1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Khái niệm về di cư Mơ hình của Lewis

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


Chương I: Cơ sở lý luận về di cư và dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị trong bối cảnh tồn cầu hố của Việt Nam
1.1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CƯ LAO ĐỘNG 1.1.1. Quan niệm về di cư

1.1.1.1. Khái niệm về di cư


Di cư là một thuật ngữ mơ tả q trình di chuyển dân số hoặc là quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập vào một đơn vị hành chính - địa lý nhất định.
Nói chung khái niệm di dân thường được các nhà nghiên cứu định nghĩa không giống nhau. Theo tác giả Lee 1966 thì di cư là: “sự thay đổi cố định nơi cư trú”.
Còn theo Mangalam và Morgan 1968 cho rằng di cư là “sự di chuyển vĩnh viễn tương đối của người di cư ra khỏi tập đoàn đang sống từ một đơn vị địa lý khác”.
Mặt khác, theo tác giả Paul Shaw thì “di cư là hiện tượng di chuyển khỏi tập thể từ một địa điểm địa lý này đến một địa điểm địa lý khác, trên cơ sở quyết định của
người di cư, dựa vào một loạt các giá trị trong hệ thống các mối quan hệ qua lại của người di cư”.
Những định nghĩa nêu trên chỉ đề cập tới “không gian di trú” và hầu như chưa nói lên được thời gian quá trình di cư, theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc; “di dân
hay di cư là sự dịch chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, thường là qua một địa giới hành chính hoặc là sự dịch chuyển theo một khoảng cách xác định nào đó
thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú”. Trong đó, di dân nội địa liên quan đến sự chuyển dịch nơi cư trú bên trong biên giới
của quốc gia. Đối với Việt Nam, “di cư được định nghĩa là sự di chuyển của con người từ nơi
này đến nơi khác đó là chuyển đến một huyện khác, thành phố khác, một tỉnh khác hay một nước khác trong một khoảng thời gian nhất định”. Trong phạm vi nghiên
cứu này khái niệm về di cư được hiểu theo cách hiểu của Haughton. Người di cư được hiểu trong luận văn này là người di cư từ nông thôn ra thành thị với độ tuổi từ
15 đến 59 tuổi trong vòng 5 năm và đã cư trú tại nơi đến từ 1 tháng trở lên.

1.1.1.1. Các khái niệm liên quan đến di cư


a. Người di dân Là người đã thay đổi nơi thường trú của mình từ một khu vực này đến một khu
vực khác, ít nhất là một lần trong khoảng thời gian nhất định. Di dân có thể liên quan đến một hay nhiều cá nhân di chuyển, một gia đình hay thậm chí là cả một
cộng đồng. b. Di dân gộp
Là con số tổng cộng bao gồm cả những người đến và đi cùng một vùng, nó đo lường tồn bộ số lượng dân số cả số người đi và đến trong một cồng đồng dân cư.
c. Di cư ròng Đối với một vùng cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định đều ln diễn ra
các q trình tiếp nhận thêm một số lượng dân cư này và đồng thời lại mất đi một số lượng dân cư khác do họ di chuyển đi tới vùng khác. Sự chênh lệch giữa quy mô
dân cư chuyển đến và quy mô dân cư chuyển đi được gọi là di dân hay di dân ròng. d. Sự nhập cư và sự xuất cư.
Đây là khái nịêm được sử dụng trong các quá trình di cư bên trong, hay nội bộ của một quốc gia, một vùng:
- Sự nhập cư hay di dân vào là: quá trình di cư từ nơi nào khác đến nơi dự định sinh sống. Đây là sự chuyển đến.
- Sự xuất cư hay di dân ra là: quá trình di cư từ nơi đang sống sang vùng khác. Đây là sự chuyển đi.
e. Nơi xuất cư và nơi đến: Nơi xuất cư là: nơi mà từ đó người di cư chuyển đi. Ngược lại, nơi đến là nơi
mà người di cư từ nơi nào khác chuyển đến sống. f. Sự di cư chênh lệch
Trong q trình di cư ln có hiện tượng chênh lệch giữa các nhóm di cư khác nhau về các yếu tố nhân khẩu, hoàn cảnh xã hội, kinh tế, văn hố…Vì vậy, đối với
những luồng di cư khác nhau sẽ có những sự khác nhau trong cơ cấu thành phần của
dân cư về nhiều mặt. Điều này cần được quan tâm đúng mức để có thể giải quyết vấn đề di cư một cách hợp lý.

