Tải bản đầy đủ - 78 (trang)
2 Thực trạng triển khai dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng trong chương trình 135 huyện Tuyên Hoá

2 Thực trạng triển khai dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng trong chương trình 135 huyện Tuyên Hoá

Tải bản đầy đủ - 78trang

gắn biển ghi tên công trình thuộc Chương trình 135 và các thông tin cơ bản của đơn vị

chủ đầu tư, đơn vị thi công, tổng vốn đầu tư, thời gian khởi công và hoàn thành.

2.2.1.2 Cấp quyết định đầu tư

UBND huyện là cấp quyết định đầu tư các công trình hạ tầng thuộc chương trình 135.

2.2.1.3 Kế hoạch đầu tư

- Quý II hằng năm, UBND xã căn cứ danh mục các công trình được đầu tư quy

định tại điểm a khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-UBDT-NNPTNTKHĐT-TC-XD và danh mục các công tình trong kế hoạch tổng thể, thông báo và tổ chứ

lấy ý kiến tham gia của nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội để rà soát danh mục, địa

điểm , mức vốn, quy mô công trình; sắp xếp thứ tự ưu tiên, xác định công trình cụ thể vào

kế hoạch thực hiện năm sau, tổng hợp thông qua Thường trực Hội đồng nhân dân xã,

trình UBND huyện phê duyệt.

- Căn cứ danh mục công trình đã được UBND huyện phê duyệt, chủ đầu tư tổ

chức lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình, kèm theo kế hoạch đấu thầu

trình Chủ tịch UBND huyện phê duyệt.

2.2.1.4 Lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật

- Lập báo cáo kinh tê – kĩ thuật (KT-KT):

+ Kinh phí lập Báo cáo KT-KT được bố trí trong kế hoạch năm từ nguồn kinh phí

đầu tư cho dự án thuộc chương trình 135;

+ công trình thuộc dự án đầu tư cơ sở hạ tầng tại các xã, thôn thuộc Chương trình

135 có thời gian thực hiện không quá 2 năm hoặc có giá trị công trình dưới 3 tỷ đồng

(không bao gồm tiền sử dụng đất) chỉ cần lập Báo cáo KT-KT; đối với công trình có mức

vốn đầu tư từ 3 tỷ đồng đến dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất) hoặc có

yêu cầu kỹ thuật cao (do chủ đầu tư quyết định), chủ đầu tư phải lập Báo cáo KT-KT và

phê duyệt sau khi có ý kiến thẩm định của cơ quan quản lý chuyên nghành;

+ Trong quá trình lập Báo cáo KT-KT các công trình cơ sở hạ tầng, chủ đầu tư

(trong trường hợp tự lập hoặc thuê đơn vị tư vấn) phải lấy ý kiến của cộng đồng (những

người hưởng lợi trực tiếp và có trách nhiệm đóng góp xây dựng công trình) về các nội

dung đầu tư và cơ chế huy động nguồn lực đầu tư thực hiện dự án;

+ Báo cáo KT-KT xây dựng công trình và Kế hoạch đấu thầu do chủ đầu tư tự lập

50



hoặc lựa chọn tổ chức, đơn vị có đủ năng lực thực hiện;

+ Quản lý chi phí đầu tư công trình cơ sở hạ tầng thuộc chương trình 135 thực

hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ xây dựng;

- Thẩm định, phê duyệt Báo cáo KT-KT:

+ Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định trước khi trình cấp có thẩm quyền

phê duyệt báo cáo KT-KT đầu tư xây dựng công trình;

+ Đối với công trình do huyện làm chủ đầu tư, UBND huyện giao cơ quan chuyên

môn tổ chức thẩm đinh báo cáo KT-KT;

+ Đối với những công trình do xã làm chủ đầu tư: UBND huyện có trách nhiệm

thẩm định báo cáo KT-KT trước khi phê duyệt;

+ Thời gian thẩm định báo coá KT-KT: không quá 10 ngày làm việc kể từ khi

nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với các công trình so huyện làm chủ đầu tư; không quá 07 ngày

làm việc đối với những công trình do xã làm chủ đầu tư;

