1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Những nhân tố quyết định đến di cư từ nông thôn ra thành thị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


Trong đó: Nơng thơn: là chỉ vùng đất mà người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp.
Thành thị: - Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh, vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phố
trực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện. - Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp tối thiểu phải đạt 65 tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70 mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy
hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mơ dân số ít nhất là 4000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 ngườikm².

1.2.1.2. Những nhân tố quyết định đến di cư từ nông thôn ra thành thị


Di cư vừa là nguyên nhân và là hệ quả của quá trình phát triển. Di cư đã và đang trở thành sự lựa chọn của người dân nhằm cải thiện kế sinh nhai và tạo cơ hội làm
ăn cho mình. Di dân đã trở thành một cấu thành khơng thể thiếu được của q trình phát triển đặc trưng cho mối quan hệ qua lại giữa vùng miền và lãnh thổ.
a. Các nguyên nhân dẫn đến di cư nông thôn ra thành thị Di cư nói chung và di cư nơng thơn ra thành thị nói riêng là q trình làm cân
bằng các nguồn lực kinh tế để tạo lập một bước tiến mới trong sự phát triển kinh tế. Có nhiều nguyên nhân theo các nhà nghiên cứu dẫn đến di cư từ nông thơn ra thành
thị, q trình di cư nơng thơn ra thành thị ở Việt Nam có thể chia làm các nguyên nhân sau đây:
Một là, nguyên nhân về áp lực dân số và việc làm: Những năm gần đây, dân số
Việt Nam tăng trưởng trong sự kiểm soát khá chặt chẽ với tốc độ tăng dân số khoảng 1.5 năm. Nhưng những thập kỉ trước đó, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng
dân số rất cao đặc biệt trong những năm 1970 đến đầu những năm 1990 là năm mà dân số bùng nổ với tốc độ tăng trưởng 2 năm. Tốc độ tăng trưởng dân số cao
như vậy đặt áp lực rất lớn lên nền kinh tế về việc tạo ra đủ công ăn việc làm và áp
lực này càng tăng lên khi những năm gần đây phần trăm những người đến tuổi lao động tìm việc tăng lên. Điều này có nghĩa là số người tham gia vào lực lượng lao
động hàng năm có xu huớng ngày càng lớn. Sự bùng nổ dân số làm mất cân bằng các nguồn lực kinh tế. Trong vòng một thế
kỉ, nền kinh tế đặc biệt là kinh tế nông thôn khá ổn định trong sự cân bằng giữa nguồn lực con người và đất đai, nhưng sự bùng nổ dân số đã làm cho nguồn lực đất
đai càng trở nên khan hiếm cùng với trình độ cơng nghệ khơng được cải thiện thích đáng để giải quyết sự khơng cân bằng này và kết quả là một bộ phận sẽ trở thành
thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp. Sự bùng nổ dân số cùng với mật độ dân số dầy đặc ở một số vùng đã làm cho tình trạng trên trở nên tồi tệ hơn, cư dân ở các vùng
đó rơi vào tình trạng thiếu đất, họ khơng thể đủ sống chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp. Những người này vừa là nông dân và cũng không phải là nơng dân, họ tìm
mọi phương thức sinh kế để kiếm sống. Trong hồn cảnh này thì vịêc di cư từ nông thôn ra thành thị là không thể tránh khỏi.
Hai là, cuộc cải cách kinh tế hay “Đổi mới” và sự thay đổi về chính sách liên
quan đến người di dân đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tình hình di dân. Thứ nhất, về sản xuất nông nghiệp đã giải thể sản xuất tập thể và cho ra đời cơ
chế khốn. Do đó, người nơng dân khơng còn bị ràng buộc với đất đai của mình. Hơn nữa, xu hướng thương mại hố sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng và việc
thay thế sức lao động thủ cơng bằng vốn đầu vào đã có tác động rất đáng kể trong việc phân bố lại lực lượng lao động nông thôn và hối thúc họ rời quê hương đi làm
ăn xa. Thứ hai, trong lĩnh vực sản xuất công nghệ và đầu tư công nghệ mới, sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế chung của toàn cầu đã thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài; lao động di cư được thu hút đến khu vực đầu tư nước ngoài và những trung tâm công nghiệp. Ở đô thị, các quy định về đăng kí hộ khẩu, hộ tịch cho dù
còn tồn tại cũng khơng còn hạn chế nhu cầu về nhu yếu phẩm hay tìm việc làm ngồi thị trường lao động như trước đây. Thứ ba, song song với quá trình này, mạng
lưới xã hội dựa trên cơ sở cộng đồng ngày càng mở rộng và thúc đẩy việc di chuyển của người dân Đặng Nguyên Anh, 1998. Sự phát triển của mạng lưới giao thông
vận tải với chất lượng tốt hơn, dễ dàng hơn và mạng lưới viễn thông liên lạc, các phương tiện thông tin đại chúng giữa các vùng khác nhau đã tạo điều kiện thuận lợi
cho việc di chuyển về không gian và tăng cường sự giao thoa và các quan hệ xã hội giữa nông thôn và thành thị.
