Tải bản đầy đủ - 78 (trang)
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TUYÊN HOÁ

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TUYÊN HOÁ

Tải bản đầy đủ - 78trang

Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tác động đến phát triển của

huyện Tuyên Hóa

Địa hình

Tuyên Hóa nằm về phía Tây - Nam dãy Hoành Sơn, giáp với dãy Trường Sơn, có

địa hình hẹp, độ dốc giảm (nghiêng) dần từ Tây sang Đông và bị chia cắt bởi nhiều sông,

suối, núi đá; cao trình vùng thấp từ 2 - 6 m, cao trình vùng cao từ 25 - 100 m. Địa hình

phía Tây Bắc là núi cao và thấp dần về phía Đông - Nam. Toàn huyện có thể chia thành 3

dạng địa hình chính:

- Địa hình núi cao trung bình: Phân bổ chủ yếu ở ranh giới phía Tây Bắc huyện, ở

các xã Hương Hóa, Thanh Hóa, Thanh Thạch, Kim Hóa, Ngư Hóa, Lâm Hóa, Thuận Hóa

giáp với tỉnh Hà Tĩnh và xã Cao Quảng ở vùng phía Nam huyện giáp với huyện Bố

Trạch. Địa hình vùng này có đặc điểm là núi có độ cao trung bình 300 - 400 m, một số

đỉnh có độ cao trên 700 m; địa hình bị chia cắt mạnh, sườn núi có độ dốc lớn với các khe

hẹp, lớp phủ thực vật chủ yếu là rừng nghèo và trung bình.

- Địa hình vùng gò đồi đan xen các thung lũng: Phân bổ chủ yếu dọc sông Gianh

(Rào Nậy, Rào Trổ). Bao gồm: Lê Hóa, Đồng Hóa, Thạch Hóa, Sơn Hóa, Nam Hóa,

Đồng Lê. Đặc điểm địa hình gồm các đồi có độ cao từ 20 - 50 m có nguồn gốc hình thành

từ phù sa cổ nên sườn dốc khá thoải từ 5 - 15% đan xen các thung lũng nhỏ.

- Địa hình vùng đồng bằng: Chủ yếu phân bổ ở các xã phía Đông Nam huyện

gồm: Đức, Phong, Mai, Tiến, Châu và Văn Hóa. Đồng bằng của huyện có đặc điểm nhỏ

hẹp ven sông, hàng năm thường ngập lũ nên được phù sa bồi đắp; đây là vùng trọng điểm

lúa, màu và là nguồn cung cấp lương thực chính của toàn huyện.

Khí hậu, thời tiết và thủy văn

- Khí hậu: Tuyên Hóa nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2

mùa chính, lượng mưa hàng năm bình quân khoảng 2.300 - 2.400 mm, cao nhất toàn tỉnh;

nhiệt độ bình quân 22 - 23 oC. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 9, nhiệt độ

bình quân 25 - 26,5oC, cao nhất là 39oC; do mùa khô, nhiệt độ cao lại ít mưa (lượng mưa

chiếm 30% cả năm) cùng với gió mùa Tây Nam khô nóng nên thường gây hạn hán và

cháy rừng. Tổng số giờ nắng hàng năm khoảng 1.790 giờ, chủ yếu tập trung vào tháng 5

đến tháng 9.

Mùa mưa thường bắt đầu từ giữa tháng 9 đến tháng 02 năm sau, nhiệt độ bình

32



quân 20 - 21oC, thấp nhất là 10oC. Mùa mưa có đặc điểm mưa lớn, tập trung vào tháng 9,

10, 11. Mưa lớn cộng với sườn núi dốc nên nước tập trung nhanh về các khe suối thường

gây lũ quét, lũ ống khu vực ven sông, suối ảnh hưởng đến việc trồng trọt và sinh sống

của người dân ở các khu vực này. Tổng số ngày mưa trung bình là 169 ngày/năm, chủ

yếu từ giữa tháng 9 đến tháng 11 hàng năm.

- Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình 83%, song nhìn chung không ổn

định. Vào mùa mưa, độ ẩm không khí thường cao hơn mùa khô từ 10 - 15%. Thời kỳ có

độ ẩm không khí cao nhất của huyện thường xảy ra vào tháng cuối mùa đông.

- Lượng nước bốc hơi trung bình trên địa bàn huyện là 1.059 mm. Trong mùa lạnh

lượng bốc hơi nhỏ hơn so với mùa nóng vì vậy trong các tháng từ 4 - 7 lượng bốc hơi lớn

hơn lượng mưa nên thường xảy ra khô hạn, ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển và sinh

trưởng của cây trồng.

- Gió: Tuyên Hóa chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính:

+ Mùa đông có gió mùa Đông Bắc thịnh hành thổi theo hướng Bắc - Đông Bắc.

+ Mùa hè chủ yếu gió Tây Nam khô nóng xuất hiện từng đợt, bắt đầu từ tháng 4

và kết thúc vào tháng 7. Tần suất tốc độ gió mạnh nhất trong năm: Trên 15 m/s, chiếm

59,6%; trên 20 m/s, chiếm 39,6%; trên 25 m/s, chiếm 0,8%.

- Thủy văn: Toàn huyện chịu ảnh hưởng bởi lưu vực hệ thống Sông Gianh (Rào

Nậy, Rào Trổ), Sông Nan, Ngàn Sâu, Khe Nét, Khe Núng, Khe Hà, Khe Dong, Khe Tre,

khe Hồ Bẹ… Sông ngòi của huyện có đặc điểm là ngắn và dốc nên tốc độ dòng chảy rất

lớn. Về mùa khô, nước mặn dâng lên xâm nhập đến Minh Cầm gây thiệt hại cho sản xuất

nông nghiệp.

Do có nhiều lưu vực sông lớn nên vùng thượng nguồn có thể xây dựng nhiều cụm

thủy điện công suất 5 - 15MW như Khe Rôn, Khe Nét, Rào Nan. Đoạn Sông Gianh từ

Phong Hóa về biển khá sâu và rộng đủ điều kiện cho các loại tàu thủy có tải trọng đến

1.000 tấn hoạt động.

Tuy nguồn nước dồi dào nhưng do địa hình không thuận lợi cho việc xây dựng các

hồ chứa nước lớn nên mùa khô vùng đồi núi thường bị thiếu nước.

Tài nguyên đất

Về thổ nhưỡng: Theo báo Quy hoạch sử dụng đất, toàn huyện có 115.098,44 ha.

Trong đó có 3 nhóm chủ yếu sau:

33



- Nhóm đất feralit có nguồn gốc từ đá mẹ được hình thành nội sinh hoặc sa diệp

thạch chủ yếu phân bố ở vùng đồi núi có độ dốc cao, phía trên có thảm thực vật là rừng

tự nhiên che phủ, tuy bị xói mòn mạnh nhưng độ phì tự nhiên vẫn còn khá nên khả năng

tái sinh tự nhiên bằng khoanh nuôi bảo vệ hoặc xúc tiến tái sinh rừng tốt. Nhóm đất này

thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày (cây thông), cây ăn quả (mít, xoài…),

cây lấy gỗ (keo, tràm…), trồng cỏ phát triển chăn nuôi gia súc ở quy mô vừa và nhỏ.

- Nhóm đất phù sa cổ và đất feralit chủ yếu phân bố ở các địa hình núi thấp hoặc

gò đồi ở các xã Thanh, Hương, Kim, Đồng, Lê Hóa và Cao Quảng. Tuy bị xói mòn mạnh

và bạc màu do tập quán canh tác tự phát, nhưng nhiều đất có tầng dày khá, nếu canh tác

khoa học có thể trồng cây công nghiệp ngắn ngày, trồng màu, cây ăn quả hoặc đồng cỏ

chăn nuôi gia súc tốt.

