1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Thời kì nới lỏng việc di cư nơng thơn ra thành thị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (722.89 KB, 105 trang )


có tổ chức. Trong q trình này, nhà nước đã đề ra hàng loạt chính sách hỗ trợ đối với những cá nhân di chuyển, với cộng đồng dân cư nơi đến cũng như cộng đồng
dân cư nơi đi và làm cho sự nghiệp di dân này đạt được những thành cơng đáng khích lệ. Bên cạnh đó, các biện pháp hành chính và kinh tế đã được thiết kế và thực
thi giúp cho việc kiểm soát di dân vào đơ thị có hiệu quả thơng qua chế độ quản lý nghiêm ngặt về hộ khẩu, phân phối nhà ở, phân phối lương thực và thực phẩm cũng
như các nhu yếu phẩm khác đã hạn chế tối đa số lượng người nhập cư vào đơ thị. Các chính sách này đã tác động giảm qui mô và cường độ di dân vào các đơ thị.

2.3.2. Thời kì nới lỏng việc di cư nơng thơn ra thành thị


Từ thời kì năm 1986 đến nay, Nhà nước đã thông qua các quy định mới về công tác phân bổ lao động, dân cư xây dựng vùng kinh tế mới đã đánh dấu bước ngoặt
mới trong công tác di dân xây dựng vùng kinh tế mới, đổi mới cách làm, cách tổ chức thực hiện. Đó là các chương trình di dân nơng nghiệp của Chính phủ được
thực hiện theo các dự án phát triển nhằm mục tiêu nâng cao tính hiệu quả, gắn di dân với qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội và địa phương. Còn về phía các
dòng di cư tự do, vào thời gian từ năm 1986-1996, dòng di dân này phát triển càng mạnh mẽ. Nguyên nhân là vì: tác động mạnh mẽ của những đổi mới trong cơ chế
khốn trong nơng nghiệp, người nơng dân đã được trao quyền sử dụng đất dẫn đến tăng năng suất lao động và tăng thời gian nhàn rỗi trong nơng nghiệp; đồng thời
việc xóa bỏ chế độ bao cấp đặc biệt trong phân phối lương thực và sử dụng, tiếp cận các dịch vụ xã hội; sự hình thành và phát triển các khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra
nhiều cơ hội và việc làm mới hấp dẫn những người từ nông thôn đến thành phố. Không những vậy, sự tăng cường các mối liên kết, trợ giúp và thông tin giữa các
vùng đã giảm bớt những rào cản pháp lý và chi phí đối với sự di chuyển. Trong thời gian này, mỗi năm dân số Hà Nội tăng thêm khoảng 55000 người, trong đó di dân là
22000 người chiếm 40, số đến Hà Nội gấp 5 lần số ra khỏi Hà Nội; khảo sát những người nhập cư ở Hà Nội thời kỳ 1986-1990 cho thấy 83 số di dân khơng có
hộ khẩu thường trú, bình quân mỗi năm dân số Hà Nội tăng lên khoảng 550000 người trong đó di dân là 22000 người chiếm 40; còn Thành phố Hồ Chí Minh
năm 1996 có 4.8 triệu dân - có số dân lớn nhất cả nước, hàng năm dân số tăng thêm từ 100000 – 120000 trong đó khoảng một nửa là tăng cơ học. Có thể nói, đổi mới
đại diện cho “một sự dịch chuyển cơ cấu từ hệ thống kinh tế tập trung trừ trung ương sang một nền kinh tế thị trường, cho thấy sự tăng lên của việc thương mại hóa
lao động có đầu tư tài chính là một yếu tố chính giải phóng cho lực lượng lao động nông thôn và thúc đẩy họ rời bỏ nông thôn”. Hơn nữa, nền kinh tế thị trường đã tạo
ra sự hấp dẫn về kinh tế của từng vùng mà lợi thế thuộc về đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh với khoảng 23 tổng số vốn đầu tư tập trung vào các thành
phố này đã làm gia tăng mức sống cũng như cơ hội việc làm giữa thành thị và nơng thơn, từ đó thúc đẩy dịch chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị với qui mô
ngày càng tăng. Trước năm 1990, những dòng di cư đến thành phố lớn được kiểm sốt chặt chẽ
thông qua hệ thống hộ khẩu, quy định này gần giống như quy định hộ khẩu ở Trung Quốc nhằm mục đích kiểm sốt sự di chuyển dân cư đặc biệt là di chuyển tự do vào
thành phố, sự kiểm sốt di dân thời gian đó rất có hiệu quả vì nó gắn liền với sự bao cấp của nhà nước và chế độ tem phiếu. Hộ khẩu là một trong những biện pháp
