1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Q trình tồn cầu hố làm gia tăng thất nghiệp ở khu vực nơng thơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


dân từ nông thôn đến các trung tâm đô thị, đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm.

2.1.2.2. Q trình tồn cầu hố làm gia tăng thất nghiệp ở khu vực nông thôn


Quá trình tồn cầu hóa ở các nước đang phát triển diễn ra song hành cùng với q trình đơ thị hóa và cả q trình cơng nghiệp hóa. Di cư ở nước ta thường gắn
với tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn, thất nghiệp và thiếu việc làm, không đủ khả năng thu hút được hết số lao động dư thừa là do tăng trưởng của
nền sản xuất nông nghiệp; cùng với sự gia tăng quy mô dân số ở nông thôn và tỉ lệ đầu tư thấp làm trầm trọng thêm sức ép về việc làm ở khu vực này. Trung bình mỗi
năm, Việt Nam cần phải tạo ra 1,5 triệu việc làm mới. Số lượng thanh niên đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động hàng năm ước tính là 1,4 triệu người. Con số này
đương nhiên chưa bao gồm những người thất nghiệp từ năm trước song vẫn chưa tìm được việc làm xem Đặng và cộng sự, 2005. Nguyên nhân thất nghiệp ở nơng
thơn có thể xem xét từ các khía cạnh: đất nơng nghiệp, đầu tư xã hội và năng suất lao động trong ngành nông.
Thứ nhất, xét yếu tố đất nơng nghiệp trong bối cảnh tồn cầu hóa. Sự kiện Việt
Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa được diễn ra với tốc độ nhanh hơn trước. Cơng
nghiệp hóa diễn ra càng cao làm q trình đơ thị hóa diễn ra nhanh và quy mơ lớn. Điều này đòi hỏi phải hi sinh một bộ phận lớn đẩt đai mà chủ yếu là đất nông
nghiệp. Định hướng phát triển thiên lệch của các thành phố lớn và đô thị mang lại những
cơ hội học vấn và nghề nghiệp phong phú hơn và tạo nên sự hấp dẫn thu hút người dân ở nông thôn chuyển ra các thành phố lớn kiếm sống, lao động và học tập. Cùng
với điều này là quá trình đơ thị hóa, q trình cơng nghiệp hóa và tồn cầu hóa lần lượt theo chu trình, các khu cơng nghiệp được xây dựng nhiều lên thay thế cho đất
nông nghiệp làm cho diện tích đất nơng nghiệp cảng giảm thiểu; sản xuất nông
nghiệp đang dần được cơ cấu lại theo hướng sản xuất hàng hóa quy mơ lớn và công nghệ cao. Đối với những người bị thu hồi hết đất đai hoặc những người bị thu hồi
một phần đất đai nhưng không muốn tham gia hoạt động trong lĩnh vực nơng nghiệp nữa mà đơ thị hóa đang tạo ra những việc làm mới cho họ thì bộ phận này sẽ
chuyển hướng tham gia các hoạt động phi nông nghiệp hoặc nhiều người sẽ phải thay đổi cách thức canh tác trên mảnh đất còn lại của họ. Hầu hết những người này
phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp. Do đó, lao động nơng thơn, nguồn nhân lực lớn nhất của xã hội, đang tiếp tục chuyển ra khỏi sản xuất nơng nghiệp, tham gia
vào q trình thị trường lao động công nghiệp dịch vụ và phi nơng nghiệp diễn ra mạnh ở thành thị có thể tạm thời, theo mùa vụ hoặc cố định. Theo số liệu của Tổng
cục thống kê, dân số trung bình cả nước năm 2007 là 85.15 triệu người, trong đó khu vực nông thôn chiếm 72.6 triệu người. Giai đoạn 2000-2007, mỗi năm Việt
Nam tăng thêm 1.07 triệu người, tăng dân số trung bình 1.33năm. Tổng số lao động năm 2007 là 46.7 triệu người, chiếm 54.8 dân số, trong đó lực lượng lao
động đang làm việc chiếm 97.6. Đô thị hóa nhanh và lao động dịch chuyển mạnh từ nơng thôn ra thành thị khiến cho tốc độ tăng lao động thành thị tăng lên 4.7 so
với 2.0 giai đoạn 1996-2007. Trong 5 năm 2000 – 2005, có 366 nghìn ha đất nông nghiệp đã bị chuyển sang các mục đích khác. Trong những năm gần đây, các khu
cơng nghiệp phát triển lan ra nhanh tại nhiều tỉnh đặc biệt là ven thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội đã lấy đi khá nhiều đất nông nghiệp màu mỡ và tưới tiêu hồn chỉnh
nhưng chưa có địa phương nào mà công nghiệp tạo đủ việc làm cho lao động nông thôn tại chỗ; hàng năm, tỉnh nào cũng báo cáo về số dự án, số vốn đầu tư nước
ngoài vào các khu cơng nghiệp nơng thơn nhưng khơng có tỉnh nào báo cáo đầy đủ được họ đã giải quyết được bao nhiêu lao động tại chỗ cho khu vực của mình quản
lý.