- Nhóm đất phù sa bồi đắp hàng năm phân bổ chủ yếu các vùng ven sông chính và

các thung lũng đan xen ở vùng gò đồi. Nhờ hàng năm được phù sa bồi đắp nên đất có độ

phì tự nhiên cao, tầng dày lớn, phù hợp cho việc gieo trồng lúa, ngô hoặc các loại hoa

màu, rau đậu.



34



Bảng 11. Thổ nhưỡng đất của huyện Tuyên Hóa



(Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất huyện Tuyên Hóa đến năm 2020

Trung tâm quy hoạch tài nguyên - Sở TN & MT)

Về diện tích:

Tổng diện tích tự nhiên huyện Tuyên Hóa (theo số liệu năm 2010) là 115.098,44

ha, chiếm 14,27%, xếp thứ 5 so với toàn tỉnh. Trong đó: Đất nông nghiệp: 101.504,11 ha,

chiếm 88,2%; đất phi nông nghiệp: 6.199,74 ha, chiếm 5,4%; đất chưa sử dụng: 7.394,59

ha, chiếm 6,4%.



35



Bảng 12. Diện tích đất của huyện Tuyên Hóa



(Nguồn: Số liệu Quy hoạch sử dụng đất của Trung tâm Quy hoạch Tài nguyên

Sở TN & MT Quảng Bình)

Về hiện trạng sử dụng đất và cơ cấu sử dụng đất năm 2010 như sau:

Đất nông - lâm - ngư nghiệp: Tổng diện tích 101.504,11 ha chiếm 88,2% diện tích

đất tự nhiên của huyện. Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp có 4.847,2 ha, chiếm 4,78%;

đất lâm nghiệp có 93.803,59 ha, chiếm 92,41%; đất nuôi trồng thủy sản có 48,62 ha,

chiếm 0,05%; đất nông nghiệp khác có 2.804,70 ha, chiếm 2,76% so với diện tích đất

nông nghiệp.

Bảng 13. Diện tích và cơ cấu đất nông nghiệp huyện Tuyên Hóa năm 2010



(Nguồn: Số liệu Quy hoạch sử dụng đất của Trung tâm Quy hoạch Tài nguyên

Sở TN & MT Quảng Bình)

- Đất sản xuất nông nghiệp có 4.847,20 ha, chiếm 4,21% diện tích tự nhiên toàn

huyện và chiếm 4,78% trên tổng diện tích đất nông - lâm - ngư nghiệp. Trong đó: Đất

trồng cây hàng năm có 1.695,11 ha, chiếm 35,01%; đất trồng cây lâu năm có 3.152,09 ha,

chiếm 64,99%.

- Đất lâm nghiệp có 93.803,59 ha, chiếm 81,50% diện tích đất tự nhiên toàn huyện

và chiếm 92,41% trên tổng diện tích đất nông - lâm - ngư nghiệp. Trong đó: Đất rừng sản

xuất có 62.123,60 ha, chiếm 66,24 %; đất rừng phòng hộ 31.679,99 ha, chiếm 33,76 %.

36



Đối với Tuyên Hóa, rừng đang là ưu thế cho tiềm năng phát triển kinh tế của huyện.

- Đất nuôi trồng thủy sản chỉ có 48,62 ha, chiếm 0,05% diện tích đất nông - lâm ngư nghiệp. Nhưng Tuyên Hóa có hệ thống sông ngòi chằng chịt với diện tích sông suối

và mặt nước chuyên dùng 2.351,8 ha chưa khai thác, là tiềm năng rất lớn về nuôi trồng

thủy sản nước ngọt của huyện.

Đất phi nông nghiệp: Có 6.199,74 ha, chiếm 5,4% diện tích đất tự nhiên của

huyện. Trong đó: Đất ở có 652,51 ha, chiếm 10,52%; đất chuyên dùng có 2.860,78 ha,

chiếm 46,14%; đất sông suối và mặt nước chuyên dùng có 2.351,8 ha, chiếm 37,93%; đất

nghĩa trang nghĩa địa có 319,29 ha, chiếm 5,15%; đất tôn giáo có 6,8 ha, chiếm 0,11%;

đất phi nông nghiệp khác (đất bãi thải, đất di tích…) có 8,56 ha, chiếm 0,14%.

