1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Kết quả xuất khẩu cà phê trong 3 năm gần đây

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (457.47 KB, 110 trang )


đã rất chú trọng vào hoạt động xuất khẩu, điều đó được thể hiện qua sự tăng doanh thu xuất khẩu là 3.4494.970 tỷ đồng. Ngồi ra thì việc giải quyết tốt
các khó khăn về thị trường tiêu thụ hàng nông sản, mở rộng quan hệ với nhiều khách hàng mới ở khu vực Tây Âu cộng với việc đầu tư phát triển mặt
hàng mới là những nhân tố chủ yếu góp phần tăng doanh thu.
Nộp ngân sách:
Về nộp ngân sách, tổng nộp ngân sách năm 2006 đạt 232 tỷ đồng bằng 110,5 so với năm 2005. Các chỉ tiêu về nghĩa vụ ngân sách năm 2006
đều đảm bảo cao hơn năm trước. Năm 2007 tổng mức nộp ngân sách đạt 260 tỷ đồng bằng 112 so với năm 2006. Như vậy ta có thể thấy rằng các khoản
nộp ngân sách nhà nước, công ty đã thực hiện đầy đủ và có chiều hướng tăng qua các năm.
Lợi nhuận sau thuế:
Năm 2006, lợi nhuận của công ty đạt 923 triệu đồng. Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sơ hữu cao hơn năm trước do giá cả mặt hàng xuất
khẩu nông sản đã tăng. Năm 2007, lợi nhuận thực hiện được đạt 3.750 triệu đồng. Công ty đã trở thành công ty đứng đầu trong xuất khẩu hàng nông sản
đặc biệt là xuất khẩu cà phê và hạt tiêu. Hàng năm cơng ty đóng góp vào ngân sách nhà nước một khoản không nhỏ vào công cuộc phát triển đất
nước.

