Tải bản đầy đủ - 78 (trang)
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 78trang

khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian,

chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao.

- Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Nghĩa là, giống

như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời

điểm bắt đầu và kết thúc.

- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận

quản lý chức năng với quản lý dự án… Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu

quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản

lý nhà nước... Tuỳ theo tính chất và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành

phần trên là khác nhau. Giữa các bộ phận quản lý chức năng và nhóm quản lý dự án

thường xuyên có quan hệ lẫn nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ

tham gia của các bộ phận không giống nhau. Vì mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự

án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác.

- Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ). Khác với quá

trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất

hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất.

Lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn cao, nhiệm vụ không lặp lại . . .

- Môi trường hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau

cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các

bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị... Một số trường hợp, các thành

viên quản lý dự án thường có hai thủ trưởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó

khăn không biết thực hiện quyết định nào của cấp trên khi hai lệnh mâu thuẫn nhau.

- Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn, vật tư

và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời

gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao.

Xuất phát từ cụm từ “dự án” chúng ta xem xét đến thuật ngữ “dự án phát triển”là dự

án nhân đạo và phi lợi nhuận, các kết quả thu được là vô hình, với mục tiêu mang tính

chất bền vững. Các đối tượng tham gia vào dự án có cùng chung mục đích, thực hiện

trong một khoảng thời gian, chi phí không có tính quyết định.

“Dự án phát triển” tồn tại với đặc thù sau:

- Các mục tiêu phát triển khó đánh giá và nhìn nhận cụ thể

4



- Các khoảng cách về văn hoá, lối sống, trình độ, nhận thức…

- Mối quan hệ phức tạp của các bên liên quan đến dự án.

- Các khoảng cách về địa lý và điều kiện làm việc không thuận lợi

Từ khái niệm dự án và dự án phát triển trên, ta có khái niệm chương trình:

“chương trình bao gồm các dự án được thực hiện trong một thời gian dài hơn nhằm đạt

đước các ảnh hưởng lâu dài đối với đối với đối tượng hưởng lợi”

(Theo bài giảng của tiến sĩ Đỗ Bá Khang viện công nghệ Châu Á AIT)

1.1.2 Khái quát chương trình 135

1.1.2.1. Quan điểm

a. Phát triển kinh tế - xã hội khu vực dân tộc thiểu số và miền núi phải được thực

hiện trên nguyên tắc tập trung nguồn lực đầu tư tổng thể, phát triển kinh tế - xã hội bền

vững đi đôi với tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng

cao chất lượng đời sống cho nhân dân.

b. Các nội dung đầu tư của Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã, thôn,

bản đặc biệt khó khăn khu vực dân tộc thiểu số và miền núi phải được tiến hành có trọng

tâm, trọng điểm; giải quyết những khó khăn, trở ngại trước mắt và những thách thức tiềm

tàng lâu dài; đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và

miền núi không chỉ mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội đơn thuần mà còn là cơ sở vững

chắc để phát huy khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh chính trị quốc gia;

c. Giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền

núi là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các

tổ chức, mọi người dân và cần được tiến hành với sự đồng thuận và quyết tâm cao, từ

phạm vi địa phương , vùng, quốc gia;

d. Các quan điểm triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình phát triển kinh tế - xã

hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải được tích hợp vào các chiến lược,

quy hoạch, kế hoạch phát triển ở các cấp, các ngành, các địa phương, cả trong các văn

bản quy phạm pháp luật cũng như tổ chức thực hiện;

đ. Thực hiện nguyên tắc tập trung nguồn lực tổng thể, triển khai thực hiện việc

huy động phối hợp các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương, vốn huy

động quốc tế và sự tham gia, đóng góp của các thành phần kinh tế, người dân trong quá

trình triển khai thực hiện;

5



e. Quan điểm tổ chức thực hiện: Do có sự khác biệt đáng kể về đặc thù kinh tế,

văn hoá, xã hội theo vùng miền, khu vực dân tộc thiểu số và miền núi cần được đầu tư

theo nhu cầu của vùng, miền. Từ đó đặt ra sự cần thiết của tiếp cận văn hoá trong phát

triển, tiếp cận giải quyết các vấn đề theo vùng miền.