chính trong thời kì này để quản lý dân cư nói chung và quản lý người di dân nói riêng; hộ khẩu cùng với lý lịch - bản thông tin tiểu sử cá nhân và các hoạt động của
các nhân và hộ tịch - bản ghi chép ngày sinh, ngày mất và ngày kết hôn, dân tộc, tôn giáo và nghề nghiệp của tất cả các thành viên của từng hộ gia đình được thiết kế để
quản lý sự di chuyển của người dân và hạn chế hoạt động của các bè phái đối lập. Hộ khẩu là số lượng người thường trú trong một hộ gia đình, nhân khẩu là người
trong một hộ, một địa phương, một quốc gia. Ở nước ta, nhân khẩu được chia thành 4 đối tượng sau: nhân khẩu KT1: là những người đăng ký cư trú thường xuyên tại
địa phương thường trú; nhân khẩu KT2: là những người đăng ký thường trú ở một nơi nhất định song lại thường xuyên ở một khác; nhân khẩu KT3: là những người
không hoặc chưa đăng ký thường trú ở một nơi nào cả mặc dù đã có nơi ở ổn định; nhân khẩu KT4: là những người ở nơi khác đến học tập, lao động tự do theo thời
vụ, có chỗ ở không ổn định khi hết thời gian học tập hoặc hết hợp đồng lao động,
hoặc khi đến thời vụ lại trở về nơi cư trú thường xuyên của mình. Tuy nhiên, hộ khẩu còn giúp tạo ra sự liên hệ giữa nhận diện và sự tiếp cận các quyền lợi, sự tuyển
dụng và các dịch vụ ví dụ: phân chia khẩu phần và những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu. Người dân đi lại trong nước phải được các cơ quan đang công tác đồng ý và
phải được công an địa phương xác nhận. Sau đó sẽ được đóng dấu ngày đến và ngày đi của chuyến đi tại điểm đến, mẫu đơn này sau đó được nộp cho cơ quan và
gửi lại cho cơ quan cơng an để đóng dấu xác nhận lần cuối. Quá trình này tạo điều kiện cho dân chúng di chuyển tới những vùng kinh tế mới và đồng thời ngăn chặn
sự phát triển dân số của thành thị. Biện pháp này đã đạt được nhiều mục đích trong chính sách di cư của nhà nước. Tuy nhiên, với việc giới thiệu những cải cách hành
chính và xóa bỏ tập thể hóa tiến trình đổi mới đã làm thay đổi đáng kể vai trò và tầm quan trọng của hệ thống hộ khẩu. Trên thực tế, hệ thống này đã khơng xóa bỏ
được di dân tự phát và nhu cầu “chạy hộ khẩu” thành phố, nó chỉ làm tăng thêm chi phí cho những người muốn di cư. Trong giai đoạn này, sự thay đổi mạnh mẽ do tác
động của những đổi mới cơ chế chính sách kinh tế và sự nới lỏng trong việc kiểm sốt hệ thống di cư tự do từ nơng thôn ra thành thị đã làm cho số người nhập cư vào
thành phố trong giai đoạn này gia tăng đột biết về số lượng so với thời gian trước đó.
2.3.3. Thời kì chấp nhận dòng di cư và tạo điều kiện hỗ trợ cho người nhập cư
Một đặc trưng nổi bật của quá độ thị trường là sự gia tăng quy mô di cư và biến động dân cư, phản ánh thực trạng nghèo đói ở nơng thơn và nhu cầu sức lao động ở
thành thị. Đói nghèo của Việt Nam tập trung sống chủ yếu ở nông thôn bởi vì phần lớn người nghèo sống trong khu vực này, sự hối thúc lao động từ nông thôn ra thành
thị biểu lộ sự trì trệ của khu vực nơng nghiệp truyền thống. Trong đó, thiếu nguồn thu nhập ổn định và tình trạng mất đất được xem là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
đói nghèo ở nơng thơn. Một khi có các cơ hội thì luồng di cư lao động tạm thời tới các khu trung tâm đô thị và trở thành chiến lược phổ biến để tăng thu nhập cho gia
đình của họ. Tác động của số lượng người nhập cư vào thành phố lớn như hiện nay
ảnh hưởng không nhỏ tới các mặt đời sống kinh tế xã hội ở thành thị và bản thân cuộc sống của người di cư nói chung, đó là tạo ra sự ép lớn về hệ thống dịch vụ, cơ
sở hạ tầng và nhà ở cho dân chúng đối với chính quyền đô thị, sự rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn trong cuộc sống khó khăn ở thành thị mà người di cư đang phải đối mặt.