1.1.2. Loại hình di cư


Di cư diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau gồm: di cư trong nước và di cư quốc tế. Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích luồng di cư nơng
thơn ra thành thị hay di cư trong nước. Do vậy, di cư được chia thành các loại hình theo căn cứ sau:
a. Theo pháp lý Bao gồm: di cư có tổ chức hay di cư tự do hợp pháp và di cư không hợp pháp.
- Di cư có tổ chức: diễn ra trong khn khổ chương trình của nhà nước, trong trường hợp này những người di cư thường nhận một khoản trợ cấp hỗ trợ và thường
di chuyển nơi ở thường trú của gia đình. - Di cư tự do hợp pháp: là việc chuyển đến nơi sinh sống mới do bản thân người
di cư tự quyết định bao gồm cả việc lựa chọn địa bàn nhập cư, tổ chức di chuyển, cũng như trang trải mọi phí tổn và tìm việc làm…
- Di cư bất hợp pháp: là việc chuyển đến nơi ở mới giống như di cư tự do hợp pháp, tuy nhiên người di cư lờ đi các quy định và cố gắng tránh liên lạc với các cấp
chính quyền. b. Theo nơi đi và nơi đến
Dựa theo nơi đi và nơi đến có 4 loại hình: nơng thơn – nông thôn, nông thôn – thành thị, thành thị - thành thị và thành thị - nông thôn.
c. Theo thời gian Theo thời gian, di cư có thể chia thành: di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cư
theo mùa vụ. - Di cư lâu dài: Là nhóm những người di cư đến một khoảng thời gian tương đối
dài và có ý định ở lại nơi đến. - Di cư tạm thời: những người tới một địa bàn trong một thời gian nhất định để
học tập, làm việc trước khi có quyết định liệu có sống ở đó hay khơng.
- Di cư theo mùa vụ: Là trường hợp đặc biệt của di dân tạm thời. Thuật ngữ “mùa vụ” không nhất thiết mang nghĩa mùa vụ thu hoạch, mặc dù nó có thê là như
vậy đối với người di dân. Thuật ngữ này còn hàm ý những hoạt động mùa khác như mùa xây dựng hoặc mùa du lịch bao gồm cả loại hình đi làm ăn xa ở nơng thơn. Có
thể nói, di cư theo mùa vụ là những người ra thành phố trong những lúc nơng nhàn để tìm kiếm việc làm, khơng có ý định cư trú lâu dài và sẽ quay về khi có nhu cầu
lao động và cơng việc gia đình ở q hương.

1.1.3. Các mơ hình về di cư


Di cư là một hiện tượng phổ biến trong xã hội loài người. Lý do tại sao con người di cư thì rất khác nhau giữa người này với người khác trong cùng một cộng
đồng, giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa vùng này với vùng khác…Chính sự phức tạp của quá trình di cư hay nguyên nhân của di cư mà khơng có sự thống nhất
giữa các nhà nghiên cứu về ngun nhân của di cư.