2.2.1.5 Thực hiện đầu tư xây dựng công trình

- Lựa chọn nhà thầu xây dựng thực hiện theo 3 hình thức sau:

+ Giao cộng đồng dân cư ( những người hưởng lợi trực tiếp từ công trình) tự thực

hiện xây dựng;

+ Lựa chọn nhóm thợ, cá nhân (ưu tiên trong xã) đủ năng lực để thực hiện;

+ Lựa chọn nhà thầu thông qua hình thức đấu thầu;

Quy đinh cụ thể về quy trình, hình thức chọn nhà thầu, đấu thầu và hợp đồng xây

dựng thực hiện theo quy định hiện hành.

- Các trường hợp được phép chỉ định thầu:

+ Gói thầu có tổng mức đầu tư dưới 3 tỷ đồng

+ Gói thầu thực hiện cấp bách đẻ khắc phục hậu quả thiên tia, bão lụt;

+ Gói thầu đã tổ chức đấu thầu nhưng chỉ có 1 nhà thầu tham gia;

+ Gói thầu thực hiện bằng hình thức khoán gọn theo đơn vị sản phẩm nhằm huy

động sức lao động của dân, do dân tự tổ chức thực hiện, Ngân sách Nhà nước hỗ trợ dưới

70% số vốn đầu tư, có Báo cáo KT-KT đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Các trường hợp đặc biệt khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định;

- Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu xây dựng:

Chủ tịch UBND huyện phê duyệt hoặc uỷ quyền phê duyệt các kết quả đấu thầu

51



theo đề nghị của chủ đầu tư.



52



2.2.1.6 Giám sát hoạt động xây dựng

- Giám sát của Chủ đầu tư: Chủ đầu tư tổ chức thực hiện giám sát thi công, trách

nhiệm giám sát của Chủ đầu tư thực hiện theo Điều 24 của Nghị định số 15/2013/NĐ-CP

ngày 06/2/2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng;

- Giám sát cộng đồng: Thực hiện theo quy định của Quyết định số 80/2005/QĐTTg ngày 14/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế giám sát đầu tư cộng đồng và

Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-KHĐT-UBTƯMTTQVN-TC ngày 04/12/2006 của

Bộ KH&DDT, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Bộ Tài chính hướng

dẫn thực hiện Quy chế giám sát đàu tư của cộng đồng. Kinh phí hoạt động của Ban giám

sát đầu tư cộng đồng được thực hiện theo quy định tại phần IV Thông tư Liên tịch số

04/2006/TTLT-KH&ĐT-UBTƯMTTQVN-TC ngày 04/12/2006.

Những công trình đầu tư có quy mô nhỏ (có giá trị dưới 500 triệu đồng), thiết kế

kỹ thuật đơn giản mà chủ đầu tư giao cho ban giám sát đầu tư của cộng đồng tổ chức

giám sát thi công xây dựng công trình; ban giám sát đầu tư của cộng đồng được hưởng

định mức chi phí giám sát thi công xây dựng công trình, tối đa không vượt định mức

giám sát thi công xây dựng công trình do UBND cấp tỉnh quy định; trường hợp UBND

cấp tỉnh chưa quy định định mức giám sát thi công công trình xây dựng thì được áp dụng

định mức do Bộ Xây dựng công bố;

2.2.1.7 Nghiệm thu, bàn giao, quản lý khai thác công trình

- Nghiệm thu, bàn giao công trình: Chủ đầu tư tổ chức nghiệm thu công trình hoàn

thành; thành phần tham gia nghiệm thu gồm:

+ Đại diện chủ đầu tư;

+Đại diện tổ chức tư vấn lập Báo cáo T-KT;

+ Đại diện tổ chứ, đơn vị thi công;

+ Đại diện giám sát của chủ đầu tư, đại diện giám sát cộng đồng;

+ Đại diện tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng công trình;

+ Đại diện cộng đồng dân cư hưởng lợi công trình.

