1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Q trình tự do hố lao động

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Do vậy, mức độ tồn cầu hóa của Việt Nam
được đánh giá ở những bước đầu tiên và đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO. Sau đây là bảng chỉ số tồn cầu hóa năm 2007 của một số quốc gia:
Bảng 2.1 Chỉ số tồn cầu hóa của Việt Nam năm 2007 so với các quốc gia khác
Tiêu chí Biến số
Quốc giaVùng lãnh thổ Đơn vị: thứ hạng trong 72 quốc giavùng lãnh thổ
Viết tắt: Sin: Singapore, Est: Estonia, ĐL: Đài Loan, VN: Việt Nam, TL: Thái Lan, TQ: Trung Quốc, Indo: Indonesia.
Sin Mỹ Est Đức
ĐL VN
TL Nga
TQ Indo
Hội nhập kinh tế
FDI 5
69 3
50 56
33 55
38 35
49 Thương mại
1 71
5 36
17 10
7 54
44 46
Giao thiệp cá nhân
Các cuộc gọi quốc tế 2
13 31
18 12
63 60
59 64
67 Du lịch nước ngoài
6 40
3 25
35 64
49 42
59 65
Kiều hối 60
66 22
59 30
15 38
51 55
58 Kết nối
công nghệ Số người sử dụng Internet
25 8
14 22
10 46
49 44
55 56
Số lượng máy tính nối mạng 12
1 25
10 71
42 41
61 55
Máy chủ được đảm bảo an ninh mạng
13 1
21 14
27 66
46 52
61 59
Cam kết chính trị
Tham gia các tổ chức quốc tế Tham gia các hoạt động gìn giữ
hồ bình của Liên hợp Quốc Tham gia các thỏa ước quốc tế
khác 42
14 40
1 26
68 20
44 14
5 12
40 72
71 61
56 69
41
29 59
61 29
33 55
42 41
61 29
67 55
Các chuyển giao tín dụng của nhà nước
56 46
6 20
61 41
55 47
68 67
Đánh giá chung
Kinh tế 2
71 3
45 28
19 21
49 43
48 Cá nhân
Cơng nghệ Chính trị
3 15
40 40
1 51
10 21
15 34
16 19
25 18
72
50 52
57
57 49
68 60
46 52
67 56
65 68
58 62
Xếp hạng 2007 Thay đổi so với năm 2006
1 7
10 22
37 48
53 62
66 69
-4 ...
-4 -2
... -8
-15 -15
-9
Nguồn: Tạp chí Foreign Policy, Hãng A. T. Kearney, năm 2008

2.1.1.3. Quá trình tự do hố lao động


Di chuyển lao động nước ngồi vào Việt Nam: Với việc mở cửa và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam đang là một điểm đến lý tưởng của nhiều tổ
chức, công ty và các tập đoàn nước ngoài. Tuy nhiên, nguồn nhân lực có trình độ đủ
để đáp ứng nhu cầu của các cơng ty và tập đồn nước ngồi của Việt Nam lại hạn chế, điều đó đã dẫn đến nhu cầu sử dụng lao động nước ngồi tăng lên, đòi hỏi phải
có một dòng chảy lao động nước ngồi vào Việt Nam để đáp ứng sự thiếu hụt nhân cơng có trình độ trên thị trường.
Theo số liệu của Bộ Lao động thương binh và xã hội, tính đến đầu năm 2007, trong số 34.117 lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam, người làm công
việc quản lý chiếm 31,8, lao động chuyên gia kỹ thuật chiếm 41,2 và lao động khác chiếm 27. Số lao động nước ngoài đến Việt Nam làm việc tăng trung bình
60 mỗi năm giai đoạn 2000-2006 chủ yếu là người mang quốc tịch Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Anh, Pháp. Nếu theo châu lục thì lao động mang
quốc tịch châu Á chiếm khoảng 57, châu Âu chiếm khoảng 29 CIEM, 2008. Di chuyển của lao động Việt Nam ra nước ngoài chỉ xét xuất khẩu lao động:
Trong những năm gần đây xuất khẩu lao động của Việt Nam đã mở rộng góp phần giảm áp lực về tạo cơng ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động gia tăng hàng
năm. Theo số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội 2008, năm 1992 chúng ta mới xuất khẩu lao động sang 12 nước và vùng lãnh thổ, thì năm 1999 tăng
lên 36 nước và vùng lãnh thổ, sang năm 2006 con số này đã là hơn 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành nghề.