Ba là, Q trình cơng nghiệp hóa và hiện đại hố phát triển nhanh chóng tại Việt
Nam trong những năm gần đây đã tác động đáng kể tới dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị. Tỉ lệ của ngành cơng nghiệp và dịch vụ đóng góp trong GDP có xu hướng
tăng và tỉ lệ ngành nơng nghiệp có xu hướng giảm. Q trình cơng nghiệp hóa chủ yếu diễn ra ở các khu vực thành thị do có lợi thế so sánh nhưng sau đó sự khan
hiếm về đất đai và cơ sở hạ tầng đã hình thành nên các khu cơng nghiệp gần các thành phố lớn – các khu công nghiệp này thu hút một lượng khổng lồ vốn đầu tư
nước ngoài cũng như một lượng lớn công nhân và công nhân không trực tiếp làm việc trong các khu vực mà sản xuất có liên quan đến khu cơng nghiệp. Sự phát
triển của cơng nghiệp hóa và các thành phố lớn thúc đẩy q trình đơ thị hố ở Việt Nam, đơ thị hóa là kết quả của q trình phát triển kinh tế và quá trình này phát
triển rất nhanh trong thời kì cơng nghiệp hóa. Tốc độ tăng dân số ở đô thị lớn hơn so với tốc độ tăng dân số của cả nước và điều này có nghĩa rằng q trình di cư
nơng thơn ra thành thị đã tạo nên một sự thay đổi không thể phủ nhận trong cấu trúc dân số của Việt Nam.
Bước chuyển mình theo hướng kinh tế thị trường đã thay đổi bộ mặt của nền kinh tế, cải thiện mức sống của người dân nói chung và những người nghèo nói
riêng. Nhưng việc giảm nghèo khơng có nghĩa là giảm khoảng cách chênh lệch giữa người giàu và người nghèo. Sự bất bình đẳng không chỉ là hiện tượng giữa người
giàu và người nghèo mà còn thấy được giữa nơng thơn và thành thị. Sự phát triển mất cân đối giữa các vùng lãnh thổ trong nền kinh tế thị trường và sự khơi rộng
khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền cũng như giữa các tỉnh thành trong tăng trưởng kinh tế thời mở cửa chính là sự khác biệt căn bản được xem là ngun
nhân chính đối với di cư nơng thơn ra thành thị. b. Quy luật của q trình di cư từ nông thôn ra thành thị
Di cư từ nơng thơn ra thành thị nói riêng và di cư nói chung là một hiện tượng tự nhiên của quá trình phát triển kinh tế bởi nó xảy ra để thích nghi những cơ hội về
kinh tế cũng như phi kinh tế. Việc phân bố lại dân cư sẽ tiếp diễn cho đến khi những cơ hội này đồng đều giữa các vùng, miền. Trong quá trình này, di cư từ nông
thôn ra thành thị là phổ biến nhất đặc biệt khi các nước bước vào q trình cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa đi kèm với nó là q trình đơ thị hóa khơng thể tránh
khỏi, với đại bộ phận dân số sống ở nông thôn và kế sinh nhai của họ là làm nghề nông, khi quá trình cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa bắt đầu thì chuyển dịch cơ cấu
kinh tế cũng diễn ra mạnh mẽ hơn. Tỉ trọng lao động trong ngành nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm trong khi đó tỉ trọng lao động trong các ngành công
nghiệp, dịch vụ, thương mại ngày càng tăng. Di cư từ nông thôn ra thành thị góp phần mang lại sự cân bằng về lao động, cân bằng giữa cung và cầu lao động ở cả
nơng thơn và thành thị. Do đó, q trình di cư là tất yếu trong giai đoạn đầu của q trình cơng nghiệp hố.