Trái lại, không thể phủ nhận vai trò tích cực của di dân trong việc tăng thu nhập cho cá nhân và góp phần điều chỉnh lại sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và
thành thị, họ đã trở thành nguồn nhân lực không thể thiếu trong thị trường dịch vụ đa dạng ở đơ thị, góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của các trung tâm đô thị và
công nghiệp. Theo Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật lao động, di dân là một hiện tượng tự nhiên, hợp qui luật và phù hợp với quyền tự do cư trú, di chuyển và tìm
việc làm của người lao động. Do đó, vấn đề di dân và di chuyển lao động tự do là vấn đề kinh tế, xã hội phức tạp cần được giải quyết trên cơ sở thừa nhận thực tế
khách quan của cơ chế thị trường và quyền tự do di chuyển, cư trú, tìm việc làm của cơng dân.
Đói nghèo và di cư khơng phải là hiện tượng mới mẻ ở Việt Nam. Nhưng vấn đề bảo trợ xã hội và các chính sách hỗ trợ cho cuộc sống của người di cư ở khu công
nghiệp và đô thị lớn mới chỉ được đặt ra gần đây. Cùng với q trình đơ thị hóa chóng mặt, nỗi e ngại dân số nông thôn sẽ tràn vào thành phố trở thành cơ sở cho
việc hình thành các biện pháp hạn chế, trực tiếp hoặc gián tiếp, lượng người nhập cư đến thành phố lớn. Những biện pháp này được dựa trên qui định về đăng kí hộ
khẩu loại hình đăng kí KT1, KT2, KT3, KT4 như đã trình bày ở trên; việc phân loại này mặc dù có thể làm cho công tác quản lý của địa phương dễ dàng hơn nhưng
nó cũng tạo ra những rào cản có ảnh hưởng đến phúc lợi và sự ổn định của một bộ phận dân cư. Để giải quyết vấn đề này, vừa qua chính phủ ban hành Nghị định số
1082005NĐ-CP ngày 1982005 về việc bổ sung, sửa đổi một số điều của Nghị định số 51CP ngày 1051997 về đăng ký và quản lý hộ khẩu và Thông tư số
112005TT-BCA-C11 ngày 7102005 hướng dẫn thi hành một số điều của hai Nghị định nói trên trên tinh thần mở rộng về điều kiện đăng kí hộ khẩu thường trú
tại các đô thị, nhất là các thành phố lớn trực thuộc trung ương. Thông tư 11 của Bộ
Công an quy định, khi đăng kí hộ khẩu tại nơi chuyển đến, người dân chỉ phải xuất trình CMTND và giấy tờ đăng kí nhà ở, đất ở, hợp đồng lao động…Cơ quan đăng
ký hộ khẩu phải có bố trí cán bộ có năng lực, trình độ, phẩm chất tốt để giải quyết đăng ký hộ khẩu, nếu chưa đủ thủ tục thì phải hướng dẫn cho dân. Về thời hạn giải
quyết hộ khẩu cho người dân, Thông tư quy định không được quá 10 ngày làm việc đối với Thành phố, thị xã, và 15 ngày đối với khu vực khác, kể từ ngày cơ quan
Công an tiếp nhận được hồ sơ, nếu có vướng mắc phát sinh thì khơng được kéo dài quá 10 ngày; do vậy thời hạn tối đa để dân được cấp hộ khẩu nơi ở mới tại Thành
phố, thị xã chỉ còn 20 ngày. Đặc biệt, trường hợp đăng ký về Thành phố trực thuộc Trung ương cần có thêm giấy đăng ký tạm trú có thời hạn hoặc xác nhận của Công
an sở tại. Những quy định mới về chuyển hộ khẩu khi chuyển hộ khẩu không cần đến giấy chấp nhận của nơi sẽ đến, đăng ký hộ khẩu cho gia đình có con dưới 18
tuổi hay về nhà ở, đất chưa có sổ đỏ - các điều kiện về nhà ở để xét cho hộ khẩu cũng thơng thống hơn. Những điều này tạo điều kiện cho những người di cư khi
chuyển đến thành phố lớn phần nào dễ dàng hơn trong việc đăng ký hộ khẩu cho các cơ quan chính quyền địa phương nơi sở tại.