Bảng 14. Diện tích và cơ cấu đất phi nông nghiệp năm 2010



(Nguồn: Số liệu Quy hoạch sử dụng đất của Trung tâm Quy hoạch Tài nguyên

Sở TN & MT Quảng Bình)

Đất chưa sử dụng

Có 7.394,59 ha, chiếm 6,40% diện tích đất tự nhiên của huyện. Trong đó phân bố

rải rác ở các xã Kim Hóa: 909,11 ha; Cao Quảng: 708,83 ha; Lâm Hóa: 629,59 ha; Thạch

Hóa: 554,02 ha…

Tóm lại: Tuyên Hóa là huyện có diện tích đất lâm nghiệp có tỷ trọng chiếm

92,41% trên tổng diện tích đất nông nghiệp, cho thấy điều kiện phát triển các nghề rừng

của huyện còn lớn. Đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 4.847,2 ha, nhưng hầu hết diện tích

đã đưa vào khai thác nên khả năng mở rộng sản xuất nông nghiệp rất hạn hẹp. Hiện nay

chỉ còn một số diện tích đất chưa sử dụng, chủ yếu là đất gò đồi phù hợp với trồng cây

công nghiệp dài ngày. Vì vậy huyện cần lưu ý hạn chế việc chuyển đất sản xuất nông

nghiệp, nhất là đất trồng lúa vào mục đích khác.

37



Về tình hình sử dụng đất

Cơ cấu sử dụng đất của huyện chuyển dịch theo hướng hợp lý, phù hợp với điều

kiện tự nhiên. Phần lớn diện tích đất đã được khai thác đưa vào sử dụng cho các mục

đích, trong đó đất sử dụng phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, đất chưa sử dụng đã được

đưa vào khai thác triệt để nên chỉ còn 7.412 ha. Cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ đất nông

nghiệp khá hợp lý: Đất trồng cây công nghiệp, cây ăn quả đang có hướng mở rộng, đất

nuôi trồng thủy sản đang được khai thác ngày càng cao…

Tuy nhiên, phần đất bố trí cho sử dụng phi nông nghiệp còn thấp, nhất là đất cho

hạ tầng cơ sở, đất cho sản xuất công nghiệp, đất cho các công trình phúc lợi xã hội… còn

thấp. Tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, không theo quy hoạch còn phổ biến.

Tài nguyên nước

Với số lượng sông suối phân bố dày đặc và rộng lớn, huyện Tuyên Hóa có tiềm

năng về nguồn nước ngọt rất lớn. Hiện tại huyện có 3 dòng sông lớn chảy qua: Sông

Gianh (hai nhánh: Rào Trổ, Rào Nậy); Sông Nan; sông Ngàn Sâu và có nhiều suối nhỏ.

Nguồn tài nguyên này trong thời gian qua vẫn chưa được khai thác sử dụng đúng mức,

chỉ mới sử dụng một lượng nhỏ phục vụ cho tưới tiêu trong nông nghiệp. Các sông suối

của huyện có trữ lượng nước lớn, độ dốc cao, có khả năng để xây dựng các nhà máy thủy

điện. Hiện trên địa bàn đã xây dựng nhà máy thủy điện Hố Hô và đang tiếp tục khảo sát

để xây dựng nhà máy thủy điện Rào Trổ, Khe Nét. Tài nguyên nước của huyện thể hiện

như sau:

- Nguồn nước mặt: Phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa tự nhiên, bình quân 2.181

mm/năm, một phần được lấy từ Sông Gianh, sông Rào Trổ,... Ngoài ra còn có các hồ đập

nhỏ khác phục vụ cho sinh hoạt và tưới tiêu của nhân dân.

- Nguồn nước ngầm: Nước ngầm ở đây thường sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô,

ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng.