Q trình di cư ln chịu tác động của yếu tố “nhân tố đẩy” và “nhân tố kéo” hay quá trình di dân xảy ra khi có sự khác biệt về đặc trưng giữa hai vùng: vùng đi
và vùng đến. Nhân tố đẩy là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa…ở vùng xuất phát đang gây khó khăn cho người dân ở đó như là: do
điều kiện sống khó khăn, ít cơng ăn việc, thiếu đất đai làm nên người ta phải di cư rời bỏ quê hương tìm đến một nơi khác để cư trú và làm việc kiếm sống, trong đó
khu vực thành thị với nhiều lợi thế là những nhân tố kéo người nông dân rời bỏ nơng thơn và đến đó lập nghiệp – đây là “nhân tố đẩy” Mơ hình nhân tố đẩy và kéo
– Ernest Ravenstein 1989; thứ hai, do các nhân tố hút ở nơi đến như những điều kiện, yếu tố thuận lời về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa…cùng với sự
hấp dẫn về việc làm, cơ hội thu nhập cao và mức sống ở nơi đến, đây là “nhân tố kéo”.
Quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn tiếp diễn trong khi thất nghiệp ở thành thị là khá cao có thể làm việc ở các khu vực khơng chính thức; với số lượng
việc làm được đưa ra ở thành thị thì số người di cư từ nơng thơn ra đơ thị có thể lớn
hơn bởi vì họ khơng nhất thiết đòi hỏi phải làm việc trong những khu vực chính thức mà có thể làm ở những khu vực khơng chính thức: bán hàng rong, thợ thủ
cơng, thợ đánh giầy, người sửa chữa, quét rác, giúp việc trong gia đình với hi vọng qua thời gian sẽ tìm được một công việc ở thành thị với mức lương cao hơn ở khu
vực nông thôn – đây là cách mà họ có thể dần bước chân vào nền kinh tế thành thị. Trường hợp này cũng phù hợp với những người di dân mùa vụ - những người
không hẳn là thất nghiệp mà tìm cách làm việc trong thành thị với thời gian ngắn trong lúc nông nhàn, mùa vụ xây dựng hay du lịch…để có thêm thu nhập.
c. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư Đối với q trình di cư trên thế giới nói chung đều phải tính tốn đến một số
nhân tố có ý nghĩa quan trọng, kể đến như là: khoảng cách di chuyển, cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn ở nơi đến, khả năng thu nhập, các thông tin cần thiết về nơi
đến…Nhìn chung, các nghiên cứu về di cư đều đi đến thống nhất là quyết định di cư phụ thuộc vào một số nhân tố ảnh hưởng xét về phía cá nhân của người di cư
như: Nạn thất nghiệp cũng như khơng hài lòng về cơng việc đóng vai trò là nhân tố
“đẩy” đối với sự di cư. Những người mới di cư đến một vùng và sau đó khơng tìm được việc làm ở nơi đó thì họ có thể lại di chuyển tiếp sang vùng khác hoặc những
người bị thất nghiệp thường trở thành những người di cư. Những người thất nghiệp, những người đang tìm kiếm việc làm thường dễ
phản ứng với các vấn đề kinh tế có liên quan như khả năng thu nhập, mức lương, và nói chung họ thường muốn khả năng kiếm sống tăng cao hơn nữa. Điều này trái
ngược với những người đang thoả mãn với cơng việc của mình đang có. Những gia đình đã nhiều lần di cư thường có khuynh hướng di chuyển nhiều
hơn so với các gia đình chỉ di cư một lần hoặc chưa có lần nào di cư trong thời gian gần đây. Có thể xem họ là những người di cư mãn tính hay kinh niên.
Trong những cuộc di cư của các hộ gia đình thì vai trò của người vợ có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định di cư, họ không phải là những người thụ động.
Tuổi tác và học vấn khơng giữ vai trò quyết định trong việc ảnh hưởng đến quyết định di cư của các cặp vợ chồng.