Một hiện tượng kinh tế - xã hội nổi cộm là di dân tới đô thị và khu cơng nghiệp trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được coi như là một hiện
tượng tất yếu. Dù những dòng di cư này có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của nơi đến nhưng thực tế cho thấy cuộc sống của người di cư gặp nhiều khó
khăn về các mặt nhà ở, học tập, tái tạo sức lao động, đăng ký hộ tịch, hộ khẩu…mà trong đó phần nguyên nhân là do cơ chế chính sách chưa kịp đổi mới so với tốc độ
phát triển kinh tế xã hội. Trong đó, nhà nước đã có một số các cải tiến, thay đổi trong chính sách để cải thiện điều kiện sống và điều kiện tiếp cận với các dịch vụ xã
hội của các dòng di cư đặc biệt tại các khu đô thị và công nghiệp như: Trước hết là hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến nhập cư vào các đô thị và công nghiệp
bao gồm: Một là, quy định pháp luật về hộ khẩu, hộ tịch với người di cư bao gồm về hộ khẩu, về hộ tịch. Hai là, pháp luật về quy định chăm sóc sức khỏe với người
di cư. Ba là, pháp luật quy định về giáo dục và dạy nghề với người di cư. Bốn là,
pháp luật về xây dựng nhà ở và đất đai với người di cư. Năm là, pháp luật về dịch vụ, chính sách có tính cộng đồng với người di cư. Sau đó là các quy định về đảm
bảo quyền và nghĩa vụ của những người di cư, thực hiện các quyền cơ bản của người di cư bao gồm: quyền lợi chính trị, quyền và nghĩa vụ lao động, quyền có nhà
ở, đất ở, quyền và nghĩa vụ về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, quyền hưởng thụ các dịch vụ điện nước, quyền hưởng thụ giáo dục, văn hóa, thể thao...Các quy định về
hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến người nhập cư vào các đô thị và khu công nghiệp nhiều là vậy nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế và khúc mắc trong lúc
thực hiện. Cụ thể như: pháp luật quy định chăm sóc sức khỏe với người di cư, thông tư số 022005 ngày 1062005 của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em hướng dẫn
cấp quản lý và sử dụng thẻ khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập được thực hiện theo nguyên tắc: trẻ em thực tế
thường trú tại địa phương nào thì Uỷ ban nhân dân xã, phường thị trấn nơi đó cấp thẻ khám, chữa bệnh. Quy định này có thật cần thiết khơng khi có mà có căn cứ
khẳng định trẻ em dưới 6 tuổi, còn việc cư trú ở đâu thì cũng đều được hưởng chế độ khám chữa bệnh không mất tiền. Pháp luật quy định về giáo dục và dạy nghề với
người di cư về chính sách hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở, quy định này làm cho những học sinh thuộc đối tượng được trợ cấp nhưng là con em
của người di cư đến đô thị và khu cơng nghiệp chưa có hộ khẩu thường trú sẽ khơng được hưởng quyền trợ cấp theo chính sách chung. Bên cạnh đó, pháp luật quy định
về lao động và việc làm của người di cư cũng quy định rằng phải có hộ khẩu thường trú tại địa phương nơi vay vốn và phải có xác nhận của chính quyền địa
phương thực hiện dự án, việc quy định như vậy đã tạo rào cản, gây khó khăn với người di cư đến đơ thị và khu cơng nghiệp có nguyện vọng vay vốn để phát triển
sản xuất nhưng chưa có hộ khẩu thường trú tại đó. Hơn nữa là còn rất nhiều khó khăn trong việc tìm việc làm vào các bộ phận thuộc địa phương với điều kiện có hộ
khẩu thường trú tại địa bàn thành phố, khó khăn trong việc hưởng thụ giáo dục, văn hóa và thể thao, khó khăn trong việc tiếp cận và tham gia các hoạt động khám chữa
bệnh và tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình hay phòng chống các bệnh truyền
nhiễm trong khi đó do phải mưu sinh vất vả và điều kiện ăn, ở không tốt nên tỷ lệ người di cư thường mắc các bệnh truyền nhiễm khá cao.
