1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Những ảnh hưởng tích cực tới dòng di cư nơng thơn – thành thị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


học xong tiểu học và những người có trình độ cao nhất kiếm được trung bình là 1.579.016đtháng hoặc gấp 4 lần người không đi học.
Xét thêm bao gồm các yếu tố khác như: nhóm tuổi, tình trạng hơn nhân, dân tộc, nghề nghiệp... thì thu nhập bình quân tháng của người di cư 957.000đ thấp hơn
thu nhập bình quân tháng của người không di cư 1.212.000đ tức là thấp hơn khoảng 21. Nguyên nhân là do người di cư chủ yếu là lao động phổ thông, chưa
được qua đào tạo kỹ năng và chấp nhận làm những công việc với mức lương thấp; hơn nữa người di cư yếu thế hơn trong sự thỏa hiệp để có được việc làm bởi vì họ
rất cần việc để ổn định cuộc sống hơn là những người sở tại. Có thể nói, khoảng 71 người di cư cho rằng thu nhập sau khi di cư đến thành
phố của họ cao hơn thu nhập kiếm được ở nông thôn nhưng thu nhập cao hơn nhưng giá cả và chi phí trang trải cho cuộc sống đòi hỏi ở thành phố cũng cao hơn.
Thu nhập và tiền tiết kiệm là một trong những lý do chủ yếu dẫn đến quyết định di cư, mặc dù đối với lao động di cư cho biết mức thu nhập hàng tháng không đều và
thấp hơn so với tình hình thu nhập trung bình của người khơng di cư là 21. Tuy nhiên lao động di cư vẫn tiết kiệm để gửi tiền về nhà vì đây là nghĩa vụ và bổn phận
của họ và số tiền tiết kiệm này đôi khi rất thấp và điều này làm cho cuộc sống của người di cư càng khó khăn thêm.
2.2.2 Những tác động của dòng di cư nơng thơn ra thành thị tới các mặt đời sống kinh tế xã hội nói chung