Hình 2.2 : Lao động xuất khẩu qua các năm của Việt Nam, 1996-2006
Đơn vị: Nghìn người
12.7 18
12.2 21.8
30 36.2
46.1 75.7
67.4 69.7
78.8
10 20
30 40
50 60
70 80
90
1996 1997
1998 1999
2000 2001
2002 2003
2004 2005
2006 Lao động xuất khẩu
Nguồn: Lê Xuân Bá và cộng sự 2001 Trong giai đoạn 1996-2006, Việt Nam đã đưa được 468,6 nghìn người đi lao
động ở nước ngồi. Riêng trong năm 2006, chúng ta xuất khẩu được 78,8 nghìn lao động, chiếm khoảng 1,8 số lao động có việc làm.
Di chuyển của lao động trong nước: Nghiên cứu của Lê Xuân Bá và các cộng
sự 2001, và CTK 2005 đều kết luận rằng di chuyển lao động trong nước của Việt Nam theo hai hướng: Từ nông thôn ra thành thị và từ miền Bắc di cư vào miền
Nam. Điều này là do: Thứ nhất, q trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa diễn ra hết sức mạnh mẽ, kéo theo đó là q trình đơ thị hóa, điều này làm cho diện tích đất
canh tác nơng nghiệp suy giảm, đẩy một số lượng lớn lao động ở nơng thơn vào tình trạng khơng có việc làm, những người này buộc phải di cư ra thành thị để kiếm cơ
hội việc làm mới ở đây. Thứ hai, sự bùng nổ của các khu công nghiệp khu chế xuất ở vùng Đơng Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm,
chính điều này đã tạo ra sức hút lao động ở các khu vực khác đến làm việc ở đây, tạo ra luồng di chuyển thứ hai của lao động, từ miền Bắc vào làm việc ở các khu
công nghiệp, khu chế xuất ở miền Nam.
2.1.2. Tồn cầu hố tác động tới các nhân tố thúc dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị tại Việt Nam
Có thể nói, lý do chính của q trình di cư nơng thơn – thành thị ngoài lý do xuất phát từ bản thân những người di cư đã nêu trong nhân tố ảnh hưởng ở chương
I, quan trọng hơn cả là tìm việc làm trong tình cảnh thất nghiệp ở nơng thơn gia tăng và mục đích cải thiện cuộc sống của họ. Phần này sẽ trình bày rõ tại sao tồn
cầu hóa làm gia tăng chênh lệch cả hai yếu tố: việc làm và điều kiện sống giữa nông thôn và thành thị và làm cho xu hướng di cư nông thôn ra thành thị mạnh mẽ hơn.
