1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị trong bối cảnh tồn cầu hố

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


nước ngoài vào các nước đang phát triển tạo ra nhiều việc làm, bao gồm cả việc làm trực tiếp và gián tiếp, nâng cao chất lượng nguồn lao động.
- Kênh tự do hóa lao động tồn cầu: Nhân tố di chuyển lao động trong q trình tồn cầu hố được đặc trưng bởi các dòng chủ yếu là: xuất khẩu lao động từ các
nước ít phát triển tới các nước phát triển hơn, tới những nước có nhiều việc làm và tiền công cao hơn; di chuyển lao động chuyên môn kỹ thuật của các nước phát triển
hơn vào các nước tiếp nhận công nghệ các chuyên gia khoa học cơng nghệ. Ngồi dòng di chuyển lao động ra nước ngồi còn có dòng di chuyển trong nước. Những
cơ hội việc làm được tạo ra ở những trung tâm đơ thị đã tạo nên dòng di chuyển lao động trong nước từ những vùng nông thôn ra thành thị, từ khu vực nông nghiệp
chuyển sang khu vực công nghiệp, từ nơi thu nhập thấp đến nơi có thu nhập cao hơn.
Các định chế kinh tế khu vực và toàn cầu trong đó có các chính sách về phát triển nguồn nhân lực, chính sách tự do hố thương mại, xuất khẩu lao động, quản lý
lao động. tiêu chuẩn lao động và quan hệ lao động có tác động mạnh mẽ tới phát triển nhân lực, việc làm và các vấn đề lao động của mỗi nước trogn quá trình tham
gia vào tồn cầu hóa.