Ngoài ra, nhân tố quan trọng hay cũng coi là nguyên nhân quan trọng tác động tới vịêc ra quyết định của người di cư như: điều kiện việc làm, thu nhập, các điều
kiện về kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục ở khu vực thành thị luôn tốt hơn so với ở nông thôn. Hơn nữa, sự thay đổi nhận thức trong chính sách của chính phủ với
người di cư từ việc hạn chế, nới lỏng cho đến công nhận và tạo điều kiện hỗ trợ nhiều hơn cho cuộc sống người di cư là những nhân tố kéo người di cư ra khỏi làng
quê của mình để tìm cuộc sống tốt đẹp hơn. Một nhân tố nữa do ông Đặng Nguyên Anh đưa ra đó là: “mạng lưới xã hội” được hình thành từ quá trình di dân gọi là:
“mạng lưới di dân”, những người di cư lâu năm và đã có cơ ngơi ổn định tại thành thị thường mời và “hỗ trợ” người thân ở quê khi họ muốn di cư. Những mối quan
hệ này thường liên quan đến đến việc người dân mới đến thuê trọ, tạm ứng tiền bạc hoặc vay nợ người quen để bắt đầu tìm kiếm việc làm, tự tìm việc hoặc được người
quen giúp chọn cơng việc có thu nhập thường xuyên. Do vậy, người di cư có đầy đủ thông tin về nơi đến qua họ hàng, điều này sẽ góp phần giảm những rủi ro do thiếu
thơng tin và tăng cơ hội thành cơng của q trình di dân. Do đó, “mạng lưới di cư” là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy quá trình chuyển cư.
1.2.1.3.
Tác động kinh - tế xã hội của dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị và vai trò can thiệp của chính phủ.
a. Tác động kinh tế - xã hội của dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị: Tác động tích cực của dòng di cư nơng thơn – thành thị tới đời sống kinh tế -
xã hội: Càng ngày, việc dịch chuyển dân cư và sự điều chỉnh lực lượng lao động đóng
góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam. Dân di cư đóng góp vào sự phát triển kinh tế thơng qua:
Một là, dòng lao động di cư đã bổ sung lực lượng lao động đáng kể trong các lĩnh vực kinh tế ở thành thị, giúp các nhà tuyển dụng tiếp cận nguồn lao động một
cách có hiệu quả, nhưng giá thấp bởi vì sự cung cấp lao động cần phải duy trì mức lương cạnh tranh cho các nhà tuyển dụng.
Hai là, những người di cư chấp nhận những công việc khác nhau kể cả những công việc mang tính chất tạm thời như: gom phế liệu, nguyên liệu tái chế, bốc vác,
giúp việc gia đình… ở những mức lương thấp mà người thành thị không làm nếu không được bảm đảm các phúc lợi xã hội như bảo hiểm y tế và xã hội tốn kém. Do
vậy, di cư đã tạo ra một thị trường năng động mà trước đây chưa có. Ba là, sự di cư trong nước hay từ nông thôn ra thành thị giúp giảm nghèo đói cụ
thể là: tăng khả năng kiếm tiền đáng kể so với thu nhập của người không di cư tại nơng thơn; có ảnh hưởng tích cực với kinh tế địa phương tại những nơi đến vì các
khoản chi tiêu của người di cư; gửi tiền về quê hương để đầu tư cho các hoạt động tăng thu nhập, đầu tư kinh doanh, trả nợ, chi trả tiền chữa bệnh, tiền tiêu dùng của
gia đình, tiếp cận các kĩ năng làm việc và hiểu biết thông tin về thị trường, nắm bắt kĩ năng kỹ thuật về áp dụng tại quê hương.