2.1.2.1. Q trình tồn cầu hố làm gia tăng cơ hội việc làm ở khu vực thành thị
Thế kỷ 21 đã mở ra một thời kỳ phát triển mới cho toản cầu, một thế giới đầy sôi động của q trình tồn cầu hóa. Điều đó đã thúc đẩy các nước tích cực gia nhập
vào các tổ chức quốc tế như : WTO tổ chức thương mại quốc tế, OECD tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, APEC diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình
Dương...một loạt các hợp tác, đối tác được ký kết giữa các quốc gia tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu bn bán giữa các nước trong thời kì
mở cửa. Cùng với sự luân chuyển mạnh mẽ của dòng vốn giữa các quốc gia và q trình chuyển giao cơng nghệ sôi động đã giúp các nước đang phát triển cải thiện
bức tranh kinh tế - xã hội của mình. Đây là yếu tố hình thành vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI - nguồn vốn quan trọng thúc đẩy quá trình CNH – HĐH của các
nước đang phát triển, giải quyết một phần công ăn việc làm cho người lao động. Bên cạnh đó, q trình tồn cầu hóa cũng làm tăng khoảng cách phát triển kinh
tế giữa nông thơn và thành thị. Đó là thành thị tạo ra nhiều việc làm hơn và có thu nhập cao hơn. Những lao động thuần nơng có thể tìm được những cơ hội việc làm
tốt hơn ở thành phố để cải thiện thu nhập cho gia đình của họ, đặc biệt khi dòng vốn đầu tư từ nước ngồi hầu hết chỉ được thu hút vào các khu vực thành thị và ven
thành thị. Điều này đã làm cho thành thị trở thành những cực nam châm thu hút một số lượng lớn người di cư từ nông thôn với mục đích tìm việc và cải thiện thu nhập.
Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1988 đến năm 2007 là 99596,2 triệu đơla, trong đó một số thành phố sau đứng đầu về thu hút vốn đầu tư nước
ngoài theo bảng sau.
Bảng 2.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số thành phố lớn năm 2007
Đơn vị : Tên thành phố
Tổng số vốn đăng kí triệu
Tỉ lệ vốn đăng kí Cả nước
99596 100
TP. Hồ Chí Minh 20174
20.26 TP. Hà nội
15085 15.15
TP. Đồng Nai 12824
12.88 TP. Bình Dương
8958 8.99
Nguồn : TCTK, năm 2007 Thành phố Hồ Chí Minh đứng đầu về tổng lượng vốn đăng kí và cũng dẫn đầu
về số lượng người nhập cư là: 191.172 người, với tổng dân số là 6.203.333 người Niên giám thống kê năm 2007 - đứng đầu cả nước. Bên cạnh đó, Bình Dương là
thành phố đứng thứ hai trong cả nước với tổng lượng người nhập cư là: 59.803 người, với dân số là : 986.017 người và đứng thứ 4 về tổng vốn FDI đăng kí; đứng
thứ ba về tổng lượng người nhập cư là Hà Nội với 47.122 người, dân số là : 3.183.817 người và đứng thứ hai trong tổng lượng vốn FDI đăng kí cả nước. Do đó,
có mối quan hệ thuận chiều giữa số lượng người di cư và khối lượng vốn FDI đăng kí ở các thành phố tập trung các khu công nghiệp, chế xuất cũng như trung tâm
thương mại - dịch vụ. Tồn cầu hóa có tác động quan trọng nhất là khai thác một cách hiệu quả lợi thế
so sánh của các quốc gia, trong đó điển hình là luồng vốn đầu tư nước ngoài tăng lên ở các nước đang phát triển giúp các quốc gia này phát huy được những lợi thế
của mình. Tuy nhiên, các luồng vốn đầu tư nước ngoài thường tập trung vào những nơi có điều kiện phát triển về cơ sở hạ tầng, thu hút FDI dựa trên lợi thế so sánh,
vùng nào có điều kiện tốt hơn sẽ có tiềm năng phát triển lớn hơn – các vùng này
đều là đô thị, trung tâm lớn với thị trường giàu tiềm năng, nguồn lao động lớn, trong khi đó vốn từ nước ngồi chảy vào các vùng nơng thơn lại hạn chế.