Bảng 2.6 Diện tích đất thu hồi bình quân mỗi hộ theo loại đất
Đơn vị: m
2
Đất nông nghiệp Đất phi nơng nghiệp
Địa phương Hà Nội
562.8 330.0
Hải Phòng 878.0
857.0 Bắc Ninh
1376.4 1600.0
Hà Tây 1246.4
100.6 Đồng Nai
1428.1 790.0
Hồ Chí Minh 110.0
- Bình Dương
7643.9 40
Cần Thơ 3817.8
- Bình quân chung
2220.3 402.8
Nguồn: Thu nhập, đời sống và việc làm của người có đất bị thu hồi, năm 2007 Có thể thấy Bình Dương và Cần Thơ là hai tỉnh có đất nơng nghiệp bị thu hồi
cao nhất với 7643.9 m
2
ở Bình Dương và 3817.8 ở Cần Thơ, cùng với số đất bị thu hồi lớn như thế này làm cho tình trạng việc làm của người nông dân bức xúc hơn
bao giờ hết bởi diện tích đất này chủ yếu phục vụ nông nghiệp, do vậy, ảnh hưởng lớn tời đời sống và thu nhập của người nông dân. Theo con số thống kê cho thấy,
mỗi hộ nơng có 1,5 lao động, việc thu hồi đất trong những năm vừa qua tác động tới 950000 lao động, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm.
Có thể nói, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu trong nông nghiệp, tuy nhiên nước ta đang ở trong giai đoạn CNH ồ ạt, cơng nghiệp hóa quyết
định tiến trình đơ thị hóa và đơ thị hóa là hệ quả của cơng nghiệp hóa; phân cơng lao động xã hội có chuyển biến theo hướng lao động nông nghiệp giảm, lao động
trong công nghiệp và dịch vụ tăng và tất yếu. Trong làn sóng CNH, tình trạng mất đất nông nghiệp và gây ra thất nghiệp cho người nông dân do bị mất ruộng là không
thể tránh khỏi.
Hình 2.3 Ngun nhân chính di cư nơng thơn – thành thị
Đơn vị:
41 13
30 16
10 20
30 40
50 Việc làm
Gia đình Cải thiện
cuộc sống khác
khác Cải thiện cuộc sống
Gia đình Việc làm
Nguồn: Di cư nội địa, xu thế hiện tại, UNFA, năm 2007 Ngun nhân chính dẫn đến di cư nơng thơn ra thành thị đó là do yếu tố việc
làm chiếm 41 và sau đó là mong muốn cải thiện đời sống khi di chuyển đến thành thị chiếm 30. Vì vậy, yếu tố thiếu việc làm ở nơng thơn là động lực mạnh nhất
thúc đẩy người nông dân ra đi tìm việc làm ở thành thị; số lao động thất nghiệp ở khu vực nông thôn là không tránh khỏi khi Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của cơng
nghiệp hóa và ở giai đoạn đầu hội nhập. Ngồi yếu tố đất đai nơng nghiệp trong q trình tồn cầu hóa còn các yếu tố đầu tư cho nơng nghiệp, năng suất lao động nông
nghiệp.
Thứ hai, xét về yếu tố đầu tư trong nông nghiệp, nông thôn. Theo số liệu năm
1996, lao động nông thôn chiếm khoảng 80 tổng lực lượng lao động, thành thị chiếm khoảng 20 nhưng đến năm 2007 lao động nơng thơn đã giảm còn 74.6
tổng lực lượng lao động.
Hình 2.4 Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp từ năm 1986-2007
Đơn vị:
Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2007 Theo lý thuyết thì tăng trưởng kinh tế sẽ thu hút thêm lao động giải quyết việc làm.
Đầu tư là chìa khố của tăng trưởng kinh tế, đặc biệt đối với tạo việc làm, lý thuyết đã chứng minh rằng khi tăng đầu tư sẽ bù đắp những thiếu hụt của “cầu tiêu dùng”
từ đó tăng việc làm, tăng thu nhập, tăng hiệu quả biên của vốn đầu tư, và kích thích tái sản xuất mở rộng. Trong nông nghiệp, nông thôn, quan hệ đầu tư và tăng trưởng
vận động theo chu kỳ: tăng đầu tư = tăng thu nhập= tăng cầu= tăng đầu ra; và sang chu kỳ sau với quy mô lớn hơn
.
Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng bình qn của nơng nghiệp khoảng 4 1 năm tính từ năm 1995 đến năm 2007 có xu hướng ngày càng giảm như Hình 2.5
minh họa, hệ số co giãn việc làm so với 1 tăng trưởng kinh tế của nông thôn nước ta là: 0.43, do vậy mỗi năm nông nghiệp chỉ tạo ra số việc làm mới là 1.72 lực
lượng lao động, ít hơn số lao động tăng lên mỗi năm là gần 1 triệu người. Vì vậy, sự phát triển của nông nghiệp không thể giải quyết hết lao động tăng thêm ở nông thôn
những năm qua. Gia đoạn 1997 – 2006, tỷ trọng chi tiêu công cho ngành nông nghiệp chỉ chiếm
10 – 15 tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước. Năm 2007, chi
Tăng trưởng nông nghiệp giảm
tiêu công bằng 8.6 GDP nông nghiệp, tương đương với 7 tổng giá trị sản xuất nông nghiệp.
Hình 2.5 Tổng đầu tư xã hội cho tồn nền kinh tế và cho các ngành chính
Đơn vị: tỷ đồng
Nguồn: TCTK, Năm 2008 Đầu tư công của nông nghiệp luôn thấp hơn các ngành khác, mặc dù vai trò của
nơng nghiêp thì khơng thể phủ nhận. Đầu tư tồn xã hội cho nông nghiệp giảm từ 13.8 khoảng 109 ngàn tỷ đồng năm 2000, xuống còn 7.5 năm 2006, trong khi
đầu tư trực tiếp nước ngồi hầu như khơng tăng đáng kể. Trong khi đó, giá vật tư nguyên liệu đầu vào nơng nghiệp tăng trung bình từ 2-2.5, giá lao động nông
nghiệp tăng từ 2-3 lần nhưng giá nông sản chỉ tăng từ 1.2-1.3 lần. Năm 2006, vốn tích luỹ bình qn của một hộ nơng nghiệp là 5 triệu, bình quân một hộ sử dụng
0.63 ha đất sản xuất, quá nhỏ để tiến lên sản xuất hiện đại. Cả nước có 113.7 nghìn trang trại, chỉ chiếm hơn 1 tổng số hộ nông lâm – ngư nghiệp cả nước. Bình qn
một hộ sử dụng 4.5 ha đất nơng nghiệp – lâm nghiệp và thuỷ sản tương đương với một hộ nơng dân nhỏ ở Thái Lan.
Hình 2.6 Chi tiêu công cho nông nghiệp so với tổng GDP nông nghiệp ở một số
nước Đơn vị:
Nguồn: Viện nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế, năm 2008 Qua hình 2.6 có thể thấy tỷ lệ đầu tư cơng cho nơng nghiệp so với GDP nông
nghiệp của Việt Nam thấp hơn nhiều so với mức đầu tư ở nhiều nước phát triển khác. Do đó, có thể thấy được sự bất lợi của nông nghiệp Việt Nam trong việc tự tái
sản xuất mở rộng, phát triển công nghệ và chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa cũng như bất lợi trong q trình cạnh tranh trên thị trường
quốc tế trong bối cảnh tồn cầu hóa.
Thứ ba, xét về yếu tố năng suất lao động. Một thực tế hiện nay là tình trạng lao
động ở nơng thôn mới sử dụng khoảng 80 thời gian lao động; tỷ lệ thất nghiệp chiếm khoảng 6. Với tốc độ tăng trưởng ngày càng giảm nhưng thu hút đông đảo
nguồn lao động cả nước, ngành nơng nghiệp là ngành có năng suất thấp nhất; năng suất lao động nông nghiệp còn thấp vì lao động ở đây chủ yếu vẫn là lao động thủ
công hay lao động giản đơn. Khâu làm đất là khâu nặng nhọc nhất thì quá trình cơ giới hố diễn ra chậm.
Trong nơng nghiệp, ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng 80 giá trị tổng sản lượng nơng nghiệp, lúa là cây trồng chính. Năng suất lúa có tăng qua
các năm nhưng do yếu tố tăng diện tích là 60 và yếu tố năng suất tăng chỉ chiếm 40 trong đó ngồi yếu tố tăng năng suất do khoa học kĩ thuật thì tác động của
Chi tiêu công cho nông nghiệp so với tổng GDP nông nghiệp
0.2 0.4
0.6 0.8
1 1.2
1.4 1.6
1.8 2
1991 1992
1993 1994
1995 1996
1997 1998
1999 2000
2001 2002
Malaysia Philippines
Mexico Việt Nam
tăng năng suất lao động tới tăng năng suất lúa là khơng nhiều vì chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn rất thấp. Theo các nhà nghiên cứu, năng suất lao
động sẽ tăng nếu người nơng dân có trình độ học vấn ở mức độ nào đó ví dụ như khi họ tốt nghiệp phổ thơng. Ngồi ra, trình độ học vấn còn cho người lao động khả
năng lĩnh hội những kiến thức, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh. Với chất lượng của nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam như vậy sẽ hạn chế họ trong sản xuất và
kinh doanh, đặc biệt là tự tạo việc làm nhất là khi nông nghiệp gặp khó khăn hơn trong bối cảnh hội nhập sâu hơn của Việt Nam.
Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu thứ nhất về hạt tiêu chiếm 14,3 thị phần thế giới, về cà phê chiếm 40 thị phần thế giới, thứ hai về lúa gạo chiếm 12
thị phần thế giới, về hạt điều chiếm 9,5 thị phần thế giới...Với vị trí quan trọng như vậy, nơng nghiệp đã trở thành chìa khố đối với sự ổn định và phát triển của
đất nước. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, nơng nghiệp VN phải đối mặt với những thách thức cũng như cơ hội. Những thách thức đó là: nơng nghiệp Việt
Nam còn thấp kém trong khi đó ràng buộc kinh tế song phương và đa phương ngặt nghèo; nơng nghiệp chưa thốt khỏi tình trạng quy mơ nhỏ, phân tán và lạc hậu,
những phát triển chủ yếu theo bề rộng dựa trên khả năng tự nhiên, đầu tư khoa học và công nghệ thấp, khả năng cạnh tranh trên thế giới thấp: năng suất thấp, chi phí
sản xuất cao, công nghệ sau thu hoạch và chế biến lạc hậu; khó khăn trong việc vượt qua rào cản kĩ thuật khắt khe của các nước phát triển nhằm bảo hộ sản xuất
trong nước của doanh nghiệp; cơ sở hạ tầng, dịch vụ, hệ thống pháp lý còn bất cập; thiên tai gây thiệt hại cho sản xuất hàng hóa, xói mòn thối hóa đất canh tác, ơ
nhiễm mơi trường, cạn kiệt tài ngun rừng…Có thể nói, tồn cầu hóa hay việc gia nhập các tổ chức và thực hiện các cam kết quốc tế đã đưa rất nhiều sức ép cho
ngành nơng nghiệp, gây khó khăn cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng nghiệp nói chung, khó khăn cho người nơng dân nói riêng. Bên cạnh đó, tồn cầu hóa cũng
đem đến những cơ hội cho người nơng dân như: có cơ hội tiếp cận với những tiến
bộ về khoa học - công nghệ; giao lưu với các nền văn hoá; tiếp cận với những nguồn tài trợ để phát triển kết cấu hạ tầng, xố đói giảm nghèo; tiếp cận với nguồn
tài trợ nhân đạo của các tổ chức Liên hợp quốc và của các tổ chức phi chính phủ
quốc tế; người nơng dân cũng sẽ có nhiều cơ hội để lựa chọn khi mua hàng hố nơng sản của các nước khác vừa phong phú về chủng loại, vừa có chất lượng cao và
giá rẻ… Những thách thức này chắc chắn sẽ gây khó khăn cho nông nghiệp Việt Nam
trong thời gian tới đặc biệt trong khi năng suất lao động của nông nghiệp vẫn luôn thấp nhất trong số các ngành nghề khác.
Bảng 2.7 Năng suất lao động xã hội phân theo một số ngành kinh tế
Đơn vị:
2000 2003
2004 2005
2006 2007
Tổng số 11.7
15.1 17.2
19.7 22.5
25.9
Nông – lâm nghiệp 4.0

4.9 5.6


6.3 7.2


8.4
Thuỷ sản 15.1
18.2 19.6
22.2 24.7
28.2 Công nghiệp khai thác mỏ
166.6 193.5
223.5 260.5 269.5
280.9 Công nghiệp chế biến
23.1 27.5
30.1 33
36.6 41.0
Sản xuất, phân phối điện, khí đốt và nước
169.2 176.7
182.9 191.1 193.0
202.4 Xây dựng
22.7 22
23.2 26.7
30.2 35.1
Thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ, mơtơ, xe máy, đồ dùng cá nhân và
gia đình 16.1
18.4 20.4
23.1 26.0
29.5
Khách sạn và nhà hàng 20.9
25.0 29.8
38.2 45.8
55.2 Vân tải, kho bãi và thông tin liên lạc
14.8 20.7
25.3 30.3
36.1 41.7
Tài chính và tín dụng 108.4
99.0 102.0
96.4 96.3
98.9 Hoạt động khoa học và công nghệ
124.7 182.0
172.6 214.2 233.0
262.6
Nguồn: TCTK, năm 2007 Có thể thấy từ bảng 2.7, dù năng suất nơng nghiệp có tăng qua các năm nhưng
năng suất thuộc ngành nông nghiệp là thấp nhất trong các ngành kinh tế, điều này cũng tương đồng với mức lương thấp nhất
Đa số các nhà kinh tế đều thừa nhận, ở những nền kinh tế mở năng suất lao động tăng nhanh hơn và 90 sự khác biệt về tiền lương được giải thích bởi sự khác
biệt về năng suất lao động. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm biến động thị trường lao động và thúc đẩy dòng di cư nơng thơn – thành thị tìm đến
những vùng có mức lương cao hơn để cải thiện cuộc sống.