1.1.2.2. Mục tiêu của chương trình

* Mục tiêu tổng quát.

Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt

khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này

thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào sự phát triển

chung của cả nước; góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.

*. Mục tiêu cụ thể đến năm 2015

Chương trình 135 là một chương trình phát triển kinh tế xã hội cần đặt trong mối

tương quan với các chương trình, chính sách lớn về giảm nghèo khác như Chương trình

giảm nghèo nhanh và bền vững đầu tư theo Nghị Quyết 30A, Chương trình Nông thôn

mới,... Vì vậy, chỉ đưa ra những tiêu chí cụ thể cần đạt được, tác động trực tiếp bới các

nội dung đầu tư của chương trình.

Mặt khác, từ kinh nghiệm của việc triển khai thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II,

chương trình cũng cần xây dựng được một bộ tiêu chí đơn giản, thực tế hơn để có thể đo

lường, đánh giá hiệu quả triển khai thực hiện các nội dung đầu tư của chương trình theo chu

kỳ hàng năm và cho cả giai đoạn. Ở cấp trung ương, các tiêu chí cơ bản, tổng quát sẽ được

xây dựng chung mang tính chất định hướng. Các tỉnh căn cứ xây dựng lộ trình chi tiết với

các tiêu chí cần đạt được cụ thể để triển khai thực hiện theo chu kỳ hàng năm và cả giai đoạn

để triển khai và giám sát, đánh giá kết quả thực hiện chương trình.

a) Chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội

+ 80% thôn, bản có đường giao thông được cứng hoá theo cấp kỹ thuật của Bộ

Giao thông Vận tải;

+ 80% vùng sản xuất tập trung có diện tích 30ha trở lên (riêng khu vực Tây

Nguyên và Nam bộ có diện tích 50ha trở lên) có đường giao thông được cứng hóa theo

cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông Vận tải;

+ 100% các xã có điện lưới trong đó có trên 80% các thôn, bản trong xã được sử

dụng điện phục vụ sinh hoạt và phát triển sản xuất;

6



+ Cơ bản các công trình thủy lợi vừa và nhỏ được đầu tư đáp ứng nhu cầu sản xuất

nông nghiệp và dân sinh;

b) Chỉ tiêu về đào tạo, nâng cao năng lực

+ Đào tạo nghề cho 80% thanh niên trong độ tuổi lao động có nhu cầu;

+ 80% người nông dân được tập huấn, đào tạo nghề (nông, lâm, ngư nghiệp, sơ

chế bảo quản chế biến sau thu hoạch,... để thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu tiếp cận với

tập quán sản xuất mới);

+ 100% cán bộ hành chính cấp xã được tập huấn các kỹ năng quản lý, lập kế

hoạch có sự tham gia, phát triển cộng đồng, trong đó có 80% số cán bộ qua đào tạo nắm

được quy trình, kiến thức được đào tạo phục vụ công việc.

c) Chỉ tiêu về phát triển xã hội

+ Đảm bảo cung cấp công cụ lao động, sản xuất và giải quyết việc làm cho 80%

dân số trong độ tuổi lao động;

+ Đạt tỷ lệ nhập học tiểu học đúng tuổi lên 99%;

+ Đạt tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đúng tuổi lên tới 80%;

+ Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 20%;

+ 80% người dân được tiếp cận và sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

1.1.2.3. Nhiệm vụ của chương trình 135

- Quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết, từng bước tổ chức hợp lý đời

sống sinh hoạt của đồng bào các bản, làng, phum,… ở những nơi có điều kiện, nhất là

những xã vùng biên giới và hải đảo, tạo điều kiện để đời sống đồng bào nhanh chóng ổn

định để đi vào sản xuất

- Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn với chế biến, tiêu thụ sản

phẩm để khai thác nguồn tài nguyên và sử dụng nguồn lao động tại chỗ, tạo thêm nhiều cơ

hội về việc làm và tăng thu nhập, ổn định đời sống, từng bước phát triển sản xuất hàng hoá.

- Phát triển cơ sơ hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch sản xuất và bố trí lại

dân cư, trước hết là hệ thống đường giao thông, nước sinh hoạt; hệ thống điện ở những

nơi có điều kiện, kể cả thuỷ điện nhỏ.

- Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã, ưu tiên đầu tư xây dựng các công

trình về y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, cơ sở

phục vụ sản xuất và phát thanh truyền hình.

7



- Đào tạo cán bộ xã, bản, làng,… giúp các cán bộ cơ sở nâng cao trình độ quản lý

hành chính và kinh tế để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.

1.1.2.4. Nguyên tắc chỉ đạo

Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa,

trước hết phải dựa trên cơ sở phát huy nội lực của từng hộ gia đình và sự giúp đỡ của

cộng đồng, đồng thời có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước để khai thác nguồn lực tại chỗ

về đất đai, lao động và các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội trong vùng, tạo ra bước

chuyển mới về sản xuất và đời sống của đồng bào.

Nhà nước tạo môi trường pháp lý và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, ưu tiên

đầu tư vốn ngân sách, nguồn vốn thuộc các chương trình, dự án trên địa bàn và nguồn vốn

viện trợ của các nước, các tổ chức quốc tế đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn.

Việc thực hiện chương trình phải có giải pháp toàn diện, trước hết là tập trung

phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; đồng thời thúc

đẩy phát triển giáo dục, y tế, văn hoá xã hội trong vùng.

Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Bộ, ngành có trách nhiệm giúp các xã

thuộc phạm vi chương trình; khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang,

các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân trong cả nước,

đồng bào Việt nam ở nước ngoài,… tích cực đóng góp, ủng hộ thực hiện chương trình.

1.1.3 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

1.1.3.1 Các khái niệm

Quan niệm về cơ sở hạ tầng

Theo nghĩa hẹp, CSHT được hiểu là tập hợp các ngành phi sản xuất thuộc lĩnh vực

lưu thông, tức là bao gồm các công trình vật chất kỹ thuật phi sản xuất và các tổ chức

dịch vụ có chức năng đảm bảo những điều kiện chung cho sản xuất, phục vụ những nhu

cầu phổ biến của sản xuất và đời sống xã hội. Theo cách hiểu này, CSHT chỉ bao gồm

các công trình giao thông, cấp thoát nước, cung ứng điện, hệ thống thông tin liên lạc... và

các đơn vị đảm bảo duy trì các công trình này.

Theo nghĩa rộng, CSHT được hiểu là tổng thể các công trình và nội dung hoạt

động có chức năng đảm bảo những điều kiện “bên ngoài” cho khu vực sản xuất và sinh

hoạt của dân cư. CSHT là một phạm trù rộng gần nghĩa với “môi trường kinh tế ”, gồm

các phân hệ: phân hệ kỹ thuật (đường giao thông, cầu cảng, sân bay, năng lượng, bưu

8



chính viễn thông...), phân hệ tài chính (hệ thống tài chính - tín dụng), phân hệ thiết chế

(hệ thống quản lý nhà nước và luật pháp), phân hệ xã hội (giáo dục, y tế, khoa học kỹ

thuật...), cách hiểu này rõ ràng là rất rộng, bao hàm hầu như toàn bộ khu vực dịch vụ.

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Đầu tư phát triển CSHT trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát

triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng CSHT nhằm tái

sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy

đầu tư phát triển CSHT là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển KTXH của nền

kinh tế. Đầu tư phát triển CSHT trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình

thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục CSHT cho nền kinh tế.

1.1.3.2Nội dung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Đầu tư phát triển CSHT bao gồm:

• Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật (gọi tắt là hạ tầng kỹ thuật)

Đầu tư cơ cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm những bộ phận chủ yếu sau đây:

- Hệ thống giao thông.

- Hệ thống cấp nước sạch và thoát nước thải.

- Hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải.

- Hệ thống lưới điện.

- Hệ thống bưu chính viễn thông.

- Các công viên cây xanh phục vụ vui chơi, giải trí và bảo vệ môi trường.

- Hệ thống đảm bảo ánh sáng văn hoá và an toàn giao thông đô thị: chiếu sáng,

đèn tín hiệu, biển báo giao thông.

- Vận tải hành khách công cộng.