Tuỳ từng trường hợp cụ thể, chủ đầu tư có thể mời thêm thành phần có liên quan

tham gia nghiệm thu.

- Sau khi nghiệm thu, chủ đầu tư bàn giao công trình cho UBND xã để giao cho tổ

53



chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý sử dụng và bàn giao ít nhất 01 bộ hồ sơ, tài liệu có

liên quan đến công trình cho UBND xã; thông báo công khai giá trị công trình được

quyết toán tới người dân.

2.2.1.8 Duy tu, bảo dưỡng công trình

Những công trình hạ tầng có tính chất sử dụng cho khu vực liên xã, không do

UBND xã quản lý thì việc duy tu bảo dưỡng do các đơn vị được giao quản lý thực hiện từ

nguồn duy tu bão dưỡng hằng năm.

- Những công trình và hạng mục công trình phục vụ kinh doanh dịch vụ hoặc phục

vụ lợi ích cho hô và nhóm hộ do người sử dụng quản lý, tự duy tu bảo dưỡng.

- Những công trình hạ tầng phục vụ lợi ích chung trong phạm vi xã, thôn do cấp

có thẩm quyền giao cho UBND xã quản lý được sử dụng vốn hỗ trợ duy tu, bão dưỡng

của Chương trình 135 và các nguồn tài chính hợp pháp khác để thực hiện.

Hàng năm, UBND xã lập kế hoạch duy tu bảo dưỡng các công trình do xã

quản lý, sử dụng, trình UBND huyện phê duyệt. Vốn duy tu bảo dưỡng được giao thành 1

khoản riêng trong ngân sách của xã. UBND xã là chủ đầu tư nguồn vốn duy tu bảo dưỡng

của xã, trên cơ sở vốn được phân bổ, giao cho BQL dự án xã (nếu có) hoặc thôn có công

trình duy tu bảo dưỡng lập dự toán chi tiết các nguồn vốn: hỗ trọ của ngân sách nhà nước,

huy động vật tư, lao động trong cộng đồng trình chủ đầu tư phê duyệt. Giá cả vật tư, lao

động được tính theo mặt bằng giá tại khu vực xã do chủ đầu tư quyết định. Tuỳ theo tính

chất công việc, trưởng thôn tổ chức nhân dân trong thôn tự duy tu, bảo dưỡng hoặc thành

lập tổ, nhóm duy tu, bảo dưỡng. Chủ đầu tư ký hợp đồng và tổ chức nghiệm thu, thanh

toán với đại diện tổ, nhóm thực hiện có xác nhận của trưởng thôn.

2.2.1.9 Tổ chức quản lý dự án, công trình

- Công trình đầu tư có tính chất liên hoàn, sử dụng trên phạm vi liên xã hoặc công

trình có yêu cầu kỹ thuật cao giao cấp huyện làm chủ đầu tư.

- Công trình do một xã quản lý sử dụng, giao cho cấp xã làm chủ đầu tư. UBND

xã quyết định thành lập BQL dự án. BQL dự án có tư cách pháp nhân, được phép mở Tài

khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện và sử dụng con dấu của UBND xã để giao dịch.

Thành phần BQL dự án bao gồm: Trưởng ban là Chủ tịch UBND xã (hoặc Phó Chủ tịch

UBND xã) làm việc kiêm nhiệm; kế toán; các thành viên khác gồm một số cán bộ đoàn

đại diện các ban, ngành trong xã, trưởng thôn, một số hộ đại diện cho cộng đồng dân cư

54



trong xã.

- Trường hợp xã khó khăn trong việc làm chủ đầu tư, UBND huyện có trách

nhiệm cử cán bộ chuyên môn giúp xã hoặc tham gia BQL dự án cấp xã để xã có đủ năng

lực làm chủ đầu tư.

- Nhiệm vụ của chủ đầu tư và BQL dự án: Thực hiện theo quy định tại nghị định

12/2009/NĐ-CP ngày 12/9/2009 của Chính phủ về Quản lý đầu tư xây dựng công trình.