Tài nguyên rừng và đất rừng



38



Bảng 15. Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp



(Nguồn: Số liệu Quy hoạch sử dụng đất của Trung tâm Quy hoạch Tài nguyên

Sở TN & MT Quảng Bình)

Theo tài liệu kiểm kê đất đang sử dụng đến ngày 01/01/2010, huyện Tuyên Hóa có

93.803,6 ha đất lâm nghiệp, chiếm 92,41% trong tổng diện tích đất nông nghiệp. Trong

đó: Rừng phòng hộ 31.679,99 ha, chiếm 33,8%; rừng sản xuất 62.123,6 ha, chiếm 66,2%

so với diện tích đất lâm nghiệp. Trong đó:

Diện tích rừng trồng tập trung của huyện năm 2010 đạt 771 ha, chiếm 0,8% so với

diện tích đất lâm nghiệp; diện tích rừng được khoanh nuôi, phục hồi đạt 1.500 ha, chiếm

1,6%; diện tích rừng được bảo vệ đạt 40.000 ha, chiếm 42,6%/tổng diện tích đất lâm

nghiệp. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 73%.

Diện tích rừng được phân bố ở tất cả các xã và thị trấn trong huyện, song

phân bố nhiều ở các xã Cao Quảng: 9.516,13 ha; Ngư Hóa: 5.789,39 ha; Thạch Hóa

4.019,91 ha; Thanh Hóa: 3.091,04 và Lâm Hóa: 3.526,8 ha... Diện tích rừng của

huyện góp phần giữ nước đầu nguồn, hạn chế quá trình dòng lũ xói mòn đất, duy trì

cảnh quan và bảo vệ môi trường.

Thảm thực vật ở đây rất đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loại gỗ quý như

lim xanh, đinh, gụ, pơmu… và nhiều loại thú quý hiếm như dê sừng thẳng, trĩ sao, gà lôi,

các loại bò sát và các loài thú móng guốc khác.

Rừng Tuyên Hóa có hệ động thực vật quý hiếm, nằm trong hệ vườn Quốc gia

Phong Nha - Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên thế giới, không những có tiềm năng về phát

triển kinh tế mà còn có khả năng mở rộng phát triển du lịch sinh thái, du lịch thám hiểm.



39



Tài nguyên khoáng sản

Theo số liệu điều tra của ngành Địa chất thì Tuyên Hóa là huyện có nhiều loại

khoáng sản quý hiếm và quan trọng, có loại có trữ lượng rất lớn. Tỉnh đã có quyết định số

68/2005/QĐ-UBND ngày 30/12/2005 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt quy

hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm

2015, theo đó huyện Tuyên Hóa có nhiều loại khoáng sản được phép thăm dò, khai thác.

Cụ thể như sau:

- Nhóm khoáng sản kim loại:

+ Mỏ vàng: Có ở Khe Nang (Kim Hóa) có trữ lượng khoảng 3.555 kg; Khe Đập

(Thuận Hóa) có trữ lượng khoảng 3.263 kg; khe Đá Trắng (Thuận Hóa) có trữ lượng

khoảng 3.154 kg; Suối Kim (Ngư Hóa) có trữ lượng khoảng 1.627 kg. Hiện nay tỉnh đã

có chủ trương cho Công ty Quảng Thông thăm dò khảo sát.

+ Mỏ sắt: Có ở Xóm Trúc (Tiến Hóa), Kim Lũ (Kim Hóa); Thôn 4 xã Đức Hóa,

trữ lượng khoảng 0,015 triệu tấn; Đường 15 xã Hương Hóa, trữ lượng khoảng 0,06 triệu

tấn; Đường 15 xã Kim Hóa, trữ lượng khoảng 0,028 triệu tấn. Riêng quặng sắt ở Xóm

Trúc có hàm lượng trên 40% Fe203 với trữ lượng khoảng 98.000 tấn và đang được khai

thác để làm phụ gia sản xuất xi măng

+ Mangan: Kéo dài từ Kim Hóa đến Nam Hóa khoảng 25 km, rộng khoảng vài

trăm mét, dày khoảng 2,5 m. Hàm lượng mangan trung bình khoảng 30%, với trữ lượng

khoảng 122.000 tấn.

