1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Thu nhập dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


Hình 2.9 cho thấy được sự thay đổi nghề nghiệp của người di cư theo số lần di chuyển, số lao động có chun mơn bậc cao hoặc bậc trung tăng từ 1.5 lần đầu di
chuyển lên 3 sau lần đầu di chuyển và lên tới 8 tại thời điểm khảo sát và tương tự như vậy số lao động di cư lao động có kĩ thuật cũng tăng nhanh chóng từ
8.5 đến 33 và 34.5. Bên cạnh đó, số lao động khác hay bao gồm lao động thất nghiệp thấp và có xu hướng tăng nhưng rất nhỏ từ 3-7. Kết quả này cho thấy tỉ lệ
có việc làm và hoạt động kinh tế khá cao của người di cư khoảng 97 những người di cư có sự thay đổi nghề nghiệp cao; bên cạnh đó, mức độ thăng tiến về
nghề nghiệp của người di cư khá cao 34 so với tỷ trọng tụt hậu về nghề nghiệp 7 theo TCTK, năm 2007. Có hơn một nửa là nam giới được thu hút vào làm
cho cá thểtiểu chủ sau khi di cư. Các loại hình kinh tế quan trọng khác là tư bản tư nhân, tập thể và nhà nước và cơ sở kinh doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Với người
di cư là nữ, 45 làm cho cá thểtiểu chủ nhưng có hơn một phần tư bắt đầu làm ở các cơ sở kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi.
Người di cư rất ít sử dụng các trung tâm giới thiệu việc làm. Chỉ có 56 người di chuyển để tìm việc biết đến các trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước là
thực sự sử dụng các dịch vụ này. Con số này đối với các cơ sở của tư nhân là 59. Nhìn chung dưới 14 lao động di cư với mục đích tìm việc là thực sự sử dụng các
dịch vụ việc làm. Kết quả trên phần nào phản ánh vai trò yếu kém của các cơ sở giới thiệu việc làm, mặc dù có những đòi hỏi khơng nhỏ về chun mơn, trình độ,
bằng cấp mà khơng phỉa lao động di cư nào cũng có thể đáp ứng.

2.2.1.5. Thu nhập dòng di cư từ nông thôn ra thành thị


Bảng 2.12 Thu nhập bình quân tháng của người di cư chia theo các đặc trưng cơ bản
Người di cư VND
Số lượng
Giới tính Nam
1.105.456 1978
Nữ 839.002
2474
Tình trạng đăng ký Khơng đăng ký
822.516 182
KT1 825.683
518 KT2
835.776 277
KT3 986.667
1404 KT4
998.595 2071
Trình độ học vấn Chưa đi họckhông biết đọc, biết viết
358.000 134
Tiểu học 733.453
455 Trung học cơ sở
870.308 2162
Trung học phổ thông 1.081.607
1381 Cao đẳngĐại học trở lên
1.579.016 320
Nguồn: Chất lượng cuộc sống người di cư, TCTK, năm 2004 Có bốn loại cư trú là KT1, KT2, KT3, KT4 được xếp trong bảng, đây là hệ
thống xác lập các quyền cư trú của người dân và được áp dụng cả ở nông thôn và thành thị trong hệ thống đăng kí hộ khẩu của Việt Nam.
KT1 - Người đăng ký hộ khẩu tại quậnhuyện nơi đang sinh sống. KT2 - Người không đăng ký hộ khẩu tại quậnhuyện nơi đang sinh sống nhưng đã
được đăng ký tại quậnhuyện khác trong cùng một tỉnhthành phố. KT3 - Người có đăng ký tạm trú trong khoảng thời gian 6 tháng hoặc dài hơn.
KT4 - Người có đăng ký tạm trú trong thời gian dưới 6 tháng. Ngoài ra còn một dạng người di cư khơng có đăng ký hộ khẩu tại nơi chuyển
đến. Nhìn chung nhóm KT3 và KT4 là di cư tự phátkhông được nhà nước tổ chức hoặc bảo trợ, kiểm soát số người di cư dạng KT4 rất khó khăn và hầu hết các số
liệu di cư về nhóm này chưa được tính tốn đầy đủ vì chúng phụ thuộc vào việc đăng ký nhà trọkhách sạn với công an.
Theo bảng 2.12, những người di cư thuộc diện KT4 và KT3 kiếm được nhiều tiền hơn người dân KT1 và KT2: thu nhập trung bình tháng của người KT4 là 998.595đ
một tháng, KT3 là 986.667đ một tháng và KT2 là 835.776đ một tháng, KT1 là 825.683đ một tháng và không đăng ký là 822.516đ một tháng. Có thể giải thích là
hầu hết những người thuộc diện KT4 và KT3 đang sống và làm việc ở khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ.
Người di cư là nam thu nhập bình quân tháng là 1.105.000đ kiếm được nhiều hơn nữ 839000đ. Về trình độ học vấn, người di cư khơng đi học có thu nhập rất thấp
vì họ chỉ có thể làm những cơng việc lao động giản đơn là 839.000đ một tháng so với những người di cư dù chỉ có học vấn thấp 733.000đ một tháng của người
học xong tiểu học và những người có trình độ cao nhất kiếm được trung bình là 1.579.016đtháng hoặc gấp 4 lần người không đi học.
Xét thêm bao gồm các yếu tố khác như: nhóm tuổi, tình trạng hơn nhân, dân tộc, nghề nghiệp... thì thu nhập bình quân tháng của người di cư 957.000đ thấp hơn
thu nhập bình qn tháng của người khơng di cư 1.212.000đ tức là thấp hơn khoảng 21. Nguyên nhân là do người di cư chủ yếu là lao động phổ thông, chưa
được qua đào tạo kỹ năng và chấp nhận làm những công việc với mức lương thấp; hơn nữa người di cư yếu thế hơn trong sự thỏa hiệp để có được việc làm bởi vì họ
rất cần việc để ổn định cuộc sống hơn là những người sở tại. Có thể nói, khoảng 71 người di cư cho rằng thu nhập sau khi di cư đến thành
phố của họ cao hơn thu nhập kiếm được ở nông thôn nhưng thu nhập cao hơn nhưng giá cả và chi phí trang trải cho cuộc sống đòi hỏi ở thành phố cũng cao hơn.
Thu nhập và tiền tiết kiệm là một trong những lý do chủ yếu dẫn đến quyết định di cư, mặc dù đối với lao động di cư cho biết mức thu nhập hàng tháng không đều và
thấp hơn so với tình hình thu nhập trung bình của người không di cư là 21. Tuy nhiên lao động di cư vẫn tiết kiệm để gửi tiền về nhà vì đây là nghĩa vụ và bổn phận
của họ và số tiền tiết kiệm này đôi khi rất thấp và điều này làm cho cuộc sống của người di cư càng khó khăn thêm.
2.2.2 Những tác động của dòng di cư nông thôn ra thành thị tới các mặt đời sống kinh tế xã hội nói chung

2.2.2.1. Những ảnh hưởng tích cực tới dòng di cư nơng thơn – thành thị


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×