1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Q trình tự do hố đầu tư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


Economic openness of Vietnam
50.8 135.4
108.4 91.5
72.4 61.4
54.3
8.4 47.5
30 60
90 120
150
1 9
8 6
1 9
8 7
1 9
8 8
1 9
8 9
1 9
9 1
9 9
1 1
9 9
2 1
9 9
3 1
9 9
4 1
9 9
5 1
9 9
6 1
9 9
7 1
9 9
8 1
9 9
9 2
2 1
2 2
2 3
2 4
2 5
2 6
2 7
Doi Moi
U.S - Vietnam
WTO Member
AP EC Member
EU - Vietnam
China- Vietnam
ASEAN Member
Japan - Vietnam
Nguồn: TCTK, năm 2007 Lưu ý: Độ mở của nền kinh tế được tính đại diện bởi tỷ số giữa kim ngạch
thương mại tổng xuất khẩu và nhập khẩu và GDP giá danh nghĩa.

2.1.1.2. Q trình tự do hố đầu tư


Luật Đầu tư Nước ngoài của Việt Nam được ban hành năm 1987 và đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần với các mức độ khác nhau vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000
và được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật đầu tư khá thơng thống, hấp dẫn, cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế.
Luật Đầu tư Nước ngoài sửa đổi năm 1992 đến năm 1995 đã tạo ra những thay đổi căn bản sau: về thời gian nhận được giấy phép đăng kí, trách nhiệm của đối tác
đầu tư, mức thuế ưu đãi với dự án vào các lĩnh vực đặc biệt ưu tiên… Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1996 đến năm 1999 đã tạo ra những thay
đổi căn bản sau: các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi có quyền tự lựa chọn các loại hình đầu tư, địa bàn, các đối tác đầu tư và mức tỷ lệ vốn góp trong
liên doanh liên kết với các đối tác đầu tư trong nước. Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 đến 2004 đã tạo ra những thay đổi
chủ yếu sau đây: Việc ban hành danh mục các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi được đăng ký kinh doanh đã được thực hiện, bỏ chế độ thu phí đăng ký
đầu tư kinh doanh, đa dạng hóa các hình thức đầu tư bởi các doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngồi, họ được phép mua cổ phần của các doanh nghiệp nội địa…
Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2005 đến nay đã tạo ra những thay đổi căn bản, đã thay thế Luật Đầu tư nước ngồi và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước,
việc ban hành Luật đầu tư chung năm 2005 đã đóng góp một phần quan trọng vào sự thành cơng của q trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, với việc Việt
Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007. Sau khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại Việt – Mỹ năm 2001, đầu tư từ Mỹ
đã tăng đáng kể trong vài năm gần đây, hiện chiếm khoảng 4,5 tổng số dự án và 4 tổng vốn đăng ký.
Trong số 64 tỉnh và thành phố trong cả nước thì đầu tư trực tiếp nước ngồi vào thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về tỷ trọng dự án đầu tư đăng ký
chiếm 30,3 tổng số dự án FDI cả nước và tỷ trọng vốn đầu tư đăng ký chiếm 22,9 tổng vốn đăng ký của cả nước trong giai đoạn 1998-2006. Tiếp theo sau là
thủ đô Hà Nội tương ứng là 11,5 và 16,1 và ở vị trí thứ 3 là tỉnh Đồng Nai với các tỷ lệ tương ứng là 10,5 và 13,3. Nếu phân theo vùng kinh tế thì Đơng
Nam Bộ được đánh giá là vùng có tỷ trọng dự án đầu tư và vốn đầu tư lớn nhất tương ứng là 62,0 và 54,1 tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng tương ứng
là 21,5 và 25,9. Một chỉ số được đánh giá cao về mức độ tin cậy là chỉ số tồn cầu hóa dựa trên
12 chỉ tiêu như: vốn FDI, thương mại, các cuộc gọi quốc tế, du lịch nước ngoài, kiều hối…Năm 2007, lần đầu tiên Việt Nam được đưa vào trong danh sách các
nước được tính chỉ số tồn cầu hóa. Vị trí 4872 của Việt Nam như vậy là khá cao và thực sự có ý nghĩa vì nền kinh tế Việt Nam hội nhập khá muộn so với đa số các
nước được xếp hạng, hơn thế nữa, các số liệu được tính tốn trong bảng xếp hạng chủ yếu là các số liệu năm 2005, khi Việt Nam chưa vào WTO, nghĩa là nếu sử
dụng số liệu 2006 hoặc 2007 vị trí xếp hạng của Việt Nam chắc còn cao hơn. Còn khá sớm để có một cái nhìn đầy đủ về TCH ở Việt Nam, bởi nếu tính từ thập niên
90 thế kỷ XX thì Việt Nam mới chỉ đi được những bước đầu tiên vào hội nhập toàn cầu. Tuy vậy, vị trí 4872 trong bảng xếp hạng chỉ số TCH là một khích lệ lớn
đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Do vậy, mức độ toàn cầu hóa của Việt Nam
được đánh giá ở những bước đầu tiên và đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO. Sau đây là bảng chỉ số tồn cầu hóa năm 2007 của một số quốc gia:
Bảng 2.1 Chỉ số toàn cầu hóa của Việt Nam năm 2007 so với các quốc gia khác
Tiêu chí Biến số
Quốc giaVùng lãnh thổ Đơn vị: thứ hạng trong 72 quốc giavùng lãnh thổ
Viết tắt: Sin: Singapore, Est: Estonia, ĐL: Đài Loan, VN: Việt Nam, TL: Thái Lan, TQ: Trung Quốc, Indo: Indonesia.
Sin Mỹ Est Đức
ĐL VN
TL Nga
TQ Indo
Hội nhập kinh tế
FDI 5
69 3
50 56
33 55
38 35
49 Thương mại
1 71
5 36
17 10
7 54
44 46
Giao thiệp cá nhân
Các cuộc gọi quốc tế 2
13 31
18 12
63 60
59 64
67 Du lịch nước ngoài
6 40
3 25
35 64
49 42
59 65
Kiều hối 60
66 22
59 30
15 38
51 55
58 Kết nối
công nghệ Số người sử dụng Internet
25 8
14 22
10 46
49 44
55 56
Số lượng máy tính nối mạng 12
1 25
10 71
42 41
61 55
Máy chủ được đảm bảo an ninh mạng
13 1
21 14
27 66
46 52
61 59
Cam kết chính trị
Tham gia các tổ chức quốc tế Tham gia các hoạt động gìn giữ
hồ bình của Liên hợp Quốc Tham gia các thỏa ước quốc tế
khác 42
14 40
1 26
68 20
44 14
5 12
40 72
71 61
56 69
41
29 59
61 29
33 55
42 41
61 29
67 55
Các chuyển giao tín dụng của nhà nước
56 46
6 20
61 41
55 47
68 67
Đánh giá chung
Kinh tế 2
71 3
45 28
19 21
49 43
48 Cá nhân
Cơng nghệ Chính trị
3 15
40 40
1 51
10 21
15 34
16 19
25 18
72
50 52
57
57 49
68 60
46 52
67 56
65 68
58 62
Xếp hạng 2007 Thay đổi so với năm 2006
1 7
10 22
37 48
53 62
66 69
-4 ...
-4 -2
... -8
-15 -15
-9
Nguồn: Tạp chí Foreign Policy, Hãng A. T. Kearney, năm 2008

2.1.1.3. Q trình tự do hố lao động


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×