2.2.2.1. Những ảnh hưởng tích cực tới dòng di cư nơng thơn – thành thị


Di dân là một sự lựa chọn cuộc sống và chiến lược sinh kế. Thu nhập thấp và mang tính mùa vụ trong nông nghiệp, nhu cầu về nguồn lao động trong các khu
công nghiệp và các trung tâm thương mại - dịch vụ đã thúc đẩy những người nông dân phân công lao động trên nhiều địa bàn khác nhau nhằm giảm thiểu rủi ro.
Nguồn sinh kế theo nhiều chiều và đa dạng bởi thông qua di dân các thành viên trong hộ cùng nhau đóng góp và chia sẻ thu nhập chung. Theo phương thức đó, tiền
do các thành viên đi làm ăn xa gửi về không phải là một kết quả ngẫu nhiên do mỗi thành viên thực hiện mà là một bộ phận hợp thành trong chiến lược sống của các hộ
nông dân nghèo. Động cơ di dân không phải là kiếm thêm thu nhập hàng ngày mà còn có tích luỹ để đầu tư cho gia đình ở nơng thơn, có 71 những người di cư được
hỏi cho rằng thu nhập của họ cao hơn trước. Những cơ hội đa dạng hóa sản xuất nơng nghiệp và ngành nghề phi nông là rất
hạn chế, tiền gửi về thường đóng góp một phần cơ bản vào thu nhập của gia đình, được kết hợp với thu nhập tiền mặt hay bằng hiện vật từ những công việc nhà nông.
Tiền gửi về có ảnh hưởng rất lớn đối với thu nhập của hộ gia đình ở quê và rất cần thiết trong việc trang trải nợ nần, đóng tiền học cho con cái và chi phí đau ốm của
người thân, cũng làm giảm nhu cầu mua bán gạo của nông dân khi phải chi tiêu tiền mặt và do đó đảm bảo an ninh lương thực cho các gia đình nơng thơn.
Hình 2.10 Lượng tiền gửi về nhà 12 tháng trước phân theo giới tính
Đơn vị: Đồng
10 20
30 40
50 60
70 80
90 100
Nam Nữ
từ 6000.000 - 11.999.999đ từ 1000.000 - 5.999.999đ
từ 500.000 - 999.000đ 500.000đ
Nguồn: Di cư nội địa, xu thế hiện tại, UNFA, năm 2007 Từ hình 2.10 có thể thấy 70 lao động di cư gửi về nhà từ 1 triệu – 5 triệu trong
một năm và số tiền này được sử dụng chủ yếu cho các chi tiêu sinh hoạt hàng ngày, chi cho học hành với các khoản đóng góp ngày một nhiều và gia tăng.
Hình 2.11 Các cách sử dụng chính đối với tiền do lao động nhập cư gửi về
Đơn vị:
10 20
30 40
50 60
70 80
Sinh hoạt hàng ngày Học hành
Làm nghề nông Kinh doanh và buôn bán nhỏ
Ma chay, cưới hỏi Nhà cửa
Nguồn: Bảo trợ xã hội các nhóm thiệt thòi ở Việt Nam, năm 2005 Những khoản thu nhập được lao động di cư dành dụm về là lượng tiền mặt được
rót trực tiếp vào nền kinh tế nơng thơn, trong đó chi cho sinh hoạt hàng ngày chiếm tới 67. Các hộ gia đình sẽ khơng có đủ tiền mặt để trang trải cho các chi tiêu học
hành và khám chữa bệnh khi đau ốm nếu như khơng có sự hỗ trợ về tiền mặt này, số tiền gửi về chiếm đáng kể trong thu nhập trong thu nhập bằng tiền của nông hộ.
Mặc dù nguồn trợ giúp này tự nó có thể không đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của tồn bộ gia đình song khi góp chung với thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật khác thì
hộ gia đình sẽ đỡ khó khăn, rủi ro hơn. Do đó, những rào cản nhằm hạn chế di cư có tác dụng hạn chế lợi ích mà di cư đem lại, vơ hình chung gây khó khăn cho việc
thực hiện mục tiêu xố đói giảm nghèo và ảnh hưởng tới cuộc sống của gia đình ở nơng thơn.
Bên cạnh đó, q trình di cư còn đem lại các lợi ích khác cho người di cư như: nâng cao tay nghề, được tiếp cận với công nghệ hiện đại, cách làm việc mới, cải
thiện sức khoẻ do dịch vụ y tể ở thành thị cung cấp sẵn có và tốt hơn, cải thiện mơi trường giáo dục cho con cái…
Hình 2.12 Đánh giá mức độ hài lòng của người di cư theo các tiêu chí khác nhau
Đơn vị:
10 20
30 40
50 60
70 80
90
Điều kiện làm việc
Thu nhập Kĩ năng
Giáo dục trẻ em
Nhà ở Chăm sóc
sức khoẻ Mơi
trường
Nguồn: Di cư nội địa, xu thế hiện tại, UNFA, năm 2007 Có thể nói, trong các tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng của người di cư sau khi
nhập cư ở nơi ở mới thì hơn 80 đều hài lòng với thu nhập và điều kiện làm việc mới và chỉ có 13 người di cư cho rằng điều kiện làm việc và thu nhập của họ là
như cũ, 4 tổng số người di cư cho rằng thu nhập của họ thấp hơn nhiều. 48 người di cư cho rằng kĩ năng làm việc của họ đã được cải thiện và con số này cao
hơn ở những người di cư trẻ tuổi; 59 trẻ em di cư độ tuổi đi học cho rằng điều kiện giáo dục của trẻ em tốt hơn, điều này dễ hiểu vì ở thành phố cơ sở vật chất và
hạ tầng phục vụ cho giáo dục tốt hơn nhiều so với nơng thơn. Người di cư cho rằng họ có điều kiện chăm sóc sức khoẻ tốt hơn chiếm 48 và 48 trong tổng số họ
hài lòng với mơi trường sống, 20 cho rằng môi trường của họ xấu đi. Đặc biệt, số người hài lòng về nhà ở chỉ có 35 và 37 cho rằng nơi ở của họ xuống dốc nhiều,
đây là vấn đề cần phải giải quyết trong ổn định cuộc sống của người di cư. Có thể nói, 82 người di cư cho rằng cuộc sống của họ tốt hơn rất nhiều hay họ thoả mãn
với cuộc sống của nơi ở mới, 9 đánh giá rằng cuộc sống của họ như cũ và 9 cho rằng cuộc sống của họ.

2.2.2.2. Những tác động tiêu cực của dòng di cư nông thôn – thành thị


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×