1.1.3.1. Mơ hình của Lewis


Giả thích giản đơn nhất cho sự di cư từ nông thôn ra thành thị là người ta di cư đến thành thị khi lương của thành thị cao hơn ở nông thôn. Lewis đã đưa ra lý
thuyết này trong giải thích của ơng về sự chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp ở một nước vừa mới cơng nghiệp hóa.
Mơ hình của Lewis là học thuyết chung cho quá trình phát triển của các nước dư thừa lao động. Trong mơ hình này, Lewis đã mơ tả sự vận động của 2 khu vực kinh
tế được chia thành: 1 Khu vực kinh tế nông thôn truyền thống với số lao động dưa thừa được đặc trưng bởi năng suất lao động cận biên rất thấp gần như bằng 0 – do
đó có thể rút lao động ra khỏi khu vực nông thôn truyền thống mà sản lượng nông nghiệp không giảm và 2 là khu vực thành thị cơng nghiệp hiện đại – khu vực này
có năng suất lao động cao hơn, lao động khu vực này do lao động khu vực nông thôn chuyển sang. Trọng tâm của mơ hình này là thể hiện q trình chuyển giao lao
động lẫn sự gia tăng sản lượng đầu ra - tỉ lệ thuận với tích luỹ tư bản và gia tăng mức độ sử dụng lao động ở khu vực thành thị. Sự gia tăng lao động và mức độ
chuyển giao lao động đều do sự gia tăng sản lượng đầu ra của khu vực 2 mang lại.
Trong khi đó, tốc độ của việc mở rộng đầu ra này được xác định bởi nhịp độ đầu tư công nghiệp và tích luỹ vốn trong chính khu vực này. Khối lượng đầu tư này có
được nhờ sự vượt trội của lợi nhuận trong khu vực kinh tế thành thị hiện đại so với phần chi trả lương với giả thiết rằng toàn bộ lợi nhuận được đem đầu tư phục vụ mở
rộng sản xuất. Hơn nữa, mức lương ở thành thị với giả thiết là không đổi cho đến khi lao động ở nông thôn hết dư thừa năng suất lao động cận biên khu vực nông
nghiệp không bằng khơng nữa, tuyến cung lao động hồn tồn khơng co giãn và cao hơn ít nhất là 30 so với mức lương cố định trung bình được ấn định trước đủ
để duy trì cuộc sống ở khu vực truyền thống. Lúc này, đường cung lao động ở nông thôn cho khu vực thành thị được coi là hoàn toàn co giãn.
Trong khu vực kinh tế truyền thống có 2 giả thiết cần lưu ý. Một là, có lao động dư thừa; và thứ hai, mức lương thực tế của nông thơn được xác định bằng năng suất
trung bình chứ khơng phải bằng năng suất cận biên của lao động, như trong khu vực kinh tế hiện đại. Còn trong khu vực kinh tế hiện đại, thị trường lao động có
tính chất cạnh tranh hoàn hảo. Do nguồn cung lao động ở nơng thơn được coi là khơng có giới hạn nên khu vực
kinh tế hiện đại có thể thuê bao nhiêu lao động ở nông thôn cũng được mà không sợ phải nâng cao thêm mức lương. Các chủ doanh nghiệp trong khu vực kinh tế hiện
đại, do muốn tối đa hố lợi nhuận, có thể th bao nhiêu lao động tới mức lương mà sản lượng đầu ra cận biên của họ tương đương với mức lương chi trả thực tế. Do
đó, q trình tìm kiếm lợi nhuận, tích luỹ và tái đầu tư của khu vực công nghiệp tiếp tục diễn ra và kết quả làm cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởng nhanh.
Quá trình hoạt động trên diễn ra liên tục cho đến khi tất cả lao động dư thừa ở nông thôn được thu hút vào ngành công nghiệp mới. Đến lúc này, những lao động
bổ sung chỉ có thể rút ra khỏi khu vực nơng nghiệp với chi phí cao hơn, năng suất lao động cận biên của lao động nông thôn không bằng khơng nữa. Như vậy, đường
cung lao động lúc này có độ dốc dương khi mức tiền lương và số việc làm của khu vực hiện đại tiếp tục tăng trưởng. Quá trình chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế sẽ
diễn ra với sự cân bằng các hoạt động kinh tế, chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế hiện đại.