1.2.3. Dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị trong bối cảnh tồn cầu hố


Tồn cầu hóa là một tiến trình phức tạp, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, có mặt thuận và mặt nghịch, có cơ hội và thách thức. Do vậy, tồn cầu hóa đem lại những
thách thức và cơ hội cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Những cơ hội đó là: Có một thị trường rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩm được
sản xuất ra trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa; thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, các nguồn viện trợ phát triển của các nước và các định chế
tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới WB, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Ngân hàng phát triển châu Á ADB...; có điều kiện tiếp nhận công nghệ sản xuất và công
nghệ quản lý thông qua các dự án đầu tư. Những thách thức đó là: áp lực cạnh tranh của tổng lực nền kinh tế, sức cạnh tranh của quốc gia, sự bắt kịp của các nước đang
phát triển trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ diễn ra như vũ bão, áp lực
về khủng hoảng môi trường, chảy máu chất xám, sự gia tăng bất bình đẳng giữa các quốc gia và giữa các vùng miền, đặc biệt giữa đô thị và nông thôn và kết quả của
những chênh lệch vùng miền đó. Bối cảnh tồn cầu hóa đã làm thay đổi cơ cấu lao động và cũng làm thay đổi cấu
trúc dân số ở các nước đang phát triển thể hiện qua các nhân tố sau đây: Trên phạm vi tồn cầu, q trình tồn cầu hố làm tăng lưu lượng giao dịch trên
cả ba thị trường hàng hoá - dịch vụ; tài chính và lao động. Trên thị trường lao động thế giới, tổng cầu về lao động, tức là số việc làm mới được tạo ra nhiều hơn nhưng
cũng kèm theo sự dư thừa tức là sự thất nghiệp do cạnh tranh và sự phân bổ lại các nguồn lực dưới tác động điều chỉnh của thị trường tồn cầu. Đặc biệt với chính sách
mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài gắn với việc tạo ra khối lượng công ăn việc làm lớn, mở rộng thị trường lao động phi nông nghiệp và hướng vào xuất khẩu; kết
hợp của kênh tự do vốn đầu tư và tự do thương mại đó là khối lượng việc làm to lớn nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài, các khu vực chế xuất và xuất khẩu, thu hút lực
lượng lao động đông đảo ở các khu vực trung tâm, trong khi các khu vực này không đủ lao động để đáp ứng và được bổ sung lớn từ lao động nông thôn. Phần lớn các
cụm công nghiệp, khu chế xuất và các cơ sở kinh tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài đều tập trung ở những nơi có điều kiện tốt hơn về mọi mặt hay có lợi thế so sánh là
những vùng đơ thị hay cận kề đô thị, sự phát triển của các vùng này kéo theo sự gia tăng quy mô đô thị và biến động dân cư phản ánh nhu cầu sức lao động gia tăng ở
thành thị. Q trình tồn cầu hóa và việc tạo ra nhiều việc làm hơn ở khu vực thành thị làm cho các nhân tố kéo ảnh hưởng rõ rệt hơn đến người di cư; nghề nông với
họ là chủ yếu nhưng thiếu việc làm vào những ngày nông nhàn trong khi ở thành thị với thời gian đó họ có thể kiếm thêm thu nhập và có cơ hội tìm được việc làm tốt
hơn. Tồn cầu hố cũng làm tăng q trình đơ thị hố, cơng nghiệp hố ở các nước
theo xu hướng giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp, đất nông nghiệp ngày một giảm do quá trình này, cùng với tốc độ tăng trưởng dân số ở nông thôn cao hơn thành thị dẫn
đến thất nghệp và bán thất nghiệp ở nông thôn. Quá trình tồn cầu hóa còn đi kèm
với việc dỡ bỏ rào cản thương mại và sự bảo hộ với những ngành lao động rẻ và chất lượng thấp tạo nhân tố bất lợi cho sản xuất nông nghiệp; cùng với sự thiếu thu
nhập ổn định và tình trạng mất đất - những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đói nghèo ở nông thôn. Những nguyên nhân này làm cho lao động nơng thơn gặp khó khăn
nhiều hơn thúc đẩy khát vọng tìm lên thành thị để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Mặt khác, tồn cầu hố làm tăng sự chênh lệnh, bất bình đẳng về kinh tế - xã hội
giữa nông thôn – thành thị, lao động giản đơn như nông dân ngày càng giảm ý nghĩa trong sản xuất và cạnh tranh mang tính tồn cầu trong sự phát triển như vũ
bão và không ngừng của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, con người - với năng lực và trình độ của mình ngày càng đóng vai trò trung tâm trong mọi hoạt động, mọi