2.2.2 Công tác triển khai thực hiện

Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng là một dự án quan trọng, có nguồn vốn đầu tư

lớn nhất trong chương trình 135 của Chính phủ. Đối với các dự án này UBND huyện phê

duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật, UBND xã phê duyệt thiết kế bản vẽ, thiết kế kỹ thuật,

thiết kế bản vẽ thi công và dự toán.

Về lựa chọn nhà thầu xây lắp: UBND huyện phê duyệt hồ sơ mời thầu, phê duyệt

kết quả lựa chọn nhà thầu và kết quả đấu thầu. UBND xã phê duyệt hồ sơ yêu cầu (trong

xét chỉ định thầu), tổ chức đấu thầu, xét thầu.

Về phân cấp xã làm chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng:

+ Năm 2010: xã chủ đầu tư 9/9 xã và 11 thôn đặc biệt khó khăn thuộc 7 xã khu

vực II đều do xã làm chủ đầu tư.

+ Từ năm 2012 trên địa bàn huyện có 12 xã thuộc diện được hưởng chương trình

135 và 12/12 xã được phân cấp làm chủ đầu tư.

* Thực hiện nguyên tắc dân chủ, công khai và sự tham gia của nhân dân.

Việc lựa chọn công trình xây dựng đã bám vào đề án phát triển kinh tế - xã hội

thuộc chương trình 135 được thông qua hội nghị tại các thôn bản và thông qua hội nghị

HĐND xã quyết định.

UBND xã đã thành lập ban giám sát xã, thành viên của ban giám sát có đại diện

Thường trực HĐND xã, tổ chức mặt trận và các tổ chức đoàn thể, do Chủ tịch HĐND xã

làm trưởng ban. Phối hợp với cán bộ của cơ quan tư vấn giám sát để chỉ đạo thi công

đảm bảo chất lượng công trình.

Về nguyên tắc xã có công trình, dân có việc làm: Nhìn chung một số lao động địa

phương đã làm công cho nhà thầu để nhận tiền công; Người dân sản xuất vật liệu như cát,

sạn theo hợp đồng với nhà thầu, do điều kiện không đủ vốn, kỷ thuật để đảm nhận các

hạng mục công trình nên phần lớn công trình chưa khoán gọn cho người dân địa phương

55



làm. Số ngày công người địa phương tham gia chiếm khoảng 10 - 15 % tổng số ngày

công của mỗi công trình. Tiền công được nhà thầu trả cơ bản theo dự toán được duyệt và

theo thoả thuận (khoảng 80.000 đồng đến 90.000 đồng/người/ngày đối với lao động

thường và 100.000 đồng đến 120.000 đồng/người/ngày đối với lao động kỹ thuật).

* Cơ chế quản lý khai thác công trình sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng.

UBND huyện thường xuyên yêu cầu các địa phương hưởng lợi có kế hoạch cụ thể

để tổ chức quản lý sử dụng công trình có hiệu quả; bảo vệ, duy tu bảo dưỡng thường

xuyên để sử dụng lâu dài. Các xã đã huy động khoảng 500 ngày công/ năm để duy tu bảo

dưỡng công trình. Giá trị ước tính khoảng trên 80 triệu đồng/ năm. Sử dụng có hiệu quả

vốn duy tu bảo dưỡng để sửa chữa, nâng cấp các công trình bị xuống cấp.

* Công tác tuyên truyền về chương trình 135.

UBND huyện đã chỉ đạo các ngành liên quan, UBND các xã, thị trấn đẩy mạnh

công tác tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, các cơ chế hoạt động của chương trình để

người dân hiểu tạo sự đồng thuận cao trong việc triển khai thực hiện chương trình.