Mơ hình hai khu vực của Lewis đơn giản, hầu như phù hợp với các nước phương Tây và với những giả định không gắn với thực tế phát triển kinh tế của hầu
hết các nước đang phát triển hiện nay. Mơ hình của Lewis có những hạn chế nhất định: Một là, mơ hình này giả định
rằng tỷ lệ lao động thu hút từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp tương ứng với tỉ lệ vốn tích luỹ của khu vực này. Có nghĩa là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của khu vực
công nghiệp hiện đại càng cao thì dẫn đến tỷ lệ cơng ăn việc làm mới càng nhiều. Điều này chỉ đúng với công nghệ không thay đổi, song thực tế kĩ thuật công nghệ
không ngừng thay đổi và việc trang bị kĩ thuật tiết kiệm lao động sẽ làm cho tỉ lệ tăng trưởng trong khu vực này tăng nhưng số lao động được sử dụng lại giảm, tỷ lệ
công ăn việc làm giảm. Hơn nữa, trong nền kinh tế mới, không có gì đảm bảo rằng nhà tư bản chỉ thu được lợi nhuận khi tái đầu tư trong nước; họ có thể tìm nơi đầu
tư có lợi nhất như đầu tư ra nước ngồi nơi có giá đầu tư rẻ hơn. Thứ hai, mơ hình giả thiết khu vực nơng thơn có dư thừa lao động còn khu vực thành thị thì khơng
trong khi đó thất nghiệp vẫn xảy ra ở thành thị trên thực tế. Thêm vào đó, khu vực nơng thơn có thể giải quyết tình trạng dư thừa lao động mà không cần lên thành
phố. Thứ ba, Lewis cho rằng khu vực công nghiệp không phải tăng lương cho số lao động từ nông thôn khi ở đây còn dư thừa lao động. Trên thực tế, ở các nước đang
phát triển tiền công trong công nghiệp vẫn có thể tăng kể cả khi nơng thơn có dư thừa lao động vì khu vực này đòi hỏi lao động có tay nghề cao hơn với mức tiền
cơng cao hơn. Thêm vào đó, một số nước hoạt động của tổ chức cơng đồn rất mạnh, họ có thể tạo ra những áp lực đáng kể đòi hỏi phải tăng lương cho người lao
động. Có thể nói, mơ hình hai khu vực của Lewis khơng chỉ giải thích ngun nhân có
di cư lao động từ nơng thơn ra thành thị mà còn là cơng trình đầu tiên về tiến trình phát triển chỉ ra xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phát triển công nghiệp
trước, nông nghiệp sau và giải thích sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở giai đoạn đầu của q trình cơng nghiệp hóa.
1.1.3.2
. Mơ hình của Harris – Torado
Mơ hình John R.Harris và Micheal Torado hay còn gọi là mơ hình Harris – Torado nghiên cứu hiện tượng di cư nông thôn – thành thị tăng tốc trong bối cảnh
thất nghiệp ở thành thị vẫn tiếp tục gia tăng. Cá nhân người di cư vẫn có thể di cư mặc dù có tình trạng thất nghiệp ở thành thị. Trên giả thiết mơ hình Torado cho rằng
việc di cư diễn ra là do có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn về thu nhập dự kiến chứ không phải về thu nhập thực tế. Người di cư có thể xem xét các cơ hội
khác nhau để lựa chọn nhằm tối đa hóa lợi ích dự kiến của họ. Lợi ích này được tính toán bằng hiệu số giữa thu nhập thực tế ở thành thị và nơng thơn, có tính đến
khả năng xác suất kiếm được việc làm ở khu vực thành thị Torado – năm 1970. Nếu như hầu hết người di cư là trẻ tuổi dưới 25 tuổi nên có thể giả thiết
khoảng thời gian để quyết định di cư dù lâu hơn vẫn thực tế. Người di cư có thể xem xét thu nhập trong suốt cuộc đời họ hay quyết định di cư của họ sẽ dựa trên
tính tốn tổng thu nhập của một thời kỳ dài hạn hơn. Nếu người này thấy rằng lúc đầu anh ta có xác suất để có việc thấp nhưng qua thời gian các quan hệ được mở
rộng dần, khả năng tìm được việc làm mới với tiền lương đều đặn sẽ tăng lên, thì di cư vẫn là hợp lý, thậm chí ngay cả trong trường hợp thu nhập dự kiến ở thành thị
