1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Thời kì hạn chế dòng di cư

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


năm 2006 ở tám xã đồng bằng Sông Hồng và Đơng Nam Bộ và Đồng bằng sơng Cửu Long thì nhiều vùng gần như khơng còn lao động dưới 40 tuổi.

2.3. CÁC CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRƯỚC THỰC TẾ DỊNG DI CƯ


Với mỗi giai đoạn phù hợp, chính sách và quan điểm của Việt Nam với dòng di cư từ nơng thơn ra thành thị có sự thay đổi đáng kể theo từng thời kì, có thể nói tóm
lại sự thay đổi đó thể hiện ở chỗ từ khơng cơng nhận, tìm cách hạn chế sang nới lỏng và cuối cùng là chấp nhận dòng di cư như một tất yếu của quá trình phát triển
và tạo điều kiện hỗ trợ cho người di dân.

2.3.1. Thời kì hạn chế dòng di cư


Trước năm 1986, các chính sách liên quan đến di dân và di chuyển lao động vào đô thị đều nhằm mục tiêu hạn chế tối đa các dòng di chuyển này, đặc biệt là các đơ
thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Những đối tượng được di chuyển vào thành phố phải được phân bố theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước hay chính quyền địa
phương hoặc phải thoả mãn những tiêu chuẩn nhất định được quy định trước. Về hình thức, chủ yếu là tuyển dụng lao động hoặc thuyên chuyển công tác trong khu
vực kinh tế nhà nước. Có thể nói, những người được phép di chuyển và làm việc tại các đơ thị phải có trình độ chun mơn nhất định và có lý do chuyển hợp lý. Trước
năm 1986, hầu hết các cuộc di dân ở Việt Nam là di dân có tổ chức; đó là các cơ quan nhà nước, các xí nghiệp tuyển dụng, điều động cán bộ và tổ chức các chương
trình di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới; lúc đầu được tiến hành ở miền Bắc và sau giải phóng thì được triển khai toàn quốc. Mục tiêu là giảm áp lực dân số ở vùng
đồng bằng Bắc Bộ và duyên hải miền Trung; hạn chế gia tăng dân số ở thành phố, thị xã và các thành phố lớn; phân bố lại dân số trong nội tỉnh, huyện; gắn công tác
điều động lao động và dân cư với củng cố an ninh quốc phòng…Với mục tiêu như vậy, nhà nước đã đề ra chiến lược phân bố hợp lý giữa lao động và tài nguyên đất
đai, từ đó hướng vào việc xây dựng và phát triển bền vững các vùng kinh tế mới. Nhìn chung, các cuộc di dân này đều do nhà nước tài trợ và thuộc loại hình di dân
có tổ chức. Trong quá trình này, nhà nước đã đề ra hàng loạt chính sách hỗ trợ đối với những cá nhân di chuyển, với cộng đồng dân cư nơi đến cũng như cộng đồng
dân cư nơi đi và làm cho sự nghiệp di dân này đạt được những thành công đáng khích lệ. Bên cạnh đó, các biện pháp hành chính và kinh tế đã được thiết kế và thực
thi giúp cho việc kiểm sốt di dân vào đơ thị có hiệu quả thơng qua chế độ quản lý nghiêm ngặt về hộ khẩu, phân phối nhà ở, phân phối lương thực và thực phẩm cũng
như các nhu yếu phẩm khác đã hạn chế tối đa số lượng người nhập cư vào đơ thị. Các chính sách này đã tác động giảm qui mô và cường độ di dân vào các đơ thị.

2.3.2. Thời kì nới lỏng việc di cư nông thôn ra thành thị


Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×