2.2.3 Kết quả thực hiện các hạng mục công trình

Xây dựng cơ sở hạ tầng là những công trình mang tính chất lâu dài. Từ năm

2006 – 2012 trên địa bàn huyện đã triển khai xây dựng mới 65 công trình thuộc các hạng

mục, và duy tu bão dưỡng 25 công trình thuộc đề án của chương trình 135. Trong đó:

Bảng 16: Kết quả thực hiện các hạng mục công trình

ĐVT: Triệu đồng

Hạng mục

Giao thông

Mạng lưới điện

Trường học

Trạm y tế

Thuỷ lợi

Sinh hoạt cộng đồng

Nước sinh hoạt



Số lượng

công trình

42

5

18

2

10

9

4



Xây dựng

mới

33

5

11

2

6

5

3



Duy tu,

bảo dưỡng

9

0

7

0

4

4

1



Vốn

22,560.70

2,743.30

7,509.40

2,868

2,848.30

2,677.00

858.20



Tiếp nối với Chương trình 135 giai đoạn I và II, chương trình 135 giai đoạn III

đang được triển khai có hiệu quả, tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng khá đồng bộ, thay đổi

diện mạo của huyện Tuyên Hoá.

Về Giao thông:

56



Hệ thống giao thông là yếu tố hết sức quan trọng trong phát triển KTXH của các

xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi cư trú của đồng bào dân tộc ít người... vì đó là điều

kiện để đưa người nghèo tiếp cận với thị trường, tiếp cận với văn minh bên ngoài, và tạo

điều kiện để người dân phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ được đầu tư từ nguồn vốn chương

trình 135, kết hợp với các dự án, chương trình nông thôn mới và các nguồn cứng hoá

nông thôn trong những năm qua các tuyến đường liên thôn, đường nội vùng, đường giao

thông nông thôn đã dần dần được xây dựng mới hoặc duy tu bảo dưỡng và kiên cố hoá.

Từ năm 2006 – 2012 dự án đã triển khai xây dựng mới 33 công trình giao thông và duy

tu, bão dưỡng 9 công trình trên địa bàn huyện với tổng mức kinh phí là 22.560,7 triệu

đồng. chiếm hơn 50% trong tổng số vốn đầu tư.

Xuất phát từ hệ thống hạ tầng giao thông thiếu và yếu nghiêm trọng, nhờ việc triển

khai dự án hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng của chương trình 135 và thực hiện lồng ghép

với các chương trình mục tiêu quốc gia khác, huyện đã nhanh chóng phát triển được hệ

thống cơ sở hạ tầng giao thông.

Về hệ thống lưới điện

Mạng lưới cung cấp điện đã được xây dựng trên toàn bộ địa bàn huyện, hiện nay

20/20 xã thị trấn đều được dùng điện lưới quốc gia. Số hộ dân dùng điện lưới quốc gia

tăng nhanh, đến nay đã đạt 95% số hộ. Mức tiêu thụ điện năng cũng không ngừng tăng,

tỷ lệ điện năng phục vụ sản xuất công nghiệp tăng nhanh trong cơ cấu tiêu dùng điện.

Tổng số vốn của chương trình 135 hỗ trợ cho việc duy tu hệ thống lưới điện còn hạn chế,

chỉ hỗ trợ cho 5 công trình xây dựng mới đường dây điện tập trung chủ yếu trên địa bàn

xã Lâm Hoá.

Về Thuỷ lợi

Công trình thuỷ lợi có vai trò rất quan trọng trong phát triển nền nông nghiệp trên

địa bàn huyện. Dự án hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng đã đóng góp cho huyện Tuyên Hoá 6

công trình thuỷ lợi xây dựng mới và duy tu, bão dưỡng 4 công trình, với tổng số vốn là

2.848,3 triệu đồng. Xây dựng nhiều hồ đập nhỏ, nhiều công trình thuỷ lợi phục vụ cho



57



sản xuất nông nghiệp, tăng diện tích canh tác và năng suất cây trồng, giảm đáng kể việc

phá rừng làm nương rẫy ở các xã vùng cao, đặc biệt là cây lúa nước được đưa vào sản

xuất đại trà ở hầu hết các xã trong huyện.