2.1.2.3. Q trình tồn cầu hố thúc đẩy đến sự gia tăng về chênh lệch điều kiện sống giữa nông thôn và thành thị
Theo số liệu hình 2.3, có thể thấy được nguyên nhân những người nông dân muốn rời bỏ quê hương ra thành phố là vì họ muốn cải thiện mức sống chiếm tới
30, để tìm việc làm là 41 hay nói cách khác di cư từ nơng thơn ra thành thị là chiến lược sống của người di cư. Quả thực, theo Báo cáo Phát Triển Thế Giới năm
2008 Nông nghiệp cho Phát triển đã xác định di cư nội địa mà chủ yếu là di cư từ nơng thơn ra thành thị là “con đường thốt nghèo” quan trọng đối với các hộ gia
đình ở nơng thơn. Dưới ảnh hưởng của tồn cầu hóa hay sự hội nhập ngày càng sâu của Việt Nam theo xu thế chung của các quốc gia trên thế giới đã làm cho dòng di
cư từ nơng thơn ra thành thị tăng nhanh về quy mô trong những năm gần đây, những phúc lợi mà tồn cầu hóa mang lại cho các quốc gia có lẽ được thể hiện
nhiều hơn ở khu vực thành thị hay sự hội nhập, tự do hoá thương mại, tham gia WTO có thể mở rộng thịnh vượng chung, nhưng khơng nhất thiết sự mở rộng đó lại
được phân chia một cách đồng đều. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng những cải cách thương mại và xuất khẩu đã góp phần giảm nghèo đói và cũng cho thấy đói
nghèo liên quan mật thiết đến các yếu tố kinh tế xã hội khác như vị trí địa lý, đặc trưng dân tộc và số thành viên trong gia đình…Dưới tác động của q trình tồn
cầu hố, sự chênh lệch về mức sống, cơ hội tìm kiếm việc làm, nhu cầu dịch vụ xã hội và sức ép sinh kế đang ngày càng trở thành những áp lực cơ bản tạo nên các
dòng di cư nơng thơn – thành thị. Rõ ràng rằng sự khác biệt về tiền lương và thu nhập giữa các vùng, đặc biệt giữa nông thôn và thành phố lớn là yếu tố thúc đẩy quá
trình di dân và di chuyển lao động tới đơ thị.
Bảng 2.8 Thu nhập bình qn chung của đơ thị so với nơng thơn các vùng địa lý
theo nhóm Đơn vị: lần
Tồn mẫu Đơ thịNơng thơn
Tồn mẫu
Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 1.78
2.93 2.54
2.18 1.86
1.55 Đồng bằng Sông
2.02 3.06
2.61 2.33
1.09 1.76
Hồng Đông Bắc
2.17 3.66
3.11 2.66
2.3 1.73
Tây Bắc 2.05
3.73 3.24
2.64 2.02
1.53 Bắc Trung Bộ
2.33 3.29
2.66 2.52
2.52 2.25
Nam Trung Bộ 1.39
2.33 2.03
1.82 1.56
1.13 Tây Nam
1.41 2.63
2.17 1.78
1.46 1.31
Đông Nam Bộ 1.58
2.82 2.57
1.98 1.65
1.42 Đồng bằng Sông
Cửu Long 1.2
2.23 1.81
1.57 1.31
1.02 Nguồn: Thực trạng phân tầng mức sống đơ thị và nơng thơn, năm 2006
Nhóm nghèo ở nơng dân được chia thành 5 nhóm cơ bản: nhóm nghèo nhất; nhóm gần nghèo nhất; nhóm trung bình; nhóm gần giàu nhất; nhóm giàu nhất
TCTK, 2006. Chênh lệch thu nhập đơ thị và nơng thơn là 1.78 và có xu hướng tăng lên ở những vùng phía Bắc. Thu nhập bình qn chung đơ thị cao gấp 1.78 lần
so với của nơng thơn 6.24 nghìn đồng so với 351.5 nghìn đồng so với Điều tra năm 2004. Theo Tổng cục Thống kê, có 85 số dân thành thị thuộc hai nhóm ngũ phân
vị cao nhất trong khi có tới gần một nửa số dân nơng thơn thuộc hai nhóm ngũ phân vị thấp nhất. Chênh lệch trong mức sống giữa thành thị và nơng thơn còn được thể
hiện rõ qua các đặc trưng về nhà ở như nguồn nước, phương tiện vệ sinh, vật liệu xây nhà, số phòng ngủ và hàng tiêu dùng lâu bền của hộ.