Bốn là, dòng di cư này cũng giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước dành cho các dịch vụ tại những nơi họ rời đi, trong khi đến nơi sinh sống họ lại khơng được
chính quyền hỗ trợ và đồng thời giúp chính quyền nơi đến giảm bớt các chi phí quản lý các dịch vụ ở thành thị thông qua việc thu nhặt, vận chuyển phế liệu và như
vậy những người di cư tham gia vào dây chuyền sản xuất tái chế. Tác động tiêu cực của dòng di cư nơng thơn – thành thị đến kinh tế - xã hội
- Lao động di cư - đối tượng ít được bảo vệ nhất trong thị trường làm việc mới gia nhập. Họ thường khơng có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghề
nghiệp hay tai nạn lao động do bản chất công việc của họ là tạm thời và không được đăng kí hộ khẩu thường trú, người lao động di cư khơng thể tự bảo vệ mình khỏi
những rủi ro về sức khoẻ, họ không tự tổ chức được những cuộc thương lượng tập thể để đòi hỏi một đồng lương xứng đáng và yêu cầu được bồi thường trong trường
hợp bị thương tật hoặc đau ốm. - Những người di cư cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế và
xã hội. Họ không phải là đối tượng được quan tâm nhiều đến việc nâng cao khả
năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nhà ở, xã hội cho người nhập cư, họ có lương thấp nhưng nhu cầu tiết kiệm lại cao do vậy lao động di cư thường sống chui rúc trong
các khu nhà trọ đông đúc, thiếu thốn các tiện nghi cơ bản và an tồn. Bên cạnh đó, tình trạng dễ tổn thương đói với nhóm phụ nữ di cư thường do bị xâm hại tình dục
và bạo lực, thậm chí gây nên các rủi ro lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIVAIDS. Những vấn đề này ảnh hưởng rõ nét đến an ninh xã hội
cũng như vấn đề về môi trường ở các đô thị đông đúc người di cư. - Cơ sở hạ tầng ở thành thi được cung cấp tốt hơn so với các vùng nông thôn
nhưng chỉ đảm bảo cho một khối lượng người cụ thể mà thơi. Khi có dòng di cư quá lớn từ các vùng miền khác ra thành thị, cùng với điều này là khối lượng phương
tiện giao thông sử dụng cũng tăng lên đáng kể sẽ tác động tới yếu tố hạ tầng như: đường xã, đất đai, nhà ở đều trở nên quá tải ở thành thị.
b. Vai trò can thiệp của chính phủ: Nhận định: Việc di dân từ những vùng nông thôn lên thành thị là một thực tế
cần được chấp nhận và di dân nội địa là một động lực của phát triển đô thị. Thay vì hạn chế việc di cư hoặc chối bỏ sự có mặt của người nơng thơn ở thành phố, các
quốc gia nên coi đây là một cơ hội để phát triển. Hầu hết kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, việc cố gắng hạn chế dòng di cư từ nơng thơn lên các
thành phố lớn bằng các biện pháp hay rào cản trực tiếp hay gián tiếp, ngấm ngầm hoặc công khai thực sự khơng hiệu quả bởi nó khơng chặn đứng được dòng di cư
mà còn gây ra sự xung đột khơng cần thiết và gây ra cái giá phải trả về những cơ hội bị bỏ lỡ về tăng trưởng kinh tế và sự hội tụ mức sống Báo cáo phát triển thế
giới năm 2009, vì vậy thay vì chống lại sức hút những người di cư rời làng quê của họ, chính phủ nên cố gắng xóa bỏ những nhân tố đang xơ đẩy người dân ly hương.
Những chính sách nhằm kiềm soát di dân sẽ gây ra hậu quả phản tác dụng và cần được loại bỏ, không nên xem di chuyển nội địa tự nguyện hay chủ yếu là di cư nông
thôn – thành thị là mối đe dọa, thực tế là di cư nội địa mang lại cho các xã hội cơ hội để tăng trưởng kinh tế và hội tụ phúc lợi xã hội. Bên cạnh đó, sự di cư q tải sẽ
dẫn đến tình trạng khơng thể kiểm sốt và gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống kinh
tế - xã hội. Do vậy, cần có sự can thiệp của nhà nước vào vấn đề này một cách phù hợp và đúng đắn để đạt được sự bền vững về cả kinh tế, xã hội và văn hố.
Vai trò của chính phủ: Một là, lồng ghép di dân vào các chương trình phát triển và xố đói giảm nghèo,
đặc biệt là những chương trình có mục tiêu giảm nghèo. Chính phủ cần nắm rõ
thơng tin nhiều hơn về tình hình di cư để có sự can thiệp kịp thời: hỗ trợ về nhà cửa,
việc làm và tiếp cận vốn vay ngân hàng, dịch vụ y tế, giáo dục, nắm bắt được nhu cầu của từng nhóm di cư khác nhau trong tổng số lao động phổ thơng.
Hai là, cần có sự phân bố đồng đều quyền lợi ở thành phố chứ không phải nới rộng khoảng cách giữa giàu và nghèo, tăng cường việc làm ở khu vực nông thôn và
tạo ra công nghệ lao động. Ba là, Nhà nước cần có các chính sách để hạn chế tổn thất cho người di cư khi
họ đến nơi ở mới, tạo điều kiện ổn định cho người di cư và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
1.2.2.
Bối cảnh toàn cầu hố `và tác động của tồn cầu hóa đến dòng di cư nơng thơn ra thành thị.

1.2.2.1. Khái niệm tồn cầu hóa


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×