an ninh xã hội, và bảo

vệ quốc phòng.Với CSHT GTĐB hiện đại sẽ giảm thiểu đuợc tình trạng ùn tắc đường

đang xảy ra trong thời gian qua đặc biệt là ở các thành phố lớn, giảm tai nạn giao

thông, giữ gìn trật tự xã hội. Đây là một trong những vấn đề mà Đảng và Chính phủ

đang rất quan tâm.



SVTH: Trần Thủy Như



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết cấu của khóa luận

Tải bản đầy đủ ngay(89 tr)

×