Có tới 65 số dân thành thị được sử dụng nước máy trong khi chỉ có 11 số dân nơng thơn dùng nước máy; 92 số dân thành thị có nhà xây bằng vật liệu kiên
cố thì con số này ở nơng thơn là 67. Hơn nữa, những thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đơ thị khác
là miền đất hứa của nhiều người về môi trường giáo dục và đào tạo, nghiên cứu, về điều kiện y tế, chăm sóc sức khoẻ, đời sống văn hố tinh thần, các phương tiện
thông tin đại chúng…Những nhân tố này là những yếu tố thu hút lượng di cư mạnh mẽ từ nông thôn ra thành thị nhưng lại là những di cư chính thức, còn di cư tự do
lên thành thị, đặc biệt là di cư tự do theo mùa vụ thì yếu tố việc làm và thu nhập có ảnh hưởng lớn đến họ hơn các yếu tố thuận lợi về kinh tế, xã hội và văn hóa trên.
Nói đến hội nhập kinh tế là: nói đến việc rỡ bỏ rào cản cho các hoạt động kinh tế. Hiểu theo nghĩa rộng, rào cản là tất cả những yếu tố làm tăng chi phí di chuyển
của hàng hóa, vốn và lao động, những rào cản đáng kể nhất trong nước là chi phí vận tải và chi phí cập nhật thơng tin; chi phí cập nhật thơng tin, điển hình là điện
thoại vẫn còn cao, cho dù hiện đang được cải tiến đáng kể - đây là yếu tố quyết định đến việc giảm rủi ro về biến động giá cả hàng hóa khi mà nắm bắt được thơng tin
thị trường ở các địa phương khác nhau theo nghĩa hẹp và thị trường quốc tế theo nghĩa rộng; rào cản vốn gia tăng tổng chi phí đầu tư và lưu chuyển vốn giữa các địa
phương, đặc biệt phải kể đến việc chuyển vốn từ những điểm nóng kinh tế đến những vùng nghèo và hoạt động kinh doanh rất thưa thớt, thị trường hàng hóa quá
nhỏ ảnh hưởng đến thị trường vốn. Chi phí quản lý và thu thập thông tin, sẽ cản trở lớn cho sự lưu thông, thu hút vốn vào những thị trường nhỏ như khu vực nơng thơn.
Một ví dụ nhỏ minh họa: nhiều hộ ở vùng xa muốn vay vốn của Ngân hàng Nông nghiệp để phát triển chăn ni lợn. Họ khó tiếp cận vốn vay vì nguồn vốn từ
địa phương thì ít mà những ngân hàng lớn lại không muốn bỏ tiền lập chi nhánh ở những vùng xa rào cản về vốn. Nếu phải vay ở xa, đối với một khoản vay nhỏ độ
5–6 triệu đồng, chỉ riêng tiền đi lại của người dân để trả lãi suất hàng tháng cũng khoảng 30 ngàn đồng, bằng tiền trả lãi ngân hàng. Họ cũng khó mua con giống, và
khi sản xuất xong rồi lại phải chuyên chở rất vất vả mới có thể tiêu thụ được. Họ lại thiếu thông tin về giá cả thị trường chung, nên hoàn toàn bị động và dễ phải mua
bán với giá khơng có lợi... Hòa nhập được với thế giới, những vùng kinh tế trung tâm sẽ trở thành thành
phần của thị trường hàng hóa, thị trường vốn toàn cầu. Mặt khác, những khu vực trung tâm này càng ngày càng tách rời khỏi những vùng phụ cận. Đã bị biệt lập từ
trước, các vùng này ngày càng khó theo kịp khu vực kinh tế chính, nhất là khi khu vực kinh tế chính hướng ra thị trường quốc tế và không cần quá quan tâm đến thị
trường trong nước nữa. Hậu quả là khoảng cách giữa kinh tế các vùng ngày một rộng
Những khó khăn này tạo ra chênh lệch mức sống lớn giữa nông thôn và thành thị. Đây là sức ép rất mạnh đối với việc di cư. Người dân nông thôn tuy có khát
khao vươn lên cuộc sống no đủ nhưng lại bị cơ lập về hàng hóa, về thơng tin, về
công nghệ, về vốn. Kết quả là họ muốn di cư ra thành phố tìm cơ hội. Khu vực thành thị vì thế sẽ phải chịu sức ép di cư từ chính sự biệt lập của nơng thơn.
