1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (395.29 KB, 85 trang )


13 Nghị định 17HĐKT đã dẫn quy định cụ thể khung hình phạt riêng cho từng loại vi phạm hợp đồng.
3.2.2. Bồi thờng thiệt hại Bồi thờng thiệt hại là chế t ài vật chất đợc dùng nhằm mục đích bù đắp,
khôi phục lại những thiệt hại thực tế về tài sản cho bên bị vi phạm. Nguyên tắc của bồi thờng thiệt hại là bồi thờng toàn bộ những thiệt hại và những thu nhập
bị bỏ lỡ mà lẽ ra bên bị vi phạm có thể thu đợc do sự vi phạm hợp đồng kinh tế gây ra.
Căn cứ để phát sinh trách nhiệm bồi thờng thiệt hại khi có đủ các căn cứ cho luật định.
Theo quy định của chế độ hợp đồng kinh tế bên có hành vi vi phạm chỉ phải bồi thờng những thiệt hại thực tế xảy ra gồm giá trị tài sản bị mất mát, h
hỏng kể cả tiền lãi phải trả cho ngân hàng; các chi phí cần thiết mà bên vi phạm phải trả; Các khoản thu nhập mà lẽ ra trong điều kiện bình thờng thì bên bị vi
phạm sẽ thu đợc tổng số tiền bồi thờng thiệt hại không thể cao hơn giá trị tổn thất và hoa lợi đáng lẽ đợc hởng.

4. Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế


Theo quy định tại điều 12, khoản 1 pháp lệnh thủ tuch giải quyết các vụ án kinh tế do Uỷ ban thờng vụ Quôc shội thông qua ngày 1631994 thì tranh
chấp hợp đồng kinh tế là những tranh chấp phát sinh giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh. Hay nói cách khác, là
những tranh chấp phát sinh giữa các be en chủ thể tham gia hợp đồng kinh tế. Đó là việc trong từng thực hiện hợp đồng kinh tế do một hay hai bên tham gia
hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ của mình đã cam kết trong hợp đồng dẫn đến những vi phạm hợp đồng. Những vi phạm hợp đồng kinh tế này là do lỗi
của bên vi phạm. Từ đó mà dẫn đến việc tranh chấp trong hợp đồng kinh tế. Tranh chấp hợp đồng kinh tế là một trong các dạng tranh chấp kinh tế do
dó nó có các phơng thức giải quyết sau: - Tự hoà giải thơng lợng là do tự chủ thể của các b ên tham gia hợp
đồng kinh tế tự giải quyết mà không có sự tham gia của ngời thứ ba. Có nghĩa là
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A 32
các bên trực tiếp gặp nhau để thơng lợng, thoả thuận để tìm ra biện pháp thích hợp nhắt nhằm giải quyết các bất đồng do việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp
đồng gây ra. Đây là phơng thức đơn giản không tốn kém và đặc biệt là đảm bảo đợc quan hệ hợp đồng giữa hai bên, đồng thời thể hiện tinh thần hợp tác, giữ uy
tín đảm bảo bí mật kinh doanh cho nhau trong hoạt động kinh doanh. Phơng thức này cũng phải căn cứ vào luật pháp, vào các sự việc cụ thể
xẩy ra trên cơ sở thiện chí của các bên. Hiện nay trong điều kiện nền kinh tế của nớc ta,phơng thức này đợc coi là phơng thức giải quyết phù hợp đối với các
tranh chấp hợp đồng kinh tế cũng nh các tranh chấp kinh tế khác. - Hoà giải: là phơng thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế với sự
hiện diện của ngời thứ ba với t cách là trung gian để giúp đỡ các bên thoả thuận. Với trình độ kinh tế chuyên môn, kỹ thuật và uy tín của ngời trung gian, nhờ đó
các bên tranh chấp trong hợp đồng có thể dung hoà đợc những lợi ích có tranh
chấp và thực hiện đợc việc hoà giải thành. - Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài: Đây là một phơng thức giải
quyết tranh chấp đợc pháp luật quy định, theo đó, thông qua hoạt động của trọng taif viên, việc tranh chấp hợp đồng kinh tế đợc giải quyết bằng một phán
quyết mà hai bên quan hệ hợp đồng có tranh chấp phải thực hiện. Đây là phơng
thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế mà các bên tham gia áp dụng khi việc giải quyết bằng phơng thức thơng lợng hoặc hoà giải không thành. Theo
phơng thức này, các bên đợc đảm bảo quyền tự do định đoạt nh: lựa chọn tổ chức trọng tài, lựa chọn trọng tài viên.v.v...
- Giải quyết tranh chấp bằng Toà án: Phơng thức này đợc quy định trong pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 1631994 là phơng
thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế do toà án tiến hành theo quy định
của pháp luật. Theo đó, Toà án nhân danh quyền lực Nhà nớc để ra một quyết định, hay bản án bắt buộc các bên tham gia hợp đồng kinh tế phải chấp hành
thực hiện. Việc áp dụng phơng thức giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế thờng
rất ít khi xẩy ra, trừ trờng hợp khi hai bên không thể thơng lợng, hoà giải hoặc
Nguyễn Đức Cảnh Lớp: Luật Kinh doanh 41A 33
không chấp nhận với phán quyết của trọng tài nếu giải quyết bằng phơng thức trọng tài thì mới đợc ra toà án để giải quyết. Hơn nữa, giải quyết bằng phơng
thức này thờng làm ảnh hởng không tốt đến quan hệ, uy tín và bí mật của hai bên.
Nh vậy, việc lựa chọn một trong các phơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế trên đây là quyền lựa chọn của các ben trong quan hệ hợp đồng kinh tế,
căn cứ vào tính chất, phục vụ, mức độ phức tạp và thiện chí của các bên tranh chấp.
Trong thực tế, các hợp đồng kinh tế đợc ký kết thì trong nội dung của hợp đồng, các bên đều thoả thuận đem vào hợp đồng một điều khoản về việc
giải quyết tranh chấp hợp đồng nhằm cho việc giải quyết nếu tranh chấp xẩy ra. Ví dụ, trong hợp đồng có quy định: Hai bên cam kết thực hiện các điều
khoản trong hợp đồng, mọi sự thay đổi trong hợp đồng đều phải đợc hai bên nhất trí bằng v ăn bản. Nếu không thống nhất sẽ đa ra Toà án kỹ thuật thành
phố Hà Nội giải quyết..... Đây là một trong các điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh
tế mà hai bên tham gia hợp đồng thoả thuận đa vào trong một hợp đồng cụ thể. Trên đây là những quy định của pháp luật về hợp đồng kinh tế và sau đây
là thực trạng áp dụng những quy định đó trong hợp đồng thuê nhà xởng tại công ty Quan hệ Quốc tế đầu t sản xuất CIRI.
Nguyễn Đức Cảnh Líp: LuËt Kinh doanh 41A 34
Chơng II Thực trạng ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế
áp dụng với việc thuê nhà xởng tại Công ty Quan hệ quốc tế - Đầu t sản xuất CIRI