Ngoài ra có quan điểm còn tính đến cả các lĩnh vực nhà ở, hệ thống kho tàng tập

trung, các công trình và tổ chức phục vụ công cộng như tang lễ, y tế, cơ sở xã hội, phòng

chữa cháy, phòng chống lụt bão, động đất...

Như vậy, trong cơ cấu khu vực hạ tầng kỹ thuật bao gồm hai mảng lớn: mảng thứ

nhất là các công trình cơ sở vật chất có chức năng tạo điều kiện cho toàn bộ hoạt động

KTXH như đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, lưới điện,... Đây là những công

trình được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ hàng hoá công cộng và có đặc

điểm là chúng gắn liền với chức năng đảm bảo điều kiện cho sự hoạt động bình thường

9



của vùng dân cư. Mảng thứ hai của hạ tầng kỹ thuật đô thị là các thiết chế tổ chức có

chức năng vận hành các công trình hạ tầng kỹ thuật hoặc cung ứng các sản phẩm hàng

hoá công cộng. Đó là các tổ chức con người được thành lập và hoạt động theo thể chế

hiện hành.

Việc phân biệt hai mảng hạ tầng kỹ thuật như trên có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.

Đối với mảng thứ nhất là mảng các công trình hạ tầng kỹ thuật có tầm quan trọng đặc

biệt, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, hiệu suất vốn thấp, khó tổ chức thu hồi vốn... Nhà nước có

trách nhiệm đầu tư và có kế hoạch đầu tư thống nhất, còn đối với mảng thứ hai, tuỳ vào

cơ chế quản lý, trình độ quản lý mà có phương thức và hình thức tổ chức phù hợp.

• Đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội

Là đầu tư phát triển hệ thống công trình vật chất, đảm bảo cho việc nâng cao trình

độ dân trí, văn hoá tinh thần của dân cư, đồng thời cũng là điều kiện chung cho quá trình

tái sản xuất sức lao động và nâng cao trình độ lao động của xã hội, hệ thống này bao

gồm:

- Các cơ sở, thiết bị và công trình phục vụ cho giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa

học, ứng dụng và triển khai công nghệ.

- Các cơ sở y tế, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiểm xã hội, nghỉ ngơi, tham quan du lịch,

các công trình phục vụ cho các hoạt động văn hoá xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao...

• Đầu tư cơ sở hạ tầng môi trường

Là đầu tư phát triển hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo vệ, giữ gìn và

cải tạo môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người:

- Các công trình phòng chống thiên tai.

- Các công trình bảo vệ đất đai, rừng, biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

- Hệ thống cung cấp, xử lý và tiêu thải nước sinh hoạt.

- Hệ thống xử lý chất thải công nghiệp.

1.1.3.3 Đặc điểm đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

• Đầu tư CSHT đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài

Các công trình CSHT khi xây dựng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thời

gian thu hồi vốn lại rất lâu, thường việc thu hồi vốn phải thực hiện gián tiếp thông qua

các ngành kinh tế khác. Do vậy khi tiến hành đầu tư vào lĩnh vực này cần phải tính toán

vấn đề KTKT trong xây dựng và sử dụng các công trình đó. Trong quá trình đầu tư chúng

10



ta phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế

hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tư thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn

thành trong thời gian ngắn chống lãng phí nguồn lực. Công tác thăm dò tài nguyên, xác

định nhu cầu sử dụng CSHT là công việc thiết thực trong quá trình đầu tư, góp phần nâng

cao hiệu quả kinh tế của công trình.

• Thời gian dài với nhiều biến động

Thời gian tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi thành quả của nó phát huy

tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra.

• Có giá trị sử dụng lâu dài

Các thành quả của thành quả đầu tư CSHT có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng

trăm, hàng nghìn năm, thậm chí tồn tại vĩnh viễn như các công trình nổi tiếng thế giới

như vườn Babylon ở Iraq, tượng nữ thần tự do ở Mỹ, kim tụ tháp cổ Ai cập, nhà thờ La

Mã ở Roma, vạn lý trường thành ở Trung Quốc, tháp Angcovat ở Campuchia, …

• Cố định

Các thành quả của hoạt động đầu tư CSHT là các công trình xây dựng sẽ hoạt

động ở ngay nơi mà nó đựơc tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh

hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư, cũng như việc phát huy kết quả đầu tư. Vì vậy

cần được bố trí hợp lý địa điểm xây dựng đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng,

phải phù hợp với kế hoạch, qui hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi

thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo được sự phát triển cân đối của

vùng lãnh thổ .