2. Kết quả xuất khẩu cà phê trong 3 năm gần đây


2.1. Đặc điểm và tình hình mặt hàng cà phê
Hầu hết các mặt hàng nông sản của Việt Nam vẫn là mặt hàng có tính chất khơng ổn định, chỉ thích nghi với khí hậu nhiệt đới có hai mùa mưa
nắng rõ rệt nên Việt Nam được coi là một trong những nước có điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc phát triển các loại cây như: cà phờ, ht tiờu, ht iu
Trần Thị Quỳnh Nga Líp: TMQT 46
Ngoại trừ sự bất lợi về thời tiết như hạn hán, lụt lội, sâu bệnh phá hoại thì các cây này thường cho thu hoạch khá cao, năng suất ổn định. Cà phê là một
trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu mạnh của Việt Nam. Hiện nay cà phê Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới và thứ nhất trong khu vực về sản
lượng, chủ yếu là cà phê chưa chế biến niên vụ 19971998, Việt Nam đạt một đỉnh cao về kim ngạch xuất khẩu là 601 triệu USD. Ngành cà phê phụ
thuộc rất nhiều vào thời tiết, gặp nhiều khó khăn về mặt tài chính, đặc biệt là những vấn đề phát sinh do tranh chấp hợp đồng xuất khẩu, bị khách hàng
phàn nàn, thậm chí còn bị kiện cáo quá nhiều. Theo phân tích, ngày 123, Tổ chức Cà phê Thế giới ICO đã nâng dự báo về sản lượng cà phê thế giới vụ
200708 thêm 2 triệu bao so với trước đó, lên 118 triệu bao loại 60 kg, nhờ triển vọng từ vụ mùa bội thu ở Việt Nam - nước sản xuất cà phê robusta lớn
nhất thế giới. Tuy nhiên, dự báo mới nhất của ICO vẫn thấp hơn so với con số 125 triệu bao đạt được trong vụ 200607.
Tại Braxin, nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, vụ cà phê 200708 đang phát triển tốt và sẽ thu hoạch rộ vào tháng 6 – tháng 9 tới, dự đoán cho
sản lượng 41,3 – 42,2 triệu bao, giảm 23 so với vụ trước. Trong 25 ngày đầu tháng 3, Braxin đã xuất khẩu 1,428 triệu bao cà phê, so với 1,624 triệu
bao của 20 ngày đầu tháng 2. Vào tuần thứ 2 của tháng 4 tới, Tổng công ty Cung ứng Hàng hoá Quốc gia Braxin Conab sẽ đưa ra con số dự đoán về
sản lượng cho vụ cà phê 200809 và con số dự đoán mới nhất về sản lượng của vụ 200708 sẽ đưa ra vào ngày 085.
Tại Việt Nam, nước sản xuất cà phê lớn thứ 2 thế giới, trong 6 tháng đầu vụ 200708 tháng 10 – tháng 3, đã xuất khẩu 622.000 tấn cà phê hay 10,37
triệu bao loại 60kg, giảm 18,2 so với cùng kỳ vụ trước, riêng tháng 3 chỉ xuất khẩu đựơc 150.000 tn, gim 13,8.
Trần Thị Quỳnh Nga Líp: TMQT 46
Còn tại Đức, nhà rang xay cà phê hàng đầu nước này là Tchibo cho biết sẽ mở rộng chi nhánh hoạt động của mình sang Anh.
Về nhu cầu, ICO dự đốn tiêu thụ cà phê thế giới trong năm 2008 ước đạt 123 triệu bao, cao hơn so với 120 triệu bao của năm 2007. Trong khi đó
Hiệp hội Cà phê Quốc gia Mỹ cho biết, tiêu thụ cà phê của nước này thời gian gần đây giảm mạnh do sự sụt giảm của nền kinh tế.
2.2.Thị trường xuất khẩu cà phê - Khu vực Châu Âu là thị trường truyền thống của Công ty từ những
năm đầu thành lập năm 1979, chủ yếu là các nước SNG và Đông Âu. Trong những năm gần đây quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước Châu
Âu ngày càng được nâng cao nên đây là một thị trường hấp dẫn của công ty. Tuy nhiên, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu với thị trường này vẫn còn quá
khiêm tốn chưa tương xứng với tiềm năng của công ty và các nước nhập khẩu trong khu vực.
- Khu vực Châu Á là thị trường lớn của Cơng ty. Nhiều nước trong khu vực có tốc độ phát triển cao, thêm vào đó là lợi thế về vị trí địa lý, phong
tục tập qn có nhiều nét tương đồng. Mặt khác chi phí vận chuyển thấp và yêu cầu chất lượng mẫu mã sản phẩm không cao nên thị trường này được
công ty chú trọng. Do vậy, trong những năm qua kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói chung và của cơng ty nói riêng luôn chiếm tỷ trọng lớn gần
80. Các thị trường lớn của công ty ở khu vực này là: Trung Quốc, Singapore, Thái Lan…
- Khu vực Bắc Mỹ và Úc: Đây là hai khu vực rất tiềm năng nhưng do quan hệ chính trị từ trước làm cho mối quan hệ kinh tế không được thúc đẩy