Nguyên nhân của những hạn chế: do nhận thức của các cấp các Bộ, ngành và chính quyền địa phương về vấn đề di cư chưa nhất quán, còn xem nhẹ sự đóng góp
của người di cư đối với xã hội; cơ chế phân bổ chính sách dựa trên dân số chính thức, mà dân số chính thức chỉ tính đến số người tạm trú từ 6 tháng trở lên; việc ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật không đồng bộ, không đi vào cuộc sống và gây bức xúc cho người dân nói chung và người di cư nói riêng; việc tổ chức thực
hiện chính sách, pháp luật nhiều bất cập như: tổ chức và tuyên truyền giáo dục cho người di cư về chính sách và pháp luật còn yếu, người di cư chưa có ý thức được
quyền và nghĩa vụ của cơng dân trong thực hiện chính sách, pháp luật cho nên kết quả thực hiện chính sách chưa cao, vai trò lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp chính
quyền đối với người di cư trong thực thi chính sách, pháp luật chưa cụ thể, thiếu sâu sát và còn quan lieu, mệnh lệnh và hành chính; vai trò của các đồn thể quần chúng
nhân dân chưa được phát huy trong đó cơng tác tun truyền giáo dục người di cư ý thức đối với trách nhiệm và thực hiện quyền với pháp luật còn nhiều hạn chế.
Có thể nói, với tình hình di cư từ nơng thôn ra thành thị ở Việt Nam trong giai đoạn hiện này thì chính sách ở Việt Nam cần được hiểu cả ở hai phía đó là cơ hội
lẫn thách thức của q trình di cư và đơ thị hố. Do vậy, Nhà nước Việt Nam rất cần một giải pháp lâu dài để có thể đạt được sự phát triển bền vững cả về kinh tế, xã
hội và văn hoá. Cơ bản nhất là phân phối đồng đều những quyền lợi ở thành phố chứ không phải nới rộng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, gắn di dân
với các chương trình xóa đói giảm nghèo, cơng nghiệp hóa nơng nghiệp nơng thơn để tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp hơn nữa bằng cách trang bị cho chính
người nơng dân kĩ năng làm việc hay tuy rằng “ly nông nhưng bất ly hương”. Hơn thế nữa, chính quyền phải đáp ứng những nhu cầu sống thiết yếu của người dân di
cư như giúp họ tiếp cận các cơ hội về nhà ở, việc làm, dịch vụ y tế, giáo dục.

Chương III : Các kiến nghị chính sách với dòng di cư từ nơng


thơn ra thành thị trong bối cảnh tồn cầu hố ở Việt Nam
3.1. XU HƯỚNG TỒN CẦU HĨA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI CỦA VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN DỊNG DI CƯ NƠNG
THƠN RA THÀNH THỊ
Ngày nay hội nhập quốc tế đang trở thành xu hướng phổ biến và nó nằm trong chiến lược phát triển của các quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong q trình tồn cầu hóa
và hội nhập đó, Việt Nam đang đứng trước rất nhiều cơ hội và thách thức. Sự gia nhập vào các tổ chức ASEAN, APEC, và WTO không chỉ đem lại lợi ích tăng
trưởng thương mại mà cả khả năng tiếp cận dễ dàng hơn với những nguồn vốn, công nghệ, thông tin cũng như kiến thức và kỹ năng quản lý. Trong xu thế đó, việc
dự báo dân số nói chung và di cư nói riêng là một cơng việc rất phức tạp cho nên để giản đơn, tác giả chỉ dự báo và đưa ra xu thế toàn cầu hóa và xem xét ảnh hưởng
của nó tới xu thế di cư nông thôn ra thành thị trên cơ sở suy luận dựa trên các lý thuyết sẵn có và thực tế kinh nghiệm của các quốc gia đi trước như Trung Quốc có
sự liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam. Trong xu thế hội nhập sâu hơn của Việt Nam, đặc biệt với sự kiện trở thành
thành viên của WTO năm 2006, bộ mặt kinh tế Việt Nam đã thay đổi rất nhiều, như đã phân tích ở mục trên, ảnh hưởng của q trình tồn cầu hóa và tiêu biểu là các
kênh tác động của nó tới làn sóng di cư nơng thơn ra thành thị là khơng hề đơn giản. Hội nhập sâu rộng hơn, tồn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ hơn thì áp lực cạnh tranh
cũng lớn hơn và kéo theo là sự thay đổi trong cơ chế, điều luật và tuân thủ các luật thương mại, đầu tư ngặt nghèo. Tồn cầu hóa và xu thế di cư nơng thơn ra thành thị
có thể hình dung dưới hai kịch bản là: một là, hội nhập càng sâu rộng trong điều kiện của Việt Nam hiện tại - mới vào giai đoạn đầu của q trình cơng nghiệp hóa
sẽ thúc đẩy q trình di cư nông thôn – thành thị mạnh mẽ hơn; hai là, sự thay đổi trong nhận thức và nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam quyết tâm đổi mới

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

×