• Liên quan đến nhiều ngành

Hoạt động đầu tư xây dựng CSHT rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều

lĩnh vực. Diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với

nhau. Vì vậy khi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các

ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tư, bên cạnh đó phải qui định rõ phạm vi trách

nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo được tính tập trung

dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư.

1.1.3.4 Vai trò của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đối với sự phát triển KTXH

Vai trò của đầu tư phát triển CSHT được thể hiện qua các mặt sau:

• Quyết định sự tăng trưởng và phát triển nhanh của nền kinh tế nói chung cũng

11



như của các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh dịch vụ.

Giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, bởi đầu tư

là yếu tố quyết định trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng. Khi quy mô kinh tế đã lớn lên, để

kinh tế tăng trưởng 1% đòi hỏi vốn đầu tư chẳng những nhiều hơn về lượng tuyệt đối, mà

còn phải lớn hơn về tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP .

CSHT cung cấp các dịch vụ cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các yếu tố đầu vào,

đầu ra đảm bảo cho quy trình sản xuất và tái sản xuất của đất nước được tiến hành một

cách thường xuyên liên tục với quy mô ngày càng mở rộng. Vì thế đầu tư cho CSHT sẽ là

điều kiện hết sức căn bản để cho các ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ của đất nước

nhanh chóng đi vào hiện đại hoá, trên cơ sở đó làm tăng nhanh và liên tục năng suất lao

động của từng ngành cũng như năng suất lao động của toàn xã hội, giúp cho nền kinh tế

nước ta sớm hoà nhập với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới.

• Tạo ra sự thay đổi căn bản trong cơ cấu kinh tế.

CSHT hiện đại là điều kiện cơ bản cho nhiều ngành nghề mới ra đời và phát triển,

đặc biệt trong hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Sự phát triển của nông thôn

nước ta trong những năm gần đây là một minh chứng rõ ràng. Trước đây ở nông thôn,

giao thông không phát triển, điện thiếu thốn, hệ thống thông tin liên lạc lạc hậu... nên mọi

hoạt động sản xuất ở nông thôn chậm phát triển. Những năm gần đây, nhờ đầu tư hiện đại

hoá CSHT ở nông thôn sản xuất nông nghiệp được thay đổi một cách toàn diện, làm cho

cơ cấu nông nghiệp trong GDP ngày càng giảm. Ngược lại tỷ trọng các ngành công

nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng.

Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư CSHT có tác dụng giải quyết những mất cân đối về

phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng

đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị...

của những vùng có khả năng phát triển nhanh, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác

cùng phát triển.

Như vậy chính sách đầu tư CSHT ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và

đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Do vậy các ngành, các địa phương trong nền

kinh tế cần phải lập kế hoạch đầu tư dài hạn để phát triển ngành, vùng đảm bảo sự phát

triển cân đối tổng thể, đồng thời có kế hoạch ngắn và trung hạn nhằm phát triển từng

12



bước và điều chỉnh sự phù hợp với mục tiêu đặt ra.

• Tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng trong nước

Nước ta có 7 vùng kinh tế lớn: Vùng trung du miền núi phía Bắc, Vùng đồng bằng

sông Hồng, Khu Bốn cũ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Vùng đồng bằng Nam Bộ

và đồng bằng sông Cửu Long. Những vùng có nhiều đô thị lớn, có CSHT tốt thì phát

triển nhanh, còn những vùng núi cao, vùng sâu, CSHT lạc hậu thì chậm phát triển làm

mất cân đối cơ cấu nền kinh tế của cả nước. Do đó muốn giảm sự phát triển không đồng

đều về KTXH giữa các vùng ở nước ta, đặc biệt ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa thì

chúng ta cần đầu tư cho CSHT. Một hệ thống CSHT đồng bộ, hiện đại sẽ tạo điều kiện

cho các vùng này khai thác được tối đa tiềm năng và thế mạnh của mình, từ đó tạo ra sự

phát triển đồng đều giữa các vùng đó. Khi hệ thống CSHT phát triển cũng tạo điều kiện

thuận lợi cho quá trình sản xuất, cho việc giao lưu hàng hóa đi lại giữa các vùng. Các

công trình CSHT vừa mang ý nghĩa kinh tế là môi trường cho sản xuất phát triển, vừa

mang ý nghĩa chính trị làm cho bộ mặt đô thị văn minh hơn, hiện đại hơn. Là nhịp cầu

nối liền tình đoàn kết giữa các dân tộc, các vùng trong nước.

• Tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài

Đất nước muốn đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì vấn đề quan trọng trước

hết là cần phải có vốn. Kinh tế nước ta còn chậm phát triển, NSNN còn rất hạn hẹp do đó

việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài là rất cần thiết. Trong những năm trở lại đây có rất

nhiều dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Phần lớn các dự án đó được đầu tư vào các

thành phố lớn có CSHT tốt như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng... Muốn thu

hút thành công vốn đầu tư nước ngoài thì chúng ta cần phải tạo ra môi trường đầu tư

trong đó CSHT là một nhân tố quan trọng. Ở đây có mối quan hệ tác động qua lại, xây

dựng và tạo ra CSHT tốt để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sử dụng chính vốn đầu tư

nước ngoài để đầu tư xây dựng hệ thống CSHT, tạo động lực cho các ngành sản xuất vật

chất hoạt động có hiệu quả hơn.

• Tạo điều kiện để giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân từ đó

làm tăng nguồn tích luỹ cho nền kinh tế.

CSHT phát triển cho phép chúng ta tạo ra được nhiều cơ sở sản xuất vật chất mới, tạo

điều kiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các khu vực góp phần giải quyết công ăn

việc làm cho người lao động, đồng thời phân bổ nguồn lao động hợp lý. Hơn nữa, sự xuất

13



hiện của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ mới với công nghệ kỹ thuật cao nên sẽ hoạt

động hiệu quả hơn mang lại nhiều lợi nhuận hơn, mang lại thu nhập cao cho người lao động.

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện Tuyên Hoá

1.2.1.1 Kinh tế

Kinh tế trong những năm qua tiếp tục tăng trưởng và ổn định, các ngành kinh tế

mũi nhọn của huyện đều phát triển với tốc độ cao, nhất là ngành dịch vụ và tiểu thủ công

nghiệp. Giá trị sản xuất hàng năm không ngừng tăng, năm sau cao hơn năm trước. Tốc độ

tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt 7,56%/năm, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại

hội Đảng bộ huyện lần thứ XVII đề ra; giai đoạn 2006 - 2010 đạt 12,36%, cao hơn chỉ

tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVIII đề ra (Chỉ tiêu đại hội 11,5 - 12%).

Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện vẫn ở mức độ thấp so với tốc độ tăng của

các huyện và của toàn tỉnh.

Theo dự báo, ước thực hiện năm 2012 thì tốc độ tăng trưởng năm 2012 khoảng

9,3% (theo báo cáo tình hình thực hiện 9 tháng năm 2012 và kế hoạch năm 2013).

Thực chất các ngành kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp và sâu xa đối với đời sống

người dân trong huyện vẫn là: Nông, Lâm, Ngư - Thương mại, Dịch vụ - Công nghiệp,

Tiểu thủ CN, Xây dựng.

Sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế như sau:

- Ngành Nông - Lâm - Ngư giảm từ 42,67% năm 2005 còn 40,85% năm 2010.

- Ngành Công nghiệp - Tiểu thủ CN từ 25,12% năm 2005 tăng lên 26,22% năm 2010.

- Ngành Thương mại - Dịch vụ tăng từ 32,21% năm 2005 lên 32,93% năm 2010.

Theo dự báo, ước thực hiện năm 2012 thì cơ cấu như sau: Nông - Lâm - Ngư chiếm

33,81%; Công nghiệp - TTCN - Xây dựng chiếm 23,1%; Thương mại - Dịch vụ chiếm

43,09% (theo báo cáo tình hình thực hiện 9 tháng năm 2012 và kế hoạch năm 2013).

Bảng 1. Cơ cấu sản xuất các ngành qua các giai đoạn

ĐVT: %



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(78 tr)

×