- Nhóm khoáng sản phi kim:

+ Đá vôi: Có trên 2.100 ha, chủ yếu là các mỏ đá vôi có hàm lượng CaCO 3 cao

trên 55%, làm nguyên liệu để sản xuất xi măng và bột đá vôi chất lượng cao, được phân

bố chủ yếu dọc theo nguồn sông Rào Nậy. Theo quy hoạch xi măng đến năm 2020 và

theo đề xuất của các nhà đầu tư, UBND tỉnh đã cấp giấy phép sản xuất xi măng ở khu

vực Phong, Mai, Tiến, Văn Hóa với quy mô đến 10 triệu tấn/năm; có 2 nhà đầu tư sản

xuất bột CaCO3 chất lượng cao với công suất mỗi nhà máy 200.000 - 250.000 tấn/năm.

+ Sét xi măng: Có ở Mai Hóa, với trữ lượng khoảng 13,281 triệu tấn; có ở xã Cao

Quảng với trữ lượng khoảng 0,12 triệu tấn.

+ Đá xây dựng: Có thể nói Tuyên Hóa là nguồn cung cấp đá xây dựng cho thị

40



trường Bắc Quảng Bình. Các mỏ đá xây dựng được phân bổ dày và rải đều trên nhiều

vùng của huyện Tuyên Hóa. Theo Quyết định số 32/2011/QĐ-UBND, ngày 22 tháng 12

năm 2011 của Ủy ban nhân tỉnh Quảng Bình thì các mỏ sau đây được đưa vào quy hoạch:

Lèn Ông Bắc, xã Hương Hóa; hung Cá Tràu, xã Kim Hóa; lèn Minh Cầm, xã Phong Hóa;

lèn Lâm Hóa, xã Lâm Hóa; hung Ba Tâm, xã Thuận Hóa; Xuân Canh, xã Thuận Hóa;

Lèn Ong, xã Đồng Hóa; lèn Cụt Tai, xã Đức Hóa; lèn Cây Trỗ (hung Mè), xã Thạch Hóa;

lèn Thống Lĩnh, xã Hương Hóa; Lèn Vịnh, xã Văn Hóa; Lèn Hung, xã Châu Hóa; hung

Đồng Thọ, xã Cao Quảng; Thượng Lào, xã Thuận Hóa; lèn Mimh Cầm, xã Châu Hoá;

lèn Đồng Hung, xã Cao Quảng.

+ Cát xây dựng: Với lượng cát hàng năm được bổ sung trên dòng Sông Gianh khá

lớn, do đó Tuyên Hóa có nguồn cát đáp ứng cho nhu cầu xây dựng trong huyện và cung

cấp cho Quảng Trạch và Minh Hóa. Theo Quyết định số 32/2011/QĐ-UBND, ngày 22

tháng 12 năm 2011 của Ủy ban nhân tỉnh Quảng Bình về việc điều chỉnh quy hoạch

khoáng sản thì Tuyên Hóa có một số mỏ cát được phép khảo sát thăm dò và khai thác

như sau: Mỏ cát Ba Tâm, Đồng Lào xã Thuận Hóa; mỏ cát Thượng nguồn Thác Dài, Khe

Còi xã Đồng Hóa; mỏ cát Hạ Đình, Bãi Nèng, Cồn Sỏi xã Thạch Hóa; mỏ cát Sảo phong,

Minh Cầm xã Phong Hóa; mỏ cát Đuồi 27 xã Mai Hóa; mỏ cát Bãi Bơi xã Tiến Hóa; mỏ

cát Bãi Rì Rì xã Văn Hóa; mỏ cát Rào Trổ xã Ngư Hóa.... Đây là ưu thế tốt của huyện.

+ Phosphorit: Có tại Kim Lũ, xã Kim Hoá, hiện nay đang được nghiên cứu.

- Ngoài ra trên địa bàn xã Đức Hóa có mỏ đá cao silic với trữ lượng khoảng 0,3

triệu tấn; Wonfram ở Kim Lũ xã Kim Hóa đang được nghiên cứu...

