1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Độ tuổi của dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị Học vấn và chun mơn kĩ thuật, nghề nghiệp của những người di cư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


Tây Nguyên 4,34
4,67 -0,33
4.7 4,9
-0,2 6,5
5,1 1,4
Đông Nam bộ
8,72 1,50
7,22 10,3
3,1 7,2
13,5 3,1
10,4
Đồng bằng sông Cửu
Long 0,56
2,83 -2,27
0,8 2,6
-1,8 1,1
4,7 -3,6
Nguồn: TCTK, năm 2007 Từ năm 2002 – 2005, cả nước có 486.500 người di cư, trong đó 57 di cư từ
nơng thơn ra thành thị. Những vùng có tỷ suất di cư dương đó là: Tây Ngun và Đơng Nam Bộ với 1.4‰ và 10.4‰. Tỷ suất di cư thuần ở Tây Nguyên trong vài
năm trở lại đây đã có xu hướng giảm, năm 2004 Tây Nguyên có tỷ suất di cư thuần là -0,33 phần nghìn thì năm 2005 chỉ còn -0,2 phần nghìn. Điều đó phản ánh một
thực tế là trong vòng 2 năm trở lại đây, giá cả các loại cây lâu năm như cà phê, hạt tiêu, cao su ở Tây Nguyên đã có xu hướng tăng trở lại, người nơng dân đã bắt đầu
có lãi nên khơng còn muốn chuyển đi nơi khác. Còn đồng bằng Đơng Nam Bộ thì tỷ suất di cư thuần ln dương và có xu hướng tăng, đây là nơi tập trung các khu công
nghiệp và chế xuất của cả nước nên thu hút rất nhiều dòng di cư từ ngoại tỉnh đến làm ăn và sinh sống. Bên cạnh đó, đồng bằng sơng Hồng có tỷ suất di cư có chiều
hướng giảm bởi những năm gần đây đã phát huy được thế mạnh của mình và thu hút được lượng vốn đầu tư xã hội đáng kể do vậy cũng là một trong những trung
tâm kinh tế của cả nước và là nơi có số người nhập cư và di cư khá ổn định.

2.2.1.3. Độ tuổi của dòng di cư từ nông thôn ra thành thị


Theo số liệu thống kê năm 2005, số người di cư từ nông thôn – thành thị trong tổng số di cư chiếm 61 điều tra biến động dân số năm 2005 – TCTK. Trong tổng
số người di cư thì những người di cư ở độ tuổi 20-29 chiếm tới gần một nửa 46,6, độ tuổi sung mãn nhất của con người. Điều đó cho thấy những người di cư
chủ yếu là đi tìm việc làm và đi học.
Hình 2.8 Phần trăm người di cư từ nông thôn phân theo độ tuổi
Đơn vị:
5.50 4.20 4.60
15.10
46.60 12.80
5.90 5.40
1-4 tuổi 5-9 tuổi
10-14 tuổi 15-19 tuổi
20-29 tuổi 30-39 tuổi
40-49 tuổi 50+ tuổi
Nguồn: Điều tra biến động dân số - TCTK, năm 2007 Đặc điểm đặc trưng nổi bật khác là có nhiều người trẻ trong những người di cư
hơn so với nhóm người khơng di cư, có tới 41 người di cư còn độc thân trong nhóm người di cư và tỉ lệ này là 16 ở những người khơng di cư; cơ bản vì những
người còn độc thân khơng bị ràng buộc nhiều bởi gia đình nên họ di cư nhiều hơn.