Với hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực thành thị được hưởng nhiều hơn từ thương mại - dịch vụ quốc tế so với khu vực nông thôn. Nghiên cứu của UNDP
2005 cho thấy tại đồng bằng sông Cửu Long - một vựa lúa của cả nước, người nông dân chỉ được hưởng thụ 16 lợi nhuận từ xuất khẩu, phần còn lại là tư thương
và những người chế biến gạo mà họ chủ yếu là những người ở các thị xã, thị trấn trong vùng. Chênh lệch về lợi ích thu được từ thương mại - dịch vụ làm cho chênh
lệch về giàu nghèo giữa thành thị và nơng thơn có xu hướng dỗng rộng ra, theo dự báo về tồn cầu hóa và ảnh hưởng tới đói nghèo ở Việt Nam thì có tới 80 nơng
thơn Việt Nam bị loại ra ngồi q trình tồn cầu hóa. Tồn cầu hố sẽ tác động nhiều hơn đối với lao động có trình độ cao làm việc
trong khu vực kinh tế chính thức, các đơ thị lớn đó là tạo ra nhiều việc làm hơn, góp phần chuyển gaio cơng nghệ, kỹ năng quản lý và làm tăng năng suất lao động
trong những khu vực này, trong khi đa số người nghèo lại có trình độ thấp sinh sống chủ yếu tại các vùng nông thôn hoặc làm việc trong các khu vực kinh tế phi
chính thức. Do vậy việc đảm bảo cho người nghèo hưởng thụ được các kết quả của tồn cầu hố là một trong những thách thức của các quốc gia.
Không thể phụ nhận là hội nhập kinh tế sâu rộng hay tồn cầu hóa làm cho nền kinh tế Việt Nam thay đổi sâu sắc về bộ mặt kinh tế xã hội, về cơ bản, TCH là một
hiện tượng đi theo logic của tiến bộ xã hội. Theo logic này, xét cho cùng, xã hội loài người nói chung, sẽ ngày một tốt đẹp hơn, trong đó, đời sống con người sẽ ngày
một dễ chịu hơn. Có thể nói, di cư từ nơng thơn ra thành thị là một tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế nhưng tồn cầu hóa đặc biệt là q trình hội nhập ngày càng
sâu của các nước đang phát triển như Việt Nam ở thời kì đầu của quá trình cơng nghiệp hóa, tồn cầu hóa đã làm gia tăng sự chênh lệch về cơ hội việc làm, tạo ra
thất nghiệp ở nông thôn nhiều hơn và làm gia tăng sự chênh lệch về điều kiện sống giữa nông thôn và thành thị khiến động lực di cư nông thôn và thành thị càng thêm
mạnh mẽ.

2.2. TÌNH HÌNH DI CƯ NƠNG THƠN RA THÀNH THỊ DUỚI TÁC ĐỘNG CỦA TỒN CẦU


2.2.1. Thực trạng dòng di cư 2.2.1.1. Tổng quan về dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị tại Việt Nam
từ năm 1996 -2008
Công cuộc đổi mới không chỉ trực tiếp đem lại cho người dân những cơ hội kinh tế mà còn tác động đến di cư bằng nhiều cách khác nhau, đặc biệt trong việc thúc
đẩy các luồng di cư lao động từ nông thôn. Về bản chất, sự nghiệp Đổi mới đem lại những biến đổi về cấu trúc xã hội, với sự chuyển đổi từ hệ thống kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường. Di cư là một khái niệm khá rộng bao gồm nhiều loại hình di cư như di cư trong nước, di cư ra nước ngồi; trong đó; di cư nông thôn
– thành thị là một khái niệm di cư xem xét về nơi đi và nơi đến. Sau thời kì Đổi mới, di dân tự do hay chủ yếu là di cư từ nơng thơn ra thành thị
có thể chia làm hai thời kì: từ năm 1986 đến năm 1996 và từ năm 1996 đến nay. Thời kì trước năm 1996, dòng di cư tự do hay chủ yếu là di cư từ nông thôn ra
thành thị phát triển mạnh mẽ do việc xóa bỏ cơ chế bao cấp và tính hấp dẫn của nền kinh tế thị trường đã làm cho các vùng đơ thị có lợi thế hơn rất nhiều. Thời kì sau
năm 1996, tỉ lệ nhập cư vào các thành phố có giảm so với giai đoạn trước, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng di cư vào các thành phố lớn chủ yếu là vì kinh tế,
tìm việc làm để tăng thu nhập nâng cao mức sống, còn có các ngun nhân khác như đi học tập, đào tạo, dậy nghề.
Trong tổng số gần 1,1 triệu người di cư điều tra Di cư năm 2004 thì số người ở nơng thơn di cư chiếm 60, gấp 1,56 lần số người ở thành thị di cư. Dân số nữ di
cư cao gần gấp rưỡi dân số nam di cư 58,7 so với 41,3. Trong các luồng di cư nơng thơn-thành thị thì luồng di cư lớn nhất là luồng di cư nông thôn - nông thôn
38,3, tiếp đến là luông di cư thành thị - thành thị 27,1, và luồng di cư nông thôn - thành thị 22,7.
Kết quả Điều tra di cư Việt Nam năm 2004 cho thấy phần lớn người di cư có nguồn gốc xuất thân từ nơng thơn hiện đang sinh sống và làm việc tại các đô thị. Số
liệu trình bày ở Bảng 2.1 cho thấy hầu hết những người di cư, không phân biệt nơi cư trú hiện tại, đều xuất thân từ nông thôn. Khoảng 85 người di cư trong mẫu
khảo sát ở địa bàn đô thị sinh ra tại khu vực nông thôn, trong khi dưới 3 người di cư ở thành thị sinh ra tại các thành phố lớn.