Toàn huyện có 136 công trình, trong đó có 01 công trình thủy lợi do công ty

TNHH Khai thác các công trình thủy lợi quản lý, 135 công trình do Nhà nước và nhân

dân quản lý (trong đó: 8 hồ chứa, 24 trạm bơm điện, 103 đập dâng và 102 km kênh

mương); năng lực thiết kế tưới 1.223 ha, nhưng thực tế tưới 972 ha đạt 79,48%.

Về cấp nước sinh hoạt.

Chương trình 135 đã mang lại cho huyện thêm 4 công trình cấp nước sinh hoạt

cho xã Cao Quảng, xã Thanh Thạch và xã Văn Hoá. Với số vốn đầu tư còn hạn chế 858,2

triệu đồng. Các công trình nước sạch đã vốn đã được đầu tư từ nhiều năm, nhưng do

không được duy tu, bão dưỡng tốt nên đang xuống cấp trầm trọng. Đa số người dân sử

dụng giếng khơi, nhưng về mùa khô thường bị cạn kiệt. Chính vì vậy, không đảm bảo

được nhu cầu cho người dân.

Về trường học.

Được sự quan tâm về mặt ngân sách và sự đóng góp thiết thực của xã hội, kể cả

nguồn tài trợ từ các dự án bên ngoài, nhất là từ chương trình kiên cố hóa trường học;

chương trình hỗ trợ giáo dục miền núi; chương trình 135; chỉ thị 09 của Thường vụ

huyện ủy và kế hoạch 230 của UBND huyện Tuyên Hóa về kiên cố hóa trường học... hệ

thống trường, lớp, nhà công vụ cho giáo viên tiếp tục được đầu tư xây dựng. Đến nay

toàn huyện có 401/672 phòng học kiên cố, số còn lại là phòng học cấp 4. Riêng chương

trình 135 từ năm 2006 – 2012 đã hỗ trợ nguồn vốn xây dựng mới được trường mầm non

Lê Hoá năm 2009, trường Tiểu học Quảng Hoá vào năm 2010, trường THCS Cao Quảng,

trường TH trung tâm xã Cao Quảng, trường TH Trường Sơn, trường TH trung tâm xã

Thanh Thạch, Trường Mầm non Ba Tâm và Trường Mầm non trung tâm xã Thuận Hoá.

Thực hiện duy tu, bảo dưỡng cho 7 công trình trường học khác trên địa bàn huyện. Do tỷ

lệ sinh toàn huyện giảm, dẫn tới số lượng học sinh bậc tiểu học và mầm non đều giảm

mạnh. Tuy nhiên, tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường vẫn tăng. Chất lượng giáo

dục đào tạo không ngừng được cải thiện và nâng cao, đã áp dụng các phương pháp dạy

58



và học mới vào chương trình giảng dạy.

Về y tế

Mạng lưới y tế từ trung tâm đến các xã, thị trấn trong huyện đều được xây dựng,

nâng cấp, trang thiết bị phục vụ cho công tác khám chữa bệnh đã được chú trọng đầu tư.

Hệ thống hạ tầng y tế của huyện tương đối ổn định, chính vì vậy nguồn vố hỗ trợ cho

hạng mục y tế chỉ chiếm 6,82% cho 2 công trình xây dựng trạm y tế xã Thanh Hoá và

xây dựng trạm y tế xã Thanh Thạch, là những địa bàn còn thiếu thốn về hạ tầng y tế.

Về công trình sinh hoạt cộng đồng.

Có 5 công trình xây dựng mới và 4 công trình duy tu, bão dưỡng bao gồm các

hạng mục: chợ, Nhà sinh hoạt cộng đồng và Trụ sở UBND được hỗ trợ thông qua dự án

của Chương trình 135 với tổng mức đầu tư là 2.677 triệu đồng, chiếm 6,36% tổng mức

hỗ trợ từ chương trình.