trong thời gian đầu có thể thấp hơn thu nhập ở khu vực nông thôn. Khi mà giá trị hiện tại của luồng thu nhập ròng dự kiến ở thành thị, tính trong “kỳ kế hoạch” của
người di cư vượt trội hơn giá trị tương ứng của thu nhập dự kiến ở nơng thơn thì quyết định di cư vẫn là lựa chọn xác đáng.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của ILO chỉ ra rằng sự di cư theo mơ hình Torado khơng nối được khoảng cách lương dự kiến giữa thành thị và nông thôn. Có thể lý
giải khoảng cách đó bằng cách bổ sung thêm một khu vực nữa vào khu vực nông thôn và khu vực thành thị chính quy của Harris – Torado. Những người di cư có thể
khơng làm việc ở những khu vực chính quy mà làm những cơng việc khơng chính quy như: các nhà bn nhỏ, cửa hàng nước trà, người bán hàng rong, bán trên hè
phố, người quét rác, người sửa chữa, người làm hàng mây tre, và những người tự hành nghề tạo ra việc làm và thu nhập cho bản thân họ trong hoạt động với rất ít
vốn, kỹ năng và hàng rào cạnh tranh. Những nhà bn và chủ doanh nghiệp nhỏ này có chi phí bắt đầu và chênh lệch lợi nhuận thấp, thoả thuận ngồi hệ thống luật pháp
chính thức và th nhân công ở mức thấp hơn mức lương quy định tối thiểu. Cung cấp lao động cho khu vực không chính quy chịu tác động chủ yếu của tăng lương và
dân số ở nơng thơn. Điều này giải thích lý do quá trình di cư vẫn tiếp tục khi vẫn có thất nghiệp thành thị và tỉ lệ thành phần kinh tế tư nhân, mặc dù tỉ lệ thất nghiệp này
khá cao. Nhiều người di cư vừa bị thất nghiệp lại vừa không nhận được mức lương ở khu vực chính quy mà làm những cơng việc trong khu vực khơng chính thức, điều
đó tạo điều kiện cho họ bước chân vào nền kinh tế thành thị. Mơ hình Torado vẫn có những hạn chế, hạn chế rõ nhất trong lý giải nguyên
nhân di cư là do sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị là giải pháp khơng đầy đủ với vấn đề thất nghiệp. Có thể dẫn tới nghịch lý càng mở rộng việc
làm ở thành thị, càng tăng cao tiền lương ở thành thị thì càng khuyến khích tốc độ di cư cao lên, làm thất nghiệp ở thành thị tăng lên và đồng thời dẫn đến giảm sút
sản lượng nông nghiệp. Mặc dù vẫn còn những hạn chế nhưng mơ hình Harris - Torado được ứng dụng nhiều trong thực tế để dự báo vấn đề di cư từ các vùng nông
thôn – thành thị cũng như di cư giữa các nước.
1.2.
DÒNG DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ TRONG BỐI CẢNH TỒN CẦU HỐ
1.2.1. Dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị 1.2.1.1. Khái niệm di cư từ nông thôn ra thành thị
Di cư từ nông thôn ra thành thị là sự di chuyển của con người từ nông thôn ra thành thị trong một khoảng thời gian nhất định xét theo yếu tố nơi đi và nơi đến
của loại hình di cư. Các nhà kinh tế học cho rằng: di cư từ nông thôn ra thành thị là một quá trình di
chuyển của lao động từ khu vực kém phát triển hơn đến khu vực phát triển hơn.
Trong đó: Nông thôn: là chỉ vùng đất mà người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp.
Thành thị: - Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố
trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện. - Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp tối thiểu phải đạt 65 tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70 mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy
hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mơ dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 ngườikm².

1.2.1.2. Những nhân tố quyết định đến di cư từ nông thôn ra thành thị


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×