quyết định của q trình sản xuất và cạnh tranh. Q trình tồn cầu hoá làm cho những người giàu càng giàu do biết tận dụng cơ hội hơn, còn người nghèo thì vẫn
đứng ngồi vòng tồn cầu hóa điển hình là người nông dân. Chênh lệch thu nhập, điều kiện sống và đặc biệt sự tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục cũng là một yếu tố
thúc đẩy dòng di cư ở nông thôn ra thành thị.
1.3.
KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DI CƯ TỪ
NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ
Hiện nay, di cư từ nông thôn ra thành thị đang là một vấn đề mà nhiều nước đang phát triển đang phải đối mặt, đặc biệt với các nước đang trong giai đoạn đầu
q trình cơng nghiệp hóa như Việt Nam. Trung Quốc được xem như là bài học kinh nghiệm một phần vì những tư liệu sẵn có và điều quan trọng hơn là có những
điều kiện tương đối giống Việt Nam theo nghĩa đang trong quá trình cơng nghiệp hóa, nền kinh tế có nơng nghiệp và cơng nghiệp, có những thành phố được coi là
đầu tầu của nền kinh tế và đang phải đối mặt với vấn đề dư thừa lao động, thiếu việc làm của lực lượng lao động nông thôn; hơn nữa Trung Quốc cũng như Việt
Nam đã dùng hệ thống hộ khẩu để theo dõi dân cư. Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới, tốc độ đô thị hóa cũng diễn
ra nhanh chóng. Diện tích đất canh tác hạn chế trong khi dân số đông làm cho tỷ lệ
thất nghiệp ở các vùng nông thôn ngày càng tăng. Hiện nay, ước tính Trung Quốc có từ 100 – 200 triệu lao động nơng thơn khơng có việc làm, hàng năm lại tăng
thêm từ 6 – 7 triệu người Zhan Shaohua, năm 2005. Với lực lượng lao động dư thừa này, hàng năm có đến hàng triệu người nhập cư
vào thành thị. Thực trạng này đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý đô thị về các mặt: quản lý dân cư, lao động việc làm, an ninh, sức khoẻ, kế hoạch hóa gia
đình, giáo dục và nhiều vấn đề xã hội khác. Trong những năm qua, mặc dù vẫn còn tình trạng di cư đến các đô thị lớn, nhưng với các biện pháp hữu hiệu, Trung Quốc
đã đạt được những thành tựu trong việc hạn chế sức ép về việc làm đô thị trong quá trình đơ thị hóa. Để đạt đựơc những thành cơng đó Trung Quốc đã tập trung vào các
vấn đề sau:
1.3.1. Phát triển doanh nghiệp địa phương để thu hút việc làm và giảm sức ép đơ thị
Các chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương đã được chính phủ Trung Quốc quan tâm. Nhờ vậy, chỉ
số tăng trưởng công nghiệp cao nhất của Trung Quốc là tỉ lệ tăng về số lượng các doanh nghiệp địa phương. Từ đầu năm 1990, khoảng cách chênh lệch giữa tốc độ
tăng trưởng của công nghiệp địa phương và công nghiệp đô thị ngày càng rộng ra. Trong năm 1991 và 1992, tốc độ tăng trưởng công nghiệp khu vực thành thị tương
ứng là 12.9 và 21.2, trong khi đó của doanh nghiệp địa phương là 25 và 52.2. Giá trị sản lượng công nghiệp của doanh nghiệp địa phương chiếm 9.1
tổng giá trị sản lượng quốc gia năm 1978, 16.3 năm 1984, 23.88 năm 1989, 30.8 năm 1991 và 36.8 năm 1992.
Tốc độ tăng trưởng cao của các doanh nghiệp địa phương đã tạo ra rất nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động dôi dư ở khu vực nông thôn. Số lao động làm
việc trong các doanh nghiệp địa phương so với tổng số lao động công nghiệp năm 1987 là 43.3 và 1991 hơn 50 Islam Nazrul, 1995. Khuyến khích xây dựng các
doanh nghiệp địa phương là một trong những giải pháp quan trọng của Trung Quốc
nhằm giải quyết vấn đề việc làm ở các đô thị lớn. Đây là một bài học bổ ích cho Việt Nam với giai đoạn đơ thị hố mạnh đang diễn ra hiện nay.
1.3.2. Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư ở các thành phố lớn
Sự phát triển các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn cùng với công nghiệp hố nơng thơn sẽ là một giải pháp để thu hút lao động dư thừa, góp phần tối đa việc
phân bổ các nguồn lực ở các khu vực và thu hẹp khoảng cách giữa các thành phố và vùng nông thôn.
Các đô thị mới được thành lập ở các vùng nông thôn thúc đẩy về nhu cầu phát triển công nghiệp nơng thơn và là nền tảng cho q trình chuyển đổi bộ mặt xã hội
của nơng thơn. Vai trò của các thành phố nhỏ là phân bổ các sản phẩm nơng nghiệp và các sản phẩm phụ, trong vòng 10 năm trở lại đây, các đô thị nhỏ đã trở thành
trung tâm sản xuất, dịch vụ, giải trí cũng như giáo dục và thông tin. Do vậy, người nông dân khơng còn phải quan tâm nhiều đến quy mơ của đô thị là lớn hay nhỏ như
trước kia.

1.3.3. Phát triển nguồn nhân lực


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×