Tóm lại Tuyên Hóa là huyện có lượng khoáng sản đa dạng và nhiều loại có trữ

lượng lớn, cho phép phát triển các ngành công nghiệp đa dạng.

Tài nguyên du lịch

Tuyên Hóa là một huyện miền núi với nhiều địa danh đã đi vào huyền thoại như

Cao Mại, Minh Cầm, Đồng Lê, Kim Lũ, chợ Cuồi... cùng với các di tích lịch sử như Lèn

Hà, lèn Khe Vi, hang 12 chiến sỹ bị chết tại xã Thanh Hóa... là điều kiện thuận lợi để

phát triển du lịch

Tuyên Hóa có lễ hội đua thuyền truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc, có ý

nghĩa lớn về mặt lịch sử văn hóa, có tác dụng giáo dục truyền thống yêu nước, yêu quê

hương, động viên lao động và hấp dẫn khách du lịch.

41



Tuyên Hóa có nguồn tài nguyên văn hóa độc đáo giàu chất dân gian như: Hò Kiều,

ca trù…

Rừng Tuyên Hóa có thảm thực vật đa dạng, với hệ thống núi đá vôi hiểm trở là nơi

sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã, do đó rất có khả năng phát triển du lịch sinh

thái, du lịch thám hiểm…

Tài nguyên nhân văn

Theo số liệu thống kê năm 2011, dân số Tuyên Hóa có 78.042 người (trong đó nữ

38.679 người), với mật độ 68 người/km 2. Toàn huyện có 7 dân tộc cùng chung sống.

Trong đó dân tộc Kinh có 77.193 người, dân tộc Vân Kiều có 5 người, dân tộc Tày có 4

người, ngoài ra có các dân tộc như Mường, Sách, Chứt, Mã Liềng.

Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Tuyên Hóa được coi là căn cứ địa

cách mạng của tỉnh Quảng Bình, con người Tuyên Hóa cùng với các địa danh: Cao Mại,

Minh Cầm, Đồng Lê, Kim Lũ, Đò Vàng, Chợ Cuồi... đã mãi mãi đi vào lịch sử như một

huyền thoại.

Ngày nay, trong quá trình đổi mới và phát triển của đất nước, người Tuyên Hóa

luôn vươn lên trong học tập, tỷ lệ con em của huyện đỗ đạt vào đại học ngày càng cao;

trong lao động sản xuất có nhiều điển hình về chăn nuôi lợn, nuôi ong, xây dựng kinh tế

vườn đồi, vườn rừng, trồng cây công nghiệp…

Tuyên Hóa có nguồn tài nguyên nhân văn độc đáo giàu chất dân gian. Hiện nay

nhiều làng, xã còn lưu giữ được các hoạt động như: CLB Hát Kiều (Lâm Lang - Châu

Hóa); CLB hát Dân ca (Tam Đồng - Đồng Lê).

2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội

2.1.2.1. Kết cấu hạ tầng

Đến nay, toàn huyện đã phủ lưới điện quốc gia, với trên 80% số hộ có điện lưới.

Hệ thống cung cấp nước do nhà máy nước Đồng Lê đảm trách. Mạng lưới giao thông

gồm đường sông, đường sắt, đường bộ. Trong đó, giao thông đường thuỷ, đoạn từ Văn

Hoá đến Minh Cầm có thể hoạt động đối với tàu thuyền có trọng tải 50-100 tấn, đoạn từ

Minh Cầm đến Thuận Hoá có thể hoạt động đối với tàu thuyền có tải trọng 20-30 tấn ; hệ

thống đường sắt Bắc Nam chạy suốt chiều dài huyện Tuyên Hoá với 62 km, qua 9 ga; hệ

thống giao thông đường bộ với quốc lộ 12A chạy qua Tuyên Hoá dài 42 km, nối liền

42



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TUYÊN HOÁ

Tải bản đầy đủ ngay(78 tr)

×