Số liệu thống kê cũng cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của các doanh nghiệp FDI trong việc tạo ra việc làm mới trong nền kinh tế, đặc biệt trong những
năm gần đây. Trong giai đoạn 2000-2006, việc làm mới được tạo ra bởi các doanh nghiệp FDI tăng trung bình 24,4 năm tăng gần gấp ba lần về mặt tuyệt đối, từ
227.000 người năm 2000 lên 700.400 người năm 2006, bỏ xa khu vực doanh nghiệp Nhà nước và tư nhân lần lượt là 3,3 và 2,3. Kết quả là tỷ trọng việc
làm được tạo ra bởi các doanh nghiệp FDI đã tăng từ 0,6 năm 2000 lên 1,6 năm 2006 ở Việt Nam
Bảng 2.3 Phần trăm lao động di cư làm việc trong các khu vực kinh tế
Đơn vị : Loại hình kinh tế
Phần trăm Dịch vụ công cộng
2.79 Kinh tế nhà nước
3.84 Doah nghiệp tư nhân trong nước
10.29 Doanh nghiệp nhỏ, khơng chính
thức 25.14
Doanh nghiệp liên doanh 14.31
Doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài
43.63 Tổng
100 Nguồn : Rural to Urban migration, Cu Chi Loi, 2005
Bảng 2.3 cho thấy lao động di cư từ nông thôn lên thành thị làm việc ở nhiều khu vực kinh tế khác nhau; trong đó vai trò của dịch vụ cơng cộng và doanh nghiệp
nhà nước rất giới hạn đối với việc thu hút nguồn lao động di cư. Các hãng tư nhân khu vực kinh tế chính thức khơng phải là động lực chính thu hút lao động di cư,
chỉ chiếm khoảng 10 lao động di cư làm việc. Trái lại, các cơ sở kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi bao gồm liên doanh và doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài tạo
ra nhiều việc làm hơn cho người nhập cư và thu hút 60 lao động di cư vào làm
việc, chưa tính tới các công việc gián tiếp do khu vực kinh tế này tạo việc làm cho người di cư. Bên cạnh đó, khu vực kinh tế khơng chính thức chiếm tới 25 trong
tổng số lao động di cư đang làm việc.
Bảng 2.4 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn ở các thành phần kinh tế
Đơn vị:
Tổng cộng
Tiến sỹ Thạc sỹ
Cử nhân,
kỹ sư Cao
đẳng Công
nhân kỹ thuật
Trung học
chuyên nghiệp
Không qua đào
tạo Tổn
g số 100
0,05 0,1
5 10,
9 1,7
29, 5
7,4 50,3
Kinh tế nhà nước
100 0,08
0,1 9
14, 5
1,4 40
8,5 35,33
Kinh tế ngoài
quốc doanh
100 0,07
8 0,1
3 9,5
1,7 20
6,3 62,29
FDI 100
0,03 0,1
7 6,9
3 14
3 72,9
Nguồn: TCTK, năm 2006 Ở tất cả các loại hình doanh nghiệp, lao động không qua đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ
khá cao, ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước tỷ lệ lao động không qua đào tạo thấp nhất cũng chiếm đến 35,3, tỷ lệ lao động không qua đào tạo chiếm tỷ lệ đặc biệt
cao ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi 72,9, và tỷ lệ này khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 62,3. Tỷ lệ lao động không qua đào tạo chiếm
tỷ lệ cao trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và đa số các lao động này đều xuất thân từ các vùng nông thôn để bổ sung cho cung lực lượng lao
động tại các vùng được đầu tư. Điển hình cho khu vực FDI thu hút lực lượng lao động di cư là các khu chế xuất,
cụm công nghiệp. Cuối năm 2005, một hecta đất công nghiệp ở khu công nghiệp, khu chế xuất đã vận hành thu hút 1.93 triệu USD, đạt giá trị sản xuất là 0.76 triệu
USD và xuất khẩu bình quân là 0.33 triệu USD. Tính đến tháng 6, năm 2006, các
khu công nghiệp và khu chế xuất đã thu hút khoảng 865000 lao động trực tiếp và 1.2 – 1.5 triệu lao động gián tiếp. Trong đó, số lao động trình độ đại học là 4-5,
kĩ thuật viên: 4-5, công nhân kĩ thuật qua đào tạo: 30 và lao động giản đơn là 60. Trong đó, một số khu cơng nghiệp và khu chế xuất của Đồng Nai, Bình
Dương, Quảng Ngãi, Quảng Ninh…thu hút trên 60-70 lao động di chuyển từ nông thôn đến.