2.2.1.4. Học vấn và chuyên môn kĩ thuật, nghề nghiệp của những người di cư


Có thể nói trình độ học vấn và nghề nghiệp của những người di cư từ nông thôn ra thành thị có quan hệ mật thiết với nhau.
Bảng 2.11 Số năm đi học trung bình tại những thời điểm khác nhau trong cuộc
đời người di cư chia theo giới tính Đơn vị: năm học
Thời điểm Số năm đi học trung bình
Nam Nữ
Trước khi di chuyển lần đầu
9.1 8.9
Trước khi di chuyển lần gần nhất
9.2 9.0
Vào thời điểm điều tra 9.5
9.2 Số lượng
2110 2828
Nguồn: Di cư là liên hệ đời sống, TCTK, năm 2004 Có thể thấy, trình độ giáo dục trung bình của người di cư là hồn thành lớp 9;
hầu hết họ có thể đọc và viết; ngoài ra 80 trong số người di cư đã hồn thành chương trình trung học cơ sở và trung học phổ thơng. Thực tế cho thấy người di cư
có trình độ học vấn cao hơn so với người di cư cuộc khảo sát năm 19971998 trong khi số người hoàn thành tiểu học là 65.
Thực tế cho thấy, người di cư có trình độ học vấn khá cao, nhưng trái lại họ không được đào tạo để làm các công việc ở thành thị ngay từ đầu; 70 trong số
người di cư chưa qua lớp đào tạo nghề nào, số người có bằng cấp và được đào tạo chỉ chiếm 20. Do vậy, phần lớn lao động di cư làm các cơng việc đòi hỏi lao động
giản đơn chiếm từ 42-60 tổng lao động di cư theo hình 2.9. Có thể nói, có một tỷ trọng lớn người di cư từ nông thôn – thành thị làm việc trong các doanh nghiệp
trong nước và có vốn đầu tư nước ngồi. Nhưng phải nói rằng, các doanh nghiệp khơng thể thu hút tất cả số lao động di cư từ nơng thơn vì họ chỉ tuyển những người
trẻ, có đủ kĩ năng làm việc. Do vậy, những người di cư khác còn lại sẽ làm việc như: bán hàng rong, thợ thủ công, thợ đánh giầy, người sửa chữa, quét rác, giúp
việc trong gia đình…hay gọi là khu vực khơng chính thức, những lao động khơng có kĩ năng làm việc trong khu vực này chiếm tới 32.7, là công nhân ở khu vực
doanh nghiệp là 35.98 và ở khu vực khác là 31.31.
Hình 2.9 Phân bố nghề nghiệp người di cư qua các giai đoạn của chu trình sống
Đơn vị:
20 40
60 80 100
Trước lần di chuyển lần
đầu Sau lần di
chuyển lần đầu
Tại thời điểm khảo sát
Chuyên môn bậc cao hoặc bậc trung
Lao động có kĩ thuật
Lao động giản đơn Đi học
Khác
Nguồn: TCTK, năm 2004
Hình 2.9 cho thấy được sự thay đổi nghề nghiệp của người di cư theo số lần di chuyển, số lao động có chun mơn bậc cao hoặc bậc trung tăng từ 1.5 lần đầu di
chuyển lên 3 sau lần đầu di chuyển và lên tới 8 tại thời điểm khảo sát và tương tự như vậy số lao động di cư lao động có kĩ thuật cũng tăng nhanh chóng từ
8.5 đến 33 và 34.5. Bên cạnh đó, số lao động khác hay bao gồm lao động thất nghiệp thấp và có xu hướng tăng nhưng rất nhỏ từ 3-7. Kết quả này cho thấy tỉ lệ
có việc làm và hoạt động kinh tế khá cao của người di cư khoảng 97 những người di cư có sự thay đổi nghề nghiệp cao; bên cạnh đó, mức độ thăng tiến về
nghề nghiệp của người di cư khá cao 34 so với tỷ trọng tụt hậu về nghề nghiệp 7 theo TCTK, năm 2007. Có hơn một nửa là nam giới được thu hút vào làm
cho cá thểtiểu chủ sau khi di cư. Các loại hình kinh tế quan trọng khác là tư bản tư nhân, tập thể và nhà nước và cơ sở kinh doanh có vốn đầu tư nước ngồi. Với người
di cư là nữ, 45 làm cho cá thểtiểu chủ nhưng có hơn một phần tư bắt đầu làm ở các cơ sở kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi.
Người di cư rất ít sử dụng các trung tâm giới thiệu việc làm. Chỉ có 56 người di chuyển để tìm việc biết đến các trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước là
thực sự sử dụng các dịch vụ này. Con số này đối với các cơ sở của tư nhân là 59. Nhìn chung dưới 14 lao động di cư với mục đích tìm việc là thực sự sử dụng các
dịch vụ việc làm. Kết quả trên phần nào phản ánh vai trò yếu kém của các cơ sở giới thiệu việc làm, mặc dù có những đòi hỏi khơng nhỏ về chun mơn, trình độ,
bằng cấp mà khơng phỉa lao động di cư nào cũng có thể đáp ứng.

2.2.1.5. Thu nhập dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×