2.2.4 Thực trạng sử dụng vốn

Bảng 17: Kết quả giải ngân vốn đầu tư

ĐVT: Triệu đồng

Năm



Kế hoạch



Thực hiện



2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013



3,691

5,143

13,965

9,890

7,115

11,200

11,200

18,064



3,551

4,920

12,587

8,592

6,346

11,200

11,200



Tỷ lệ

(%)

96.21

95.66

90.13

86.88

89.19

100

100



Trong quá trình triển khai dự án hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng của huyện Tuyên

Hoá còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Đặc biệt là từ năm 2006 – 2010, là giai đoạn II của

Chương trình, công tác quản lý và giải ngân vốn của BQL còn khá lúng túng. Chính vì

vậy vốn thực hiện chưa có năm nào đạt 100% vốn kế hoạch. Thậm chí, tỷ lệ vốn thực

hiện so với vốn kế hoạch còn giảm sút từ 96,66% năm 2006 xuống 86,88% năm 2009

2.2.5 Đánh giá về kết quả thực hiện dự án

Cùng với kết quả giai đoạn I và giai đoạn II, Chương trình 135 giai đoạn 2010 2013 đã tạo ra CSHT thiết yếu khá đồng bộ ở các xã ĐBKK ở huyện Tuyên Hoá. Về cơ

59



bản, các xã đã có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống của

nhân dân. Cụ thể: đã có trên 70% các công trình thuỷ lợi nhỏ phục vụ sản xuất, cơ bản

các xã đã có đủ trường, lớp học kiên cố, 75% số xã đã có đường giao thông từ trung tâm

xã đến tất cả các thôn, bản. 90% số học sinh tiểu học trong độ tuổi đến trường, 95%

người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được tư vấn pháp luật miễn phí.



CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

THỰC HIỆN DỰ ÁN HỖ TRỢ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

TRONG CHƯƠNG TRÌNH 135

3.1 Những tồn tại vướng mắc

Dự án hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng trong chương trình 135 đã góp phần không

nhỏ vào việc hay đổi diện mạo cho kinh tế - xã hội huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các dự án gặp không ít các tồn tại vướng mắc:

3.1.1 Về cơ chế chính sách

Công tác quyết toán công trình còn lúng túng, không đạt tiến độ. Nhiều công

trình, dự án chuyển tiếp thi công cầm chừng; hoặc ngừng thi công để chờ điều chỉnh giá

và hợp đồng thi công do giá cả thị trường tăng cao.

Tiến độ triển khai thực hiện các CT dự án còn chậm so với yêu cầu đặt ra. Về

đơn giá, định mức đầu tư xây dựng cơ bản, việc xác định đơn giá định mức cho công tác

xây lắp chưa phù hợp, sát đúng thực tế nên chưa khuyến khích và tạo động lực, thu hút

được các đơn vị có năng lực thi công. Các đơn vị nhận thầu chủ yếu tại huyện, năng lực

hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ thi công xây dựng công trình. Định mức, đơn

giá chưa hợp lý cũng nảy sinh tiêu cực như thi công không đúng thiết kế, bớt xén khối

lượng, không đúng tiêu chuẩn chất lượng nhằm giảm chi phí để thu lợi nhuận của các

đơn vị nhận thầu.

3.1.2 Trong công tác tổ chức, triển khai của các cấp địa phương

Công tác chỉ đạo thực hiện chưa thực sự sâu sát, giám sát chưa chặt chẽ, chậm

phát hiện những mặt yếu kém tồn tại ở cơ sở. Bộ máy chỉ đạo thực hiện ở một số xã còn

có những bất cập, nhiều đầu mối nhưng thiếu tập trung, hạn chế về năng lực, chưa ngang

tầm nhiệm vụ, việc tham mưu đề xuất hạn chế. Việc tổ chức hoạt động giám sát, kiểm tra,

đánh giá tình hình tại các xã còn nặng về hình thức, ít có kiến nghị đề xuất ngoài việc đề

60



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Thực trạng triển khai dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng trong chương trình 135 huyện Tuyên Hoá

Tải bản đầy đủ ngay(78 tr)

×