I. Khái quát chung về Công ty Quan hệ quốc tế - Đầu t sản xuất CIRI


1. Sự hình thành của công ty 1.1. Xu hớng và mục tiêu của công ty
Việt Nam hiện nay nằm trong các quốc gia đang phát triển, do đó việc chuyển giao công nghệ từ các nớc công nghiệp phát triển về Việt Nam có rất
nhiều cơ hội vàlợi thế tạo ra lợi nhuận. Công ty Quan hệ quốc tế - Đầu t sản xuất CIRI luôn đặt mục tiêu tìm kiếm cơ hội đầu t và chuyển giao công nghệ
mới vào Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, cơ hội thực hiện việc chuyển giao công nghệ mới vào Việt Nam sẽ tạo ra lợi nhuận và sức phát triển cho doanh
nghiệp. Việc triển khai chuyển giao công nghệ vào Việt Nam đợc CIRI nghiên cứu
một cách khoa học: Công nghệ để chuyển giao công nghệ. Trên cơ sở thu thập đầy đủ dữ liệu tình hình về các mặt, phân tích tổng hợp, ra quyết định
chuyển giao công nghệ khi đảm b¶o hiƯu qu¶, lÊp kÝn rđi ro trong kinh doanh. CIRI luôn xác định không ngừng vơn lên và chấp nhận cạnh tranh lành mạnh
trong nền kinh tế thị trờng víi xu híng: NhÊt nghƯ tinh nhÊt thÊt vinh trong khu vực và quốc tế để chuẩn bị cho hội nhập kinh tế AFTA và WTO.
CIRI sẵn sàng hợp tác với các đối tác trong và ngoài nớc, luôn tìm ra tiếng nói chung với đối tác trên cơ sở bình đẳng, đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho mỗi
bên tham gia hợp tác sản xuất kinh doanh và cùng có lợi. Với sự mệnh và mục tiêu đó, Công ty Quan hệ quốc tế - Đầu t sản xuất
CIRI đã ra đời.
Nguyễn Đức Cảnh Líp: LuËt Kinh doanh 41A 35

Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (85 trang)

×