Di cư nông thôn ra thành thị tới các doanh nghiệp tư nhân ở khu vực thành thị cả ở kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh với số lượng ngày càng tăng dường như
là dạng phát triển nhanh nhất của di cư trong nước. Với sự gia tăng cơ hội việc làm cho lao động di cư trong các ngành nghề dịch vụ, thương mại và cơng nghiệp – khu
vực đòi hỏi số lượng nhân công lớn như ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là nguyên nhân nữa đẩy mạnh quá trình di cư nơng thơn – thành thị. Đặc biệt trong bối
cảnh tồn cầu hóa, đi cùng với việc gia tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa đòi hỏi cần đầu tư nguồn lực sức lao động trong các ngành dệt, may, giày, dép và chế biến
thực phẩm. Đây là một trong những nhân tố thu hút lao động di cư đến từ nông thôn, đặc biệt là lao động nữ lao động nữ trong các ngành này chiếm tới 80.
Bảng 2.5 Tỉ lệ lao động nhập cư phân theo lĩnh vực kinh tế tại thành phố Hồ
Chí Minh Đơn vị:
STT Ngành
Tỉ lệ lao động nhập cư 1
Dệt, may 58.57
2 Xây dựng
49.92 3
Tài chính – Ngân hàng 44.54
4 Thương mại - dịch vụ
36.12 5
Chế biến lương thực - thực phẩm 28.11
6 Điện, điện tử, viễn thông
28.05 7
Giao thông, vận tải 27.85
8 Nông nghiệp
23.44 Nguồn: Nguyễn Trọng Liêm, năm 2006
Từ bảng 2.5 có thể thấy trong số lao động làm nhập cư làm việc trong các lĩnh vực kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh thành phố đứng đầu về số lượng người di
cư thì phần trăm lao động nhập cư làm việc trong các ngành dệt may và xây dựng là lớn nhất lần lượt là: 58.57 và 49.92, các ngành này đòi hỏi số lượng nhân
cơng lớn và trình độ lao động giản đơn đã trở thành nam châm thu hút những lao động từ nông thôn tới đơ thị tìm việc làm. Người di cư chiếm tỉ lệ thấp nhất trong
lao động nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Ngoài ra, các ngành nghề dịch vụ có số lao động nhập cư làm việc đơng đảo nhất, bởi đây là những ngành cần ít vốn,
khơng phụ thuộc nhiều vào tài nguyên như các ngành khác, trong đó chủ yếu là bán hàng, vận chuyển, phục vụ bán hàng, giúp việc gia đình và dịch vụ tư nhân khác,
trong bảng 2.4, ta thấy phần trăm lao động nhập cư làm việc trong các khu vực phi chính thức chiếm tới: 25.14. Nói chung, các ngành nghề có thu nhập tiền mặt ở đô
thị như các công việc trên thu hút mạnh mẽ người lao động nhập cư. Có thể nói, q trình tồn cầu hóa cùng với sự lưu chuyển tự do vốn và quá trình
thương mại hóa – thúc đẩy các nước phát triển như Việt Nam, phát huy lợi thế so sánh của mình xây dựng nhiều hơn các khu công nghiệp, khu chế xuất; xuất khẩu
các mặt hàng nhiều hơn đòi hỏi nhiều lao động hơn và phát triển rộng rãi các trung tâm dịch vụ - thương mại là những yếu tố thúc đẩy khối lượng lớn những luồng di
dân từ nông thôn đến các trung tâm đô thị, đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm.

2.1.2.2. Q trình tồn cầu hố làm gia tăng thất nghiệp ở khu vực nông thôn


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×