trong một thời gian dài. Cuối năm 2001 hiệp định thương mại Việt-Mỹ có hiệu lực đã thể hiện khu vực này là thị trường có sc tiờu th ln. Trong thi
Trần Thị Quỳnh Nga Líp: TMQT 46
gian tới thị trường này được đánh giá là rất có tiềm năng và cơng ty đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để mở rộng thị trường tiêu thụ hàngi hóa của mình và
tạo được chỗ đứng thuận lợi trong khu vực. Để thấy rõ được sức tiêu thụ cà phê tại các thị trường của công ty ta
cùng xem bảng cơ cấu thị trường xuất khẩu sau.
Bảng 3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu mặt hàng chủ yếu của Công ty
STT Thị trường
Thực hiện kế hoạch tháng 122007
Luỹ kế tháng 122007
Số lượng Trị giá
Số lượng Trị giá
1 Singapore
307 504.708
2029 3.062.301
2 Đức
115 205.506
1286 1.903.781
3 Anh
229 342.346
2940 6.902.453
4 Thụy Sỹ
1940 3.017.527
1220 18.251.372
5 Hà Lan
213 437.355
3737 6.075.347
6 Mỹ
108 176.256
2421 3.599.944
7 Thụy Điển
4177 6.082.612
8 Nga
54 79.014
54 79.014
Nguồn: Phòng kinh doanh tổng hợp 2.3.Kết quả xuất khẩu cà phê
Trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu thì cà phê ln có kim ngạch xuất khẩu cao nhất, chiếm tỷ trọng trong tổng kim ngạch hàng nông
sản xuất khẩu của công ty. Khác với các loại hàng hóa khác, cà phê có đặc điểm là giá cả không ổn định mà thường xuyên lên xuống bt thng, nờn
Trần Thị Quỳnh Nga Líp: TMQT 46
trước đây khơng một đơn vị nào trong công ty muốn khai thác và đưa ra phương án kinh doanh tốt để thu được lợi nhuận.
Để hiểu rõ hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu cà phê tại cơng ty thì thơng qua bảng cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty bảng 4
ta có thể thấy rõ được mặt hàng cà phê chiếm ưu thế như thế nào trong kim ngch xut khu hng nụng sn.
Trần Thị Quỳnh Nga Líp: TMQT 46
Bảng 4: Số liệu cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ yếu của Công ty trong thời gian qua.
Đơn vị: USD
Mặt hàng
Năm 2005 Năm 2006
Năm 2007 Giá trị
USD Tỷ trọng
Giá trị USD
Tỷ trọng Giá trị
USD Tỷ trọng
Cà phê 100.632.733
85,67 135.000.000
87,1 50.100.000
73,25 Hạt tiêu
11.449.010 9,75
16.000.000 10,32
9.000.000 13,16
Tinh bột sắn
1.050.000 0,89
1.132.000 0,73
1.370.000 2
Chè 78.196
0,105 Thủy
sản 600.000
0,5 153.000
0,1
Cơm dừa
900.000 0,75
1.230.000 0,79
2.680.000 3,92
TCMN 450.000
0,375 105.000
0,07 104.634
0,15 Hàng
khác 2.303.399
1,96 1.380.000
0,89 5.145.000
7,52
Tổng giá trị
117.473.338 100
155.000.000 100
68.399.634 100
Nguồn: Phòng kinh doanh tổng hợp Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy mặt hàng cà phê là mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của công ty trong thời gian qua. Kim ngạch của nó tăng rất nhanh qua từng năm và luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các mặt hàng
nông sản. Kim ngạch xuất khẩu cà phê năm 2005 là 100.632.733 USD, đến năm 2006 tăng lên 135.000.000 USD, tức là tăng 34,15 so với năm 2005;
Trần Thị Quỳnh Nga Líp: TMQT 46
năm 2007 đạt 5.010.000 USD thấp hơn so với năm 2006 nhưng đây chỉ là kim ngạch xuất khẩu từ công ty mẹ, một số công ty con đã tách ra thực hiện
phương án cổ phần hóa. Ta thấy rằng, tỷ trọng kim ngạch cà phê tăng dần qua các năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản. Từ
85,67 năm 2005 lên tới 87,1 năm 2006, còn năm 2007 các cơng ty con đã tách khỏi công ty mẹ nên nguồn thu kim ngạch cà phê từ công ty mẹ thấp
chỉ đạt 50.100.000 USD, chiếm 73,25 . Trong mấy tháng đầu năm 2008, giá cà phê có xu hướng tăng do nhu cầu tiêu dùng cà phê trên thế giới tăng,
đặc biệt nhu cầu tiêu thụ nội địa ở hai nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới là Braxin và Việt Nam tăng mạnh.
III.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ TẠI CÔNG TY XNK INTIMEX.

1. Giục người mua mở LC và kiểm tra LC


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (110 trang)

×