Bảng 2.9 Phân bố phần trăm người di cư theo nơi sinh và nơi cư trú hiện tại
Nơi sinh Nơi cư trú hiện tại
Thành phố lớn Thị trấn, thị xã
Nông thôn Tổng số
Nguồn: TCTK, năm 2006 Khơng có gì đáng ngạc nhiên với những kết quả trong Bảng 2.9, khi trên thực tế
di cư nông thôn - nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong các dòng di cư trong nước. Trong các dòng di cư đều diễn ra trong thời gian gần đây, kết quả chỉ ra rằng khu
vực nông thôn hiện vẫn là nguồn cung cấp người di cư chủ yếu đến khu vực đô thị và nông thôn ở Việt Nam.
Trong 8 vùng địa lý – kinh tế thì chỉ có vùng Đơng Nam Bộ trong các năm duy trì là nhập cư thuần từ các vùng khác đến năm 2005, tỷ suất di cư thuần là: 7.2 phần
nghìn và năm 2006 có là 10.4 phần nghìn trong khi đó các vùng còn lại tỷ suất di cư thuần đều là số âm như Đồng bằng sông Hồng, năm 2005 tỷ suất di cư thuần là
-0.6 phần nghìn và năm 2006 là - 0.2 phần nghìn. theo TCTK – 2006. Vùng Đơng Nam bộ tiếp tục là vùng có tốc độ đơ thị hóa cao, các khu cơng nghiệp
phát triển mạnh, nên vẫn là vùng thu hút dân nhập cư lớn nhất, tỷ suất nhập cư thuần ở vùng này ln duy trì ở mức cao nhất trong cả nước. Loại trừ vùng Duyên
hải Nam Trung bộ, ở tất cả các vùng xuất cư thuần đều có tỷ suất xuất cư thuần của Thành phố lớn
2,4 2,3
2,2 2,3
Thị xã, thị trấn 12,4
12,4 6,0
10,2 Nông thôn
85,2 85,2
92,8 87,5
Tổng số 100,0
100,0 100,0
100,0 Số lượng
1.977 1.275
1.715 4.967
nữ giới cao hơn nam giới. Sở dĩ có tình trạng trên là do vùng Đông Nam bộ là vùng có tỷ suất nhập cư thuần gần như là duy nhất của cả nước có tỷ suất nhập cư thuần
của nữ cao hơn nam khá nhiều 7,8 so với 6,58 phần nghìn – năm 2005 đã thu hút nữ giới của các vùng khác nhập cư đến vùng này. Vì đó là do nhu cầu cao với lao
động nữ trong một số ngành dịch vụ và ngành công nghiệp. Xã hội cũng thấy được số ưu việt của phụ nữ vì họ thường độc lập về kinh tế, khơng ngại di chuyển…hơn
nữa, lại có một nhu cầu lớn về lao động nữ giới tại các nhà máy cần nhiều lao động, nhất là các ngành nghề kinh doanh dịch vụ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã
thu hút đông đảo người di cư là phụ nữ đến làm việc, cộng thêm các nhà máy sản xuất hang hóa cần nhiều lao động như nhà máy dệt, nhà máy may, nhà máy sản xuất
giầy dép và chế biến là động lực chính khuyến khích phụ nữ di cư ngày càng đơng.. Nhìn chung, nhóm dân cư thành thị có xu hướng di cư lần đầu muộn hơn so với
dân di cư nông thôn. Kết quả cũng cho thấy sự trải nghiệm khác nhau về di cư lần đầu liên quan đến học tập và làm việc giữa các nhóm di cư có nguồn gốc
xuất thân khác nhau. Nhìn chung, sự khác nhau này không chỉ tồn tại giữa khu vực nông thôn và thành thị, mà còn giữa thành phố lớn và thị xãthị trấn,
trong đó người di cư sinh ra ở thị trấnthị xã di cư lần đầu ở độ tuổi trẻ nhất.
Hình 2.7 Xác suất di chuyển theo tuổi và loại hình di cư.
Nguồn: Điều tra di cư TCTK, 2004
Nơng thơn-nơng thơn Thành thị-nơng thơn
Nơng thơn-thành thị Thành thị-thành thị
Tuổi
Có thể thấy, độ tuổi của những người di cư từ nông thôn – thành thị là trẻ nhất, 50 trong số người di cư có độ tuổi nhỏ hơn 25. Kết quả phản ánh tình hình di cư
của dân số trẻ sinh sống tại các tỉnh lỵ và huyện lỵ đi tìm cơ hội lao động và học tập ở các thành phố lớn.

2.2.1.2. So sánh Quy mơ của dòng di cư từ